LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hoàn thiện chính sách xuất khẩu các sản
phẩm rau quả của Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Được
thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS.Doãn Kế Bôn,
cùng với sự tham khảo qua các tài liệu, tạp chí, sách báo, thông tư, báo cáo
khoa học, nghị định, đề án, internet…
Tôi xin cam kết luận văn được thực hiện trung thực, các số liệu kết quả
được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, trích dẫn rõ ràng.
Nếu phát hiện sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2015
Cao học viên
Nguyễn Xuân Trường
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn thạc sỹ, ngoài sự nỗ lực
cố gắng của bản thân, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên
giúp đỡ của thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ, giảng viên
của trường Đại học Thương mại đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học
tập chương trình thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Nhà trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS, TS Doãn Kế Bôn đã tận tình hướng dẫn
và có những ý kiến đóng góp giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các cơ quan, tổ chức, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều
nên luận văn còn có những điểm thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp
của thầy cô và tất cả mọi người.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2015
Cao học viên
Nguyễn Xuân Trường
22 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
23 UNECE Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên Hợp Quốc
24 USDA Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
25 MRLs Quy định về giới hạn tồn dư tối đa thuốc trừ sâu
26 NPPA Cơ quan bảo vệ thực vật
5
27 JAS
Luật về tiêu chuẩn và dán nhãn hàng nông lâm
sản của Nhật Bản
28 VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
29 VJEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
30 VIETGAP
Tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn theo hướng thực
hành nông nghiệp tốt
31 XTTM Xúc tiến thương mại
32 WB Ngân hàng thế giới
33 WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
1.1 Kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ trong những năm qua 30
1.2
Tiêu dùng rau quả hàng năm tại Hoa Kỳ,
2010 – 2014
31
1.3 Tiêu thụ bình quân đầu người một số loại quả ở Mỹ 32
1.4
Lượng tiêu thụ rau tươi tại EU
33
1.5
Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam vào Nga
DANH MỤC BIỂU
Biểu 1.1
Giá rau quả xuất khẩu sang Nhật Bản các tháng năm
2013 và 2014
36
7
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, diện mạo nước ta có nhiều thay đổi, thế và
lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình
thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức
đan xen rất phức tạp.Việt Nam đang tiến hành hội nhập với kinh tế quốc tế,
trong đó một trong những mục tiêu hàng đầu là tăng nhanh kim ngạch xuất
khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu. Xuất khẩu đã, đang và sẽ là mũi nhọn
trong Chiến lược hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nước ta.
Với điều kiện tự nhiên và khí hậu đa dạng, Việt Nam có lợi thế trong
canh tác và phát triển nhiều loại giống rau, quả khác nhau phục vụ nhu cầu thị
trường trong nước và xuất khẩu như chuối, vải, nhãn, dứa, chôm chôm, thanh
long, dưa chuột, cà chua, khoai tây… Những năm gần đây, kim ngạch xuất
khẩu rau quả liên tục tăng trưởng và đang hướng dần tới việc trở thành một
trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ngành nông nghiệp nước ta.
Kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta tăng theo từng năm. Trung Quốc là
thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại rau quả của Việt Nam, đứng sau Trung
Quốc là các thị trường như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hà Lan, Nga
Sau khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã có
những bước tiến khá dài với kim ngạch xuất khẩu rau quả.Trong những năm
- Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế, TS
Nguyễn Hữu Khải, Nhà xuất bản Lao động năm 2005.
- Chính sách xuất khẩu Nông sản của Việt Nam Lý luận và thực tiễn, do
TS Trịnh Thị Ái Hoa là chủ biên – 2007.
10
- Bảo hộ hợp lý nền Nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, do GS,TS Bùi Xuân Lưu chủ biên – 2004
- Nguyễn Thị Hoài Thanh (2011), Chính sách vượt rào cản kỹ thuật
cho rau quả xuất khẩu sang thị trường Nga và Đông Âu của Tổng công ty rau
quả, nông sản, luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Thương mại.
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đã nêu lên những đặc điểm của
các chính sách thương mại của Việt Nam, những chính sách áp dụng cho nông
nghiệp nông thôn, cho các sản phẩm nông sản, trong đó có sản phẩm rau quả.
Tuy nhiên, các công trình trên, có công trình thì nghiên cứu chung một cách
tổng thể rộng lớn về các chính sách đối với các hoạt động thương mại của
Việt Nam, có công trình lại nghiên cứu chỉ tập trung vào một chính sách cụ
thể và đưa ra giải pháp để hoàn thiện chính sách đó mà chưa chú ý đến nghiên
cứu một cách toàn diện các chính sách của Nhà nước dùng để thúc đẩy xuất
khẩu mặt hàng rau quả.
2.2. Điểm mới của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa một số lý luận về chính sách xuất khẩu rau
quả.
- Trình bày, phân tích và đánh giá thực trạng chính sách xuất khẩu rau
quả của Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp về hoàn thiện chính sách xuất khẩu các sản
phẩm rau quả của Việt Nam trong những thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận chung về chính sách xuất khẩu, tìm hiểu nội
dung và đánh giá thực trạng chính sách xuất khẩu rau quả; từ đó đưa ra một số
giải pháp góp phần đổi mới, hoàn thiện chính sách xuất khẩu rau quả của
12
những mặt được và chưa được của các chính sách đó. Từ đó, đề ra các giải
pháp để hoàn thiện các chính sách xuất khẩu còn thiếu sót.
Phương pháp thu thập dữ liệu: các dữ liệu thứ cấp được thu thập thông
qua các nguồn: báo cáo của các bộ - ngành có liên quan (Bộ Công Thương,
Bộ NNPTNT, Cục XTTM …), các niên giám thống kê hàng năm của Tổng
cục Thống kê, Tổng cục Hải quan; các văn bản của Đảng và Nhà nước (Nghị
quyết, Nghị định, Luật, Thông tư …), thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng (báo chí, truyền thanh, truyền hình …), thông qua các nguồn khác trên
mạng internet.
Phương pháp phân tích dữ liệu: Thông qua các số liệu được thu thập từ
các nguồn kể trên tác giả tiến hành thống kê số liệu, so sánh các số liệu.
Từ đó tiến hành phân tích các số liệu đó để đưa ra thực trạng về các
chính sách xuất khẩu rau quả của Việt Nam, những tồn tại, hạn chế,
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó để đưa ra các giải pháp hoàn
thiện chính sách xuất khẩu rau quả trong thời gian tới.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về chính sách xuất khẩu các sản phẩm rau
quả
Chương II: Thực trạng chính sách xuất khẩu các sản phẩm rau quả
của Việt Nam
Chương III: Giải pháp hoàn thiện chính sách xuất khẩu các sản phẩm
rau quả của Việt Nam
13
Chương I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM
RAU QUẢ
1.1. Khái niệm và vai trò của chính sách xuất khẩu các sản phẩm
quản lý lựa chọn thực hiện nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu mà họ xác
định cho hệ thống quản lý của mình.
Mọi tổ chức đều có chính sách riêng áp dụng trong phạm vi hoạt động
của mình. Như vậy, nếu căn cứ vào chủ thể ra quyết định chính sách, có thể
phân chia chính sách thành hai loại: chính sách công do các cấp chính quyền
trong bộ máy nhà nước ban hành và chính sách tư do các tổ chức không thuộc
bộ máy nhà nước ban hành.
Chính sách xuất khẩu các sản phẩm rau quả rõ ràng là một bộ phận của
chính sách công, nó khác biệt với các chính sách công khác ở đối tượng chính
sách. Xuất khẩu rau quả là lĩnh vực quan trọng, mang tính nhạy cảm cao, lại
có nhiều đặc điểm rất riêng so với các lĩnh vực hoạt động kinh tế khác. Do
vậy, đối với nhiều nước, trong đó có Việt Nam, những hoạt động về chính
sách trong lĩnh vực xuất khẩu rau quả được nhóm thành một chính sách riêng
và được gọi là chính sách xuất khẩu rau quả.
Chính sách xuất khẩu rau quả có thể được định nghĩa như sau:“Chính
sách xuất khẩu rau quả là một bộ phận của chính sách xuất nhập khẩu, là hệ
thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích
hợp mà chính phủ sử dụng để điều chỉnh các hoạt động xuất khẩu sản phẩm
rau quả sao cho phù hợp với định hướng đã định trong chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của đất nước”.
1.1.2. Mục tiêu và các công cụ của chính sách xuất khẩu
1.1.2.1. Mục tiêu:
Mục tiêu của chính sách là đích đến mà chính sách hướng tới. Một
chính sách được đề ra luôn nhằm vào mục tiêu nhất định. Nó thể hiện mong
15
muốn của Nhà nước trong việc phát triển hoạt động xuất khẩu sao cho phát
triển nhanh về kim ngạch, tỉ trọng và cơ cấu sản phẩm xuất khẩu.
Mục tiêu của chính sách xuất khẩu không nằm ngoài mục tiêu phát
triển kinh tế. Chính sách xuất khẩu định hướng cho hoạt động xuất khẩu phù
hợp với mục tiêu của Nhà nước theo đuổi, mục tiêu đó là khuyến khích hoạt
quan đặc thù như: hạn ngạch thuế quan, thuế đối kháng, thuế chống bán phá
giá …
- Công cụ phi thuế quan
+ Hạn ngạch: Là việc hạn chế số lượng đối với loại mặt hàng xuất hoặc
nhập khẩu thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch gồm có hạn ngạch
nhập khẩu và hạn ngạch xuất khẩu.
Hạn ngạch xuất khẩu quy định lượng hàng hóa lớn nhất được phép xuất
khẩu trong một thời gian nhất định. Thường thì khi sử dụng hạn ngạch xuất
khẩu là nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường hay bảo đảm an ninh
lương thực quốc gia mà thôi chứ không có ý nghĩa về kinh tế.
Hạn ngạch nhập khẩu quy định lượng hàng hóa lớn nhất được nhập
khẩu vào thị trường nào đó trong 1 năm. Khi sử dụng hạn ngạch nhập khẩu sẽ
có thể hạn chế được lượng hàng hóa nhập vào thị trường. Bảo vệ được những
ngành sản xuất non trẻ, chưa đủ điều kiện cạnh tranh trên thị trường quốc tế,
đồng thời tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộng sản xuất.
Tuy nhiên, việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu cũng sẽ làm giảm quyền lợi của
người tiêu dùng trong nước vì làm giảm lượng hàng nhập khẩu dẫn đến giá
hàng hóa cao hơn, cơ hội lựa chọn tiêu dùng cũng bị giảm đi.
+ Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật.
Tiêu chuẩn kỹ thuật là những tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm,
vệ sinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định về an toàn lao động, bao bì
đóng gói cũng như các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định về
tỷ lệ nguyên vật liệu nhất định trong nước để sản xuất một loại hàng hóa nào
đó.
17
Những quy định này xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của đời sống xã
hội nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và phản ánh trình độ phát triển
của văn minh nhân loại.
Về mặt kinh tế, những quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị
trường trong nước, hạn chế và làm thay đổi dòng vận động của hàng hóa trên
của điều kiện tự nhiên như thiên tai, hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh … sản lượng rau
quả cao hay thấp, chất lượng tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự
nhiên. Do đó mức độ rủi ro trong sản xuất rau quả là rất lớn, đôi khi không
thể tránh khỏi những tồn thất, thiệt hại. Mặt khác do sự khác biệt, không ổn
định về thời tiết, khí hậu giữa các vùng miền cũng như khả năng khắc phục
khó khăn về điều kiện tự nhiên của các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các địa
phương khác nhau dẫn đến việc có thể ở nơi này việc sản xuất rau quả gặp bất
lợi nhưng ở nơi khác việc sản xuất lại diễn ra thuận lợi đạt hiệu quả cao.Chính
vì vậy nếu một quốc gia hoặc một doanh nghiệp có thể khắc phục được tính
bất ổn về thời tiết thì không những hạn chế được rủi ro, tổn thất mà còn nâng
cao được hiệu quả trong sản xuất cũng như trong xuất khẩu.
- Các sản phẩm rau quả là sản phẩm hữu cơ nên rất dễ hư hỏng trong
thời gian ngắn nếu không được chế biến và bảo quản cẩn thận, gây ảnh hưởng
đến chất lượng rau quả, vì vậy cần phải áp dụng kỹ thuật để có thể bảo quản
lâu hơn. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc sản xuất cũng như xuất khẩu
rau quả. Để đảm bảo xuất khẩu rau quả đến các thị trường xa gần công tác
bảo quản, chế biến cần được quan tâm chú ý nhằm giữ hương vị của sản phẩm
mà vẫn đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Các sản phẩm rau quả là một trong các mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng thiết yếu hằng ngày, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu
dùng, trong khi đó rau quả cũng là mặt hàng sử dụng nhiều hóa chất công
nghiệp từ khâu gieo trồng đến khâu bảo quản. Mỗi loại rau quả có thời gian
sử dụng và khả năng chịu sự tác động từ môi trường bên ngoài khác nhau. Do
đó cần có biện pháp phù hợp để thu hoạch và bảo quản. Mỗi quốc gia nhập
khẩu rau quả có những rào cản về kỹ thuật, quy trình chế biến, tiêu chuẩn vệ
19
sinh…các tiêu chuẩn này nhằm bảo hộ nền sản xuất nông nghiệp trong nước
trước những sản phẩm từ nước ngoài tràn vào trong điều kiện toàn cầu hóa
như hiện nay, nó cũng nhằm mục đích tạo nên nguồn cung thực phẩm “sạch”
có lợi cho sức khỏe của người tiêu dùng.
giúp cho hoạt động xuất khẩu rau quả được tiến hành một cách tốt nhất. Điều
đó được thể hiện trong sự thống nhất cao độ giữa mục tiêu thực hiện và sự
phong phú đa dạng của các biện pháp thực thi chính sách.
- Chính sách xuất khẩu rau quả giúp khai thác và phát huy tiềm năng, lợi
thế so sánh về sản xuất – xuất khẩu rau quả của từng vùng, từng khu vực góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông nghiệp – nông thôn.
Chính sách xuất khẩu rau quả giúp khai thác nguồn lực đất đai, lao
động dồi dào, chưa được sử dụng hết, khai thác những điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau quả nói riêng.
Qua đó, sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế khu vực nông nghiệp - nông thôn, cải
thiện đời sống người nông dân. Nhờ đó, người nông dân sẽ tận dụng hết
nguồn lực để sản xuất các sản phẩm rau quả xuất khẩu, cũng vì thế mà việc áp
dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, tăng năng suất và chất lượng
sản phẩm sẽ ngày càng được quan tâm nhiều hơn.
Việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu sẽ khiến người nông dân phải gắn sản
xuất của mình với nhu cầu của thị trường quốc tế. Điều đó sẽ giúp cho người
nông dân tiến bộ cả về tư duy, nhận thức cũng như trình độ. Theo đó, chất
lượng lao động nông nghiệp từng bước được cải thiện. Bên cạnh đó, các lợi
thế so sánh của từngvùng như thổ nhưỡng, khí hậu, giống, kỹ năng, kinh
nghiệm, bí quyết sản xuất của nông dân cũng sẽ được khai thác và tận dụng
cho sản xuất rau quả xuất khẩu với hiệu quả kinh tế cao, qua đó thúc đẩy phát
triển kinh tế của các vùng.
- Chính sách xuất khẩu rau quả góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa xuất khẩu,
hướng đến một nền nông nghiệp hiện đại.
21
Việc sản xuất rau quả xuất khẩu sẽ thúc đẩy người nông dân áp dụng
khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm. Hơn thế nữa, việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún cũng dần được thay thế
bằng việc canh tác tập trung, rộng lớn.
hợp lại để hình thành và hoàn thiện chính sách, tiến tới việc ban hành chính
sách đó.
Bước 2: Triển khai thực hiện
Sau khi hoàn thiện, chính sách được triển khai tới trong và ngoài chính
phủ, các đối tượng chịu tác động của chính sách. Thêm vào đó cần phải có các
vấn đề về cưỡng chế và khuyến khích việc thực thi chính sách.
Việc triển khai thực hiện chính sách nhằm đưa chính sách vào thực tiễn
để giải quyết các vấn đề đã đặt ra. Trong bước này, chính sách sẽ được triển
khai tới các đối tượng chịu sự tác động của chính sách thông qua nhiều hình
thức như các văn bản, các phương tiện truyền thông, các hình thức tuyên
truyền …
Bước 3: Tổng kết, đánh giá chính sách
Đây là bước đánh giá quá trình triển khai, hiệu quả triển khai và các tác
động thực tế của chính sách. Từ thực tiễn triển khai, đánh giá chính sách về
mặt chính trị, kỹ thuật và toàn diện. Từ đó phân tích đưa ra những ưu điểm và
những hạn chế của chính sách.
1.2. Nội dung cơ bản của chính sách xuất khẩu các sản phẩm rau
quả
1.2.1. Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu
Chính sách phát triển thị trường là việc xác định cơ cấu thị trường,
trong đó xác định tổng quan thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, thị
trường trọng điểm, thị trường phụ cận, bổ trợ, nhằm đảm bảo khai thác tiềm
năng, lợi thế của từng thị trường, bảo đảm chủ động về thị trường, tránh hẫng
23
hụt về thị trường do những biến động về kinh tế, chính trị, thiên tai trên thế
giới gây ra.
Trong hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu của một quốc gia thì nhà
nước và các tổ chức liên quan đóng vai trò quan trọng thông qua việc đề ra
các chiến lược xuất khẩu và định hướng thị trường cho từng ngành hàng và
các doanh nghiệp trong nước. Các Bộ ngành, các tổ chức xúc tiến thương mại,
hiện chính sách đó tìm ra nguyên nhân và phương hướng khắc phục cho chính
sách.
1.2.2. Chính sách xúc tiến xuất khẩu
Xúc tiến xuất khẩu là chiến lược phát triển kinh tế nhấn mạnh đến việc
mở rộng xuất khẩu thông qua các biện pháp chính sách khuyến khích, hỗ trợ
cao nhất cho hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xúc tiến là hoạt động tất yếu đối với các doanh nghiệp nhằm
xâm nhập và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đối với xuất khẩu rau
quả, hoạt động xúc tiến càng mang nhiều ý nghĩa khi mà khoảng cách về mặt
địa lý, văn hóa, tập tục cũng như chính sách của mỗi một quốc gia là hoàn
toàn khác biệt.
Chính sách xúc tiến xuất khẩu là việc nhà nước đưa ra những chương
trình, biện pháp có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu
của các doanh nghiệp, của các ngành và của đất nước. Chính sách xúc tiến
xuất khẩu gồm:
- Chính sách hỗ trợ nghiên cứu thị trường.
Đây là việc Chính phủ sẽ tiến hành khảo sát nghiên cứu thông tin thị
trường xây dựng cơ sở dữ liệu và dự báo về các thị trường xuất khẩu giúp các
doanh nghiệp nắm bắt và hiểu rõ những yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Chính phủ sẽ thành lập các hội đồng chuyên gia, thu nhận thông tin từ
các thị trường sau đó tiến hành phân tích, đưa ra những thông tin cần thiết mà
các doanh nghiệp cần để sử dụng nhằm tránh những rủi ro khi thâm nhập vào
25
các thị trường đó. Việc nghiên cứu thị trường còn có thể giúp các doanh
nghiệp tìm được những thị trường mới, những thị trường tiềm năng đối với
hoạt động xuất khẩu của mình. Nó còn giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu
có được một chiến lược cụ thể, tận dụng thế mạnh của mình để xâm nhập vào
những thị trường mới.
Việc nghiên cứu thị trường luôn rất quan trọng, đòi hỏi một đội ngũ
chuyên gia giỏi. Chính vì thế, việc Chính phủ đề ra chính sách hỗ trợ nghiên