Đặt vấn đề
Bệnh hen phế quản (HPQ) đang ngày càng gia tăng, đã ảnh hởng không ít
đến ngày công lao động hay học tập và giảm chất lợng cuộc sống [7]. Trong
những năm gần đây ô nhiễm môi trờng không những tác động đến những mặt
khác nhau của đời sống kinh tế xã hội, mà còn gia tăng đáng kể những bệnh đờng
hô hấp đặc biệt là hen đã làm cho tình hình bệnh hen phế quản ở trên thế giới nói
chung và nớc ta nói riêng đang trở lên hết sức phức tạp [3]. Tỷ lệ mắc hen phế
quản trong cộng đồng ngày càng tăng nhanh làm cho gánh nặng do hen gây ra
ngày càng lớn.
Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) và chơng trình phòng chống
hen toàn cầu (gọi tắt là GINA), hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu ngời
mắc bệnh HPQ, chiếm khoảng 6-8% dân số ở ngời lớn và 10-12% ở trẻ em dới
15 tuổi [12]. ở Việt Nam theo điều tra của bộ môn MDLS Đại học Y Hà Nội và
khoa dị ứng MDLS bệnh viện Bạch Mai, kể từ năm 1961 đến nay tỷ lệ lu hành
hen ở nớc ta tăng gấp 3 lần, từ 2 % đến 5 % dân số cả nớc.
Do đặc điểm khác biệt về sinh lý nên việc điều trị hen ở trẻ em có nhiều
điểm khác biệt với ngời lớn do đó GINA (Global Intiative for Asthma) đã đa ra
phác đồ bậc thang điều trị hen phế quản riêng rẽ cho các đối tợng trẻ em từ 1- 5
tuổi và trên 5 tuổi [19 TL Anthony 1993]. Những tiến bộ trong lĩnh vực y học,
nhất là trong lĩnh vực y học dị ứng miễn dịch đã ngày càng làm sáng tỏ cơ chế
bệnh sinh trong hen. Việc xuất hiện nhiều thuốc mới, tác động đến các yếu tố
nguy cơ gây hen đã giúp cho việc kiểm soát và dự phòng hen ngày càng tiến bộ
và điều trị hen hiệu quả hơn.
Những năm gần đây tại bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang các bác sĩ
cũng rất quan tâm đến việc điều trị hen cho đối tợng trẻ em. Việc áp dụng nhiều
thuốc mới bên cạnh các thuốc điều trị kinh điển đã giúp các thầy thuốc kiểm soát
hen tốt hơn trong điều trị hen nội trú ở khoa nhi và nhờ vậy đã cứu sống nhiều trẻ
em qua cơn hiểm nghèo cũng nh rút ngắn thời gian nằm viện cho bệnh nhân. Tuy
nhiên Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, mặt bằng dân trí cha cao cùng với sự
hiểu biết của nhiều ngời về hen còn rất hạn chế, việc sử dụng thuốc nói chung và
thuốc điều trị hen nói riêng, việc kiểm soát hen còn nhiều hạn chế do vậy HPQ
1.1.2. Việt Nam:
Độ lu hành hen ở nớc ta hiện nay vẫn cha có số liệu chính xác về tỷ lệ hen,
trong những năm qua một số tác giả Việt Nam ( Nguyễn Năng An, Lê Văn
Khang, Phan Văn Đoàn, Trịnh Văn Hùng- 2001) đã nghiên cứu tỷ lệ hen ở một
số địa phơng ( Hải phòng, Hoà Bình, nghệ An, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí
Minh) điều tra bằng phơng pháp phỏng vấn trực tiếp (8638 ngời), tỷ lệ hen thấp
nhất ở Đà lạt (1,1%) cao nhất ở Hoà Bình (5,35%) trung bình 4,1%. Hen xảy ra
nhiều nhất ở lứa tuổi 6 đến 15. Theo một điều tra mới do Nguyễn Năng An và
cộng sự tiến hành ở Thanh Trì và Khơng Đình Hà Nội (2003), tỷ lệ mắc hen trên
5,5%. Hen có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và cả 2 giới, tuy nhiên tỷ lệ mắc hen ở các
lứa tuổi và ở cả 2 giới không giống nhau. Hen nổi bật ở trẻ em, trong đó ở trẻ trai
nhiều hơn trẻ gái [4].
ỏ Việt Nam theo điều tra ban đầu của hội hen, dị ứng miễn dịch lâm sàng
Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh hen trong cộng đồng 5% tơng đơng với 4 triệu ngời và
con số tử vong hàng năm không dới 3000 ngời tỷ lệ này ngày càng tăng[3]. Tỷ lệ
hen trẻ em: Năm 2000: 8-9%, năm 2004: 11-12%. Chi phí trực tiếp cho điều trị
tăng cao cha kể chi phí gián tiếp do phải nhập viện, cấp cứu, nghỉ học, đặc biệt có
thể nguy hiểm đến tính mạng do các cơn hen kịch phát. Chính vì vậy việc phát
hiện sớm, kiểm soát và điều trị dự phòng hen là hết sức cần thiết [4].
1.2. bệnh hen phế quản và các yếu tố liên quan
1.2.1. Định nghĩa hen phế quản:
Hen phế quản (HPQ) là một bệnh có đặc điểm là viêm mạn tính niêm mạc
phế quản làm tăng phản ứng của phế quản thờng xuyên với nhiều tác nhân kích
thích, dẫn đến co thắt lan toả cơ trơn phế quản. Sự co thắt phế quản không cố
định, thuờng có thể hồi phục tự nhiên hoặc sau khi dùng thuốc giãn phế quản.[7]
1.2.2. Đặc điểm hen phế quản trẻ em
3
Về cơ bản hen phế quản ngời lớn và trẻ em không có gì khác biệt nhau
nhiều, tuy nhiên do đặc điểm phát triển của cơ thể ở các lứa tuổi nên HPQ trẻ em
cũng có nhiều nét riêng.
b. Hen phế quản không dị ứng
+ HPQ do di truyền, tính di truyền trong hen chiếm tới 40-60 % các trờng
hợp, Bố hoặc Mẹ bị HPQ thì nguy cơ mắc HPQ ở con là 25%, cả Bố và Mẹ bị
mắc HPQ thì tỉ lệ mắc HPQ của con tăng lên 50% [14]
+ HPQ do rối loạn tâm thần
+ HPQ do gắng sức: ở mức độ nào đó gắng sức có vai trò duy nhất là khởi
động triệu chứng
+ HPQ do thuốc Aspirin và các thuốc chống viêm không Steroid. Các
thuốc này làm cho hen nặng thêm khoảng 4-28% hen ở ngời lớn, hiếm gặp ở trẻ
em. Một liều nhỏ Aspirin hoặc các thuốc chống viêm không Steroid có thể gây co
thắt phế quản rất mạnh, gây shock, mất ý thức và ngừng thở.[5], [9]
- Các chất ức chế hệ Adrenergic, có thể gây co thắt phế quản do làm tăng
trơng lực hệ Cholinergic. Các thuốc này cũng có thể làm tăng giải phóng các chất
trung gian từ tế bào mast khi các receptor Adrenergic có ở trên bề mặt tế bào
mast [9]
1.2.4. Phân loại theo mức độ nặng của cơn hen
Dựa vào triệu chứng lâm sàng để phân loại mức độ nặng của cơn hen,
nhằm tìm biện pháp can thiệp kịp thời.
Bảng 1.1. Phân loai mức độ nặng của 1 cơn hen.[20]
5
Chỉ số Nhẹ Trung bình Nặng Ngừng thở
1. Khó thở Khó thở khi
đi lại
Khó thở khi
nói, tiếng khóc
thờng ngắn
hơn, khó ăn,
bỏ bú
Khó thở khi
nghỉ, trẻ bỏ ăn
thấy
7. Mạch
**
(lần/phút)
< 100 100 -120 > 120
Chậm
8. PEF sau dùng
thuốc GPQ% so
với giá trị lý
thuyết hoăc %
so với giá trị tốt
nhất
> 80% 60 80%
< 60% giá trị lý
thuyết
(<100 lít/phút ở
ngời lớn)
9. PaO
2
và/ hoặc
PaCO
2
Bình thờng
< 45mmHg
> 60mmHg
< 45mmHg
> 60mmHg
< 45mmHg
10. SaO
2
Budesonid fun khí
dung>1mg>, 2lần
/ 24h
Nếu cần thêm Corticoid
dạng uống
với liều thấp uống cách
nhật vào sáng sớm
- Thuốc giãn PQ dạng
hít tác dụng ngắn.
- Cờng
2
dạng hít
hoặc Ipratropium
hoặc cờng
2
dạng
viên, Si rô khi kiểm
soát triệu chứng nh-
ng<3-4lần /ngày
Bớc 3:
Trung bình, thờng
xuyên
- Hàng ngày sử
dụng thuốc cờng
2
- Cơn hen ban đêm
> 1lần/tuần
Corticoid dạng hít :
+Dạng hít định liều
hoặc
Ipratropium hoặc c-
ờng
2
dạng uống
nhng<3-4 lần/ngày
Bớc 1:
Thỉnh thoảng
- Cơn hen >1
lần/tuần nh-
ng<1lần/ngày
- Cơn hen ban đêm
< lần / tháng
- Không có triệu
chứng giữa các cơn
- Không cần điều trị
Thuốc GPQ dạng hít
tác dụng ngắn : c-
ờng
2
hoặc
Ipratropium, hoặc c-
ờng
2
dạng uống,
siro,nhng <3lần/tuần
Bảng 1.3. Tiếp cận từng bớc trong điều trị hen phế quản ở trẻ em>5 tuổi.
Phân loại Triệu chứng PEFG Dự phòng dài hạn Cắt cơn
Bớc 4:
Nặng thờng
số dự kiến
Corticoid dạng hít:
>500mcg và nếu cần:
- Thuốc
GPQgiãn tác
7
thờng xuyên
ờng
2
hàng
ngày
- Cơn hen về
đêm >
1lần/tuần
- Độ biến
thiên > 30%
- GPQ tác dụng kéo
dài, Cờng
2
dạng hít
tác dụng kéo dài hoặc
Theophylin phóng
thích chậm
Bổ sung kháng
leucotrien
- Corticoid dạng
uống dùng lâu dài
dụng ngắn:
Cờng
2
dạng
hít nếu thấy
cần nhng < 3
lần / ngày
Bớc 1:
Thỉnh thoảng
- Cơn
hen>1lần/ tuần
giữa 2 cơn
không có triệu
chứng
- Cơn hen về
đêm 2 lần/
tháng
> 80% trị số
dự kiến
- Độ biến
thiên <20%
- Không cần
- Thuốc
GPQ tác
dụng ngắn:
Cờng
2
dạng
hít nhng
<1lần/tuần
1.3. Cơ chế bệnh sinh [17]
Hình 1.3. Đờng thở bình thờng
cầu ái toan, kích thích bài tiết các tuyến nhờn trong biểu mô phế quản
+ Xuất tiết nhiều chất nhầy, dính thành nút gây tắc hẹp phế quản, những
nút nhày này chứa vòng xoắn Cushman, bạch cầu ái toan.
1.4. Triệu chứng:
1.4.1. Lâm sàng.
Cơn hen phế quản là triệu chứng điển hình của HPQ, biểu hiện nh sau:
- Cơn hen xảy ra vào ban đêm và khi thay đổi thời tiết.
- Khởi đầu là kho khan, tức ngực (cảm giác bó nghẹt lồng ngực).
- Có tiếng cò cử bệnh nhân và ngời ngoài cũng nghe thấy.
- Trong cơn hen nghe 2 phổi đầy ran ngáy, ran rít, tuy nhiên có những trờng
hợp mặc dù bệnh nhân rất khó thở nhng nghe 2 phổi không thấy ran, rì rào phế
nang giảm (tình trạng này gọi là dấu hiệu phổi im lặng). Đây là dấu hiệu nặng đe
doạ tính mạng ở bệnh nhân HPQ.
- Nhịp tim nhanh, huyết áp tăng trong cơn hen.
- Khi cơn khó thở giảm thì kết thúc là bệnh nhân ho nhiều, khạc đờm trong,
quánh, dính.
ở trẻ em, khi mới xuất hiện bệnh hen, chỉ có triệu chứng ho hoặc ho khan
về đêm kéo dài. Tức ngực sau khi chạy nhảy là dấu hiệu chủ yếu, triệu chứng này
tái đi tái lại nhiều lần, sau một thời gian mới xuất hiện những cơn khó thở.
1.4.2. Cận lâm sàng
a. X quang phổi
Ngoài cơn hen ở những bệnh nhân cha có biến chứng, khám phổi thấy hoàn
toàn bình thờng. Trong cơn hen hoặc ở những bệnh nhân HPQ lâu năm, khi chiếu
10
phổi thấy lồng ngực và cơ hoành kém di động, các xơng sờn năm ngang, hai phổi
quá sáng.
b. Chức năng hô hấp.
Thờng đo ngoài cơn hen, nhằm đánh giá mức độ tắc nghẽn đờng thở và là
chỉ số đánh giá đáp ứng với điều trị.
* Rối loạn khí tắc nghẽn, biểu hiện bằng:
chất.
- u tiên sử dụng các thuốc dạng hít để hạn chế tác dụng phụ của thuốc khi
phải dùng lâu dài.
11
- Dự phòng tắc nghẽn phổi không hồi phục và hạn chế tử vong.
1.6.2. Các nhóm thuốc dùng trong điều trị hen phế quản.
1.6.2.1. Nhóm thuốc GPQ[7]
* Kích thích hệ Adrenergic không chọn lọc
Adrenalin đợc sử dụng trong điều trị HPQ, thuốc có tác dụng GPQ khá
mạnh so với các thuốc GPQKT
2
. Do nhiều tác dụng phụ không mong muốn trên
hệ tim mạch nên Adrenalin chỉ đợc chỉ định trong những cơn HPQ nặng.
Liều dùng 0,01ml/kg/lần, tối đa 0,3ml/lần (tiêm dới da, ống tiêm
Adrenalin 0,1%)
* Kích thích hệ Adrenergic gián tiếp
Ephedrin vừa có tác dụng trực tiếp và gián tiếp trên Receptor làm giải
phóng các Catecholamin ra khỏi nơi dự trữ. Tuy nhiên có tác dụng GPQ yếu hơn
GPQKT
2
và nhiều tác dụng phụ trên tim mạch nên hiện nay ít sử dụng trong
điều trị HPQ [7], [15]
Liều dùng cho trẻ em: uống 3mg/kg chia 3-4 lần / ngày [7], [17]
* Kích thích chọn lọc thụ thể
2
Adrenergic
Cơ chế tác dụng: Có tác dụng giãn nở cơ trơn đờng thở, hoạt hoá men
Adenylcylase và tăng AMPc trong tế bào làm ngăn cản sự giải phóng các chất
trung gian gây viêm. Làm mất tác dụng của các chất TGHH trên tế bào đích đờng
2
của tế bào cơ trơn gây GPQ. Bởi vậy nồng độ thuốc trong khí phế quản quyết
định hiệu quả điều trị, chứ không phải nồng độ thuốc trong huyết tơng. Có 2 kiểu
máy khí dung khác nhau: Phun thuốc bằng khí nén, phun thuốc bằng siêu âm.
Thuốc đợc phun từ bầu khí dung của máy dới dạng những hạt nhỏ nh sơng mù đi
vào khí phế quản bệnh nhân, gián tiếp qua mặt nạ (Mask) hay ống ngậm miệng.
+ Dạng hít định liều: (MDI)
13
Hình 1.6. Bình xịt định liều kèm Hình 1.7. Hớng dẫn sử dụng bình
buồng hít cho trẻ nhỏ đệm cho trẻ nhỏ
Phơng pháp hít định liều lần đầu tiên đợc sử dụng năm 1956 và đợc dùng
rất rộng rãi gọn, nhẹ, rẻ tiền. Nguyên lý hoạt động của phơng pháp này là do một
liều thuốc đợc đo chính xác và đợc giải phóng ra nhờ một van định liều khi thuốc
đợc nén ép trong bình. Liều thuốc đợc giải phóng ra từ 25 - 100mcg tuỳ thuộc
vào công thức định liều [1], [6].
Hạn chế của phơng pháp này là hạt aerosol rời khỏi bình MDI với vận tốc
rất cao (30-50m/s), nhiều hạt có kích thớc lớn hơn (> 5àm). Lợng thuốc lắng
đọng ở hầu, họng chiếm 80%, 10% thuốc bị d lại ở bình và chỉ có 10% thuốc
lắng đọng ở phổi.
Nguyên nhân chính của hạn chế này là đòi hỏi phải có sự phối hợp kỹ
thuật "tay" " phổi" tốt, đồng thời tốc độ các hạt aerosol cao nên dễ gây phản xạ
ngừng hít và kích thích ho [12].[17].
Để khắc phục những hạn chế này các nhà nghiên cứu đã lu ý các bớc cần
thiết tiến hành trong kỹ thuật "tay" " phổi" gồm có[6].
- Lắc ống hít mạnh trớc khi sử dụng
14
- Bệnh nhân thở ra từ từ
- Lỡi bệnh nhân đặt ở phía trên miệng và ống hít đặt giữa 2 môi
- Bệnh nhân bắt đầu thở vào chậm rãi, sâu
GPQ thông qua 2 cơ chế [3], [7]
+ Cơ chế tác dụng
- ức chế tác động của phosphodiesterase làm chậm sự giáng hoá AMP
v
tăng
nồng độ của AMP vòng trong tế bào làm giãn cơ trơn thành phế quản nên có
tác dụng giãn phế quản.
- Đối kháng thụ thể Adenosin ở mô đờng thở do đó làm giảm tác dụng co
thắt phế quản của adenosin trên cơ trơn phế quản.
+ Tác dụng không mong muốn
Với liều cao (10mg/kg cân nặng/ngày hoặc nhiều hơn) Theophyllin có các
biểu hiện nhiễm độc liên quan đến nhiều cơ quan và có thể xếp vào các hội
chứng sau.
- Hội chứng thần kinh: đau đầu, mất ngủ, kích thích, run, lẫn lộn, co giật.
- Hội chứng tiêu hoá: Nôn mửa, đau bụng, chán ăn, tiêu chảy
- Hội chứng tim mạch: Nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp, huyết áp hạ
+ Liều dùng điều trị cơn HPQ cấp tính.
Mặc dù gần đây thuốc GPQKT
2
tác dụng ngắn đợc coi là sự lựa chọn
hàng đầu trong điều trị HPQ cấp tính, Theophylin vẫn là một trong những thuốc
điều trị phối hợp, đặc biệt khi đáp ứng với GPQKT
2
tác dụng ngắn không đủ và
cơn HPQ trở nên trầm trọng hơn. trong trờng hợp này, Aminophylin (biệt dợc là
Diaphyllin ống tiêm 240mg/5ml) đợc truyền tĩnh mạch chậm:
- Liều tấn công 5-6mg/kg trong 30phút nếu cha đợc chỉ định Theophylin
trớc đó.
- Liều tối đa 3mg/ kg nếu đã dùng Theophylin
- Liều duy trì: Trẻ 6 -11 tháng 1mg/kg, trẻ 1-9 tuổi 1,2- 1,5 mg/kg, trẻ lớn
2
Hydroperoxides
cycloxygenase Lipoxigenase
Leucotrien
THROMBOxan A
2
PG PGI
2
D
2
Prostacylin
ức chế
Lipocortin
Glucocorticoid
5- lipoxygenase. Kết quả của quá trình này là làm giảm số lợng, mức độ hoạt
động của các tế bào gây viêm nh tế bào mast, eosinophilis, neutrophil và làm
giảm hiện tợng viêm ở mô [2]
* Các GC khí dung trong điều trị HPQ
Trong điều trị hen phế quản ngoài các GC tác dụng toàn thân nh
Methylprednisolon, Prednisolon đợc dùng để điều trị trong cơn hen nặng và cấp
tính. Ngời ta còn hay dùng 3 GC là: Beclomethason, budesonid và Fluticason. Ba
GC này đợc dùng theo đờng hít qua miệng và thờng đợc dùng kết hợp với một
chất chủ vận
2
tác dụng kéo dài để điều trị dự phòng hen nh các biệt dợc
Symbicort (Bedesonid/Formoterol), Seretid (Fluticason/ Salmeterol)
u điểm: Dùng GC khí dung [2], [19].
- ít tác dụng phụ, nồng độ cao tại chỗ trong phế quản, tăng sinh
Liporcortin là chất kháng viêm
- ức chế mạnh sự tổng hợp Phospholipase A
- Gây chậm lớn ở trẻ em, gây xốp xơng, gây phù, tăng huyết áp, UCMD,
tăng đờng huyết, rối loạn phân bố mỡ, gây rối loạn tâm thần và gây suy thợng
thận cấp khi dừng thuốc đột ngột [5], [6].
+ Tác dụng không mong muốn của các GC khí dung [6 ]
So với các GC tác dụng toàn thân thì tác dụng phụ của GC dùng qua đờng
khí dung là ít hơn và mức độ nghiêm trọng cũng nhẹ hơn. Các tác dụng phụ có
thể gặp bao gồm, bệnh Candida miệng ở miệng và họng, ở một vài bệnh nhân có
thể xuất hiện khàn giọng. Súc miệng bằng nớc ngay sau khi dùng thuốc có thể có
ích.
1.6.2.3. Nhóm thuốc kháng chất trung gian hoá học
* Nhóm thuốc đối kháng leucotrien [16]
Nhóm thuốc này có tác dụng ức chế sinh tổng hợp chất gây viêm là
Leucotrien theo những cơ chế khác nhau.
- Hoặc ức chế 5 Lipooxygenase không cho enzym này hoạt động để xúc
tiến tạo ra các Leucotrien từ acid arachidonic nh : Zileuton.
- Hoặc ức chế tổng hợp leucotrien D4 và E4 nh: Montelukast, Zairlukast
Các thuốc kháng leucotrien đợc sử dụng bằng đờng uống (chỉ cần một liều
duy nhất trong ngày), có ít tác dụng phụ thờng dùng nh biện pháp bổ sung. Trong
HPQ do dị ứng với Aspirin hoặc do gắng sức (khi đó leucotrien đợc sản sinh ra
nhiều), thuốc kháng leucotrien có hiệu quả rõ rệt. Hiện nay cha có nghiên cứu
nào chỉ định thuốc này cho trẻ em dới 6 tuổi [23]. Đối với trẻ em trên 6 tuổi, liều
dùng của thuốc này đợc trình bày ở bảng 1.5.
Bảng 1.5. liều dùng thuốc kháng leucotrien cho trẻ em > 6 tuổi
Tên quốc tế Tên biệt dợc Liều dùng
Zafirlukast Accolate*
Uống 10-20mg / ngày, trớc bữa ăn 1h,
hoặc sau bữa an 2h
Montelukast
Singulair
*
Hiện tại cha có nhiều bằng chứng về tác dụng của nhóm thuốc này đối với
điều trị hen. Nhóm thuốc này chỉ có tác dụng tốt với bệnh nhân hen kèm theo các
bệnh dị ứng khác đặc biệt là viêm mũi dị ứng.
* Thuốc long đờm:
Trớc đây các thuốc long đờm và các thuốc tiêu chất nhày rất thịnh hành
nhng thực tế chúng không có tác dụng đáng kể trong điều trị hen cấp tính và mạn
tính. [10].
Thuốc long đờm gồm có acetylcystein và carbocystein. Thuốc có tác dụng
trong trờng hợp tắc nghẽn đờm ở phế quản, tuy nhiên gây co thắt phế quản. Trẻ
em thờng dùng dới dạng gói bột hoặc siro uống.
20
Chơng 2. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tợng nghiên cứu.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Tất cả các bệnh án của bệnh nhân đợc chẩn đoán HPQ và điều trị tại khoa
Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2008
- Điều trị nội trú từ 5 ngày trở lên
- Bệnh nhân từ 1-15 tuổi
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các dạng khó thở không phải do HPQ: Tràn khí màng phổi, suy tim
nặng
- Bệnh nhân không tuân thủ điều trị
- Bệnh nhân chuyển viện hoặc tử vong.
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phơng pháp chọn mẫu
- Hồi cứu trên hồ sơ bệnh án lu trữ tại Phòng kế hoạch tổng hợp
- Căn cứ vào các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ, tổng số bệnh án thu đợc là
110 bệnh án.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Khảo sát về sử dụng thuốc:
%
n Tỷlệ
%
n Tỷlệ
%
n Tỷlệ
%
Trẻ nam 58 66 10 63 4 67 72 65
Trẻ nữ 30 34 6 37 2 33 38 35
Tổng số 88 100 16 100 6 100 110 100
Lớp tuổi/
110 BN
88/110 80 16/110 14,5 6/110 5,5 110 100
Hình 3.1 - Tỷ lệ giữa các lớp tuổi
Hình 3.2 - Tỷ lệ nam, nữ
Nhận xét: Theo kết quả ở bảng 3.1 ta thấy.
- Sự chênh lệch giữa trẻ nam và nữ mắc bệnh HPQ cao nhất ở độ tuổi từ 1-
5 tuổi (66%), sự chênh lệch này giảm xuống ở độ tuổi 6 -10 tuổi (63%) và chệnh
23
lệch cao ở độ tuổi 11-15 tuổi (67%). Tỷ lệ chung cả mẫu cho thấy trẻ nam mắc
bệnh nhiều hơn trẻ nữ.
- Tỷ lệ mắc bệnh giảm dần theo lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm
1-5 tuổi (80%), nhóm trẻ 11-15 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất
(5,5 %)
3.1.2. Tiền sử dị ứng
Trong phần này chúng tôi khảo sát tiền sử mắc bệnh dị ứng cá nhân. Căn
cứ vào tình trạng bệnh nhân trớc khi nhập viện bác sỹ khai thác kỹ tiền sử bản
thân. Kết quả nghiên cứu tiền sử dị ứng của bệnh nhân đợc trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2. Khai thác tiền sử dị ứng bệnh nhân
Tiền sử dị ứng
tình trạng trung bình, ở mức độ này thì cha ảnh hởng tới tính mạng ngời bệnh
tuy nhiên nếu không điều trị kịp thời và đúng hớng thì bệnh nhân rễ chuyển sang
mức độ nặng hơn và đe dọa tới tính mạng. Có 5,4 % bệnh nhân trong tình trạng
nặng, ở mức độ này nếu không điều trị nhanh và đúng cách thì sẽ gây tử vong,
mức độ nhẹ chiếm 23,6%.
3.1.5. Tỷ lệ BN đã dùng các thuốc điều trị trớc khi nhập viện.
Các bệnh án đều không ghi chính xác nguồn gốc việc sử dụng thuốc trớc
khi nhập viện là mua thuốc theo đơn cũ của bác sỹ đã kê hoặc do t vấn của dợc sỹ
nhà thuốc. Vì vậy ở phần này chúng tôi chỉ thống kê tỷ lệ bệnh nhi đã dùng thuốc
trớc khi nhập viện.
Bảng 3.4. Tỷ lệ BN đã dùng các thuốc điều trị trớc khi nhập viện
Tình trạng BN Số BN Tỷ lệ %
Cha dùng thuốc 10 9,1
Dùng kháng sinh đơn độc 14 12,7
Dùng thuốc giãn phế quản 56 51
Dùng Corticoid 20 18,1
Không xác định đợc 10 9,1
Tổng số
110 100
Nhận xét:
Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy số lợng bệnh nhân nhi dùng thuốc giãn phế
quản trứơc khi nhập viện chiếm tỷ lệ cao nhất tới (51%), tỷ lệ dùng Corticoid
(18,1%) và dùng kháng sinh là (12,7%) chỉ có (9,1%) số bệnh nhân không khai
thác đợc thuốc điều trị tại nhà và đợc xếp vào nhóm không xấc định.
3.2. Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị HPQ
3.2.1. Các nhóm thuốc dùng trong điều trị HPQ
Tỷ lệ nhóm thuốc đợc tính dựa vào số lần gặp của nhóm thuốc đó trên tổng
số 110 bệnh nhân, nếu trong đợt điều trị mà gặp nhiều thuốc trong một nhóm
thuốc thì vẫn chỉ tính một lần gặp. Do mỗi bệnh nhân có thể dùng phối hợp nhiều
nhóm thuốc trong điều trị HPQ, nên tổng số bệnh nhân dùng mỗi nhóm thuốc sẽ