ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên là lực lượng lao động chất lượng cao trong tương lai của xã hội,
là “nguyên khí” của mỗi quốc gia. Chăm sóc sức khỏe cho sinh viên là nhiệm
vụ quan trọng không chỉ của nhà trường mà là của toàn xã hội. Thời đại ngày
nay, thời đại của sự hội nhập, toàn cầu hóa với sự phát triển vượt bậc của khoa
học kỹ thuật, cùng với ô nhiễm môi trường và yếu tố nội tại trong cơ thể con
người cũng trở thành những tác nhân gây căng thẳng (stressor). Stress tác động
tới mọi tầng lớp xã hội, trong đó có sinh viên. Cuộc sống của sinh viên ở các
trường đại học có nhiều yếu tố gây căng thẳng thần kinh - tâm lý , đặc biệt là
đối với sinh viên các trường đại học Y. Ngoài các stressor chung ở mọi sinh
viên (điều kiện sinh hoạt, học tập ), sinh viên các trường đại học Y là những
người có thời gian học tập tại trường dài nhất với khối lượng kiến thức lý thuyết
và thực hành rất lớn cùng với nhiều kỳ thi, do đó chịu nhiều áp lực gây căng
thẳng chức năng tâm lý cao và trường diễn. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho
thấy các stressor có thể làm thay đổi chức năng hệ thống miễn dịch, thần kinh,
tim mạch và nội tiết của con người.
Stress là hiện thực của cuộc sống, vì vậy chúng ta cần phải hiểu sự đáp ứng
của cơ thể trong từng trạng thái căng thẳng. Muốn vậy phải lượng hóa được
mức độ stress bằng các chỉ số đo lường khách quan. Ở Việt nam đã có một số
công trình nghiên cứu về stress nghề nghiệp của các nhà khoa học thuộc Viện
Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Viện Y học lao động và Vệ sinh dịch tễ,
của các nhà khoa học một số trường đại học. Tuy nhiên còn rất ít nghiên cứu về
đáp ứng của hệ thống nội tiết, tim mạch và thần kinh của cá thể với trạng thái
căng thẳng, trong đó có đối tượng là sinh viên. Xuất phát từ lý do nêu trên,
chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch,
thần kinh của sinh viên Đại học Y trước và sau hoạt động trí tuệ" với các mục
tiêu sau:
1. Xác định một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh ở trạng thái tĩnh của sinh
viên Đại học Y Thái Bình.
2. Đánh giá một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh và nội tiết tố sau hoạt
động trí tuệ (sau buổi thi) của sinh viên Đại học Y Thái Bình.
căng thẳng trong lúc thi, nhưng mật độ thụ thể benzodiazepine ngoại vi,
allopregnanolon và nồng độ cortisol ở các nghiên cứu sinh tăng lên đáng kể.
Makarenco nghiên cứu trên sinh viên trong suốt quá trình kiểm tra căng thẳng
cho thấy có sự giảm ảnh hưởng của thần kinh phó giao cảm trên nhịp tim, kích
thích chuyển hóa và tăng hoạt động của thần kinh giao cảm.
2
Ở Việt Nam, một số tác giả đã bước đầu sử dụng phương pháp đánh giá
chức năng tim mạch thông qua tần số nhịp tim và huyết áp trong các dạng lao
động có căng thẳng thần kinh - tâm lý cao như lao động của phi công, bộ đội,
cảnh sát, nhân viên y tế, điều độ viên chỉ huy chạy tàu, nhân viên vận hành các
máy móc tự động, điều phối viên không lưu.
1.1.2. Chỉ số thống kê toán học nhịp tim
Những năm gần đây, một số tác giả đã sử dụng các chỉ số thống kê toán
học nhịp tim (TKTHNT) của Baevski để đánh giá chức năng tim. Baevski là
người đầu tiên đưa ra nguyên lý về các chỉ số TKTHNT của 100 khoảng RR
liên tiếp trên điện tâm đồ bao gồm: khoảng RR trung bình (X), tần số nhịp tim
trung bình (TSNT), độ lệch chuẩn (SD), hệ số dao động (V), Môt (Mo), biên độ
Môt (AMo) và khoảng dao động của RR tối đa và tối thiểu (∆X). Chỉ số căng
thẳng (CSCT) là chỉ số bậc 2 được tính từ các chỉ số trên (CSCT=AMo/2.
∆X.Mo). Tại hội nghị chuyên đề về vấn đề "Ứng dụng các phương pháp toán
học để phân tích nhịp tim" các báo cáo của Baevski, Zemaichiche, Zatsiorxki,
Parin cho thấy các chỉ số TKTHNT cho nhiều thông tin tốt để đánh giá trạng
thái chức năng của cơ thể, đặc biệt là những nghề nghiệp có trạng thái căng
thẳng cảm xúc cao.
Gần đây, phương pháp TKTHNT đã được ứng dụng tại Việt Nam. Một số
nghiên cứu của Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Thu Hà, Trần Thanh Hà, Nguyễn Khắc
Hải, Nguyễn Ngọc Sơn cho thấy căng thẳng trí tuệ và stress cấp tính gây tăng
chỉ số căng thẳng và giảm sự dao động nhịp tim.
1.2. Một số chỉ số chức năng tâm-thần kinh
Trí tuệ là một hoạt động tâm lý phức tạp bao gồm khả năng nhận thức,
1.2.3. Thời gian phản xạ thị giác - vận động, tốc độ xử lý thông tin
Thông tin đến với con người rất đa dạng, qua nhiều kênh khác nhau: thị giác
chiếm tới 90%, thính giác, xúc giác Để đánh giá chức năng phản xạ đối với cơ
thể, ví dụ phản xạ thị giác - vận động, có chương trình nghiên cứu của nhóm Z1,
Học viện Quân y dựa trên kỹ thuật xử lý trên máy vi tính. Từ kết quả đo thời gian
phản xạ thị giác - vận động tính được tốc độ xử lý thông tin. Kết quả nghiên cứu
của Đỗ Công Huỳnh cho thấy thời gian phản xạ cảm giác- vận động giảm dần
theo tuổi, tuổi càng lớn (không quá 18), thời gian phản xạ càng ngắn. Điều này
chứng tỏ quá trình xử lý thông tin ngày càng tốt hơn theo lớp tuổi. Các nghiên cứu
của Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan, Mai Văn Hưng cũng cho kết quả tương tự và
thời gian phản xạ của nữ dài hơn so với ở nam.
4
1.2.4. Nghiên cứu về mối liên quan giữa điện não đồ và hoạt động trí tuệ
Sự căng thẳng thần kinh - cảm xúc do môi trường học tập, sau các hoạt
động trí tuệ là nguyên nhân gây những biến đổi về trạng thái chức năng của các
tế bào thần kinh. Những biến đổi này xuất hiện sớm và có thể nhận thấy trên
hình ảnh điện não đồ. Vũ Đăng Nguyên cho thấy sự thay đổi các chỉ số EEG
phụ thuộc vào nhiều yếu tố gây căng thẳng thần kinh. Nghiên cứu của Trần Thị
Cúc cho thấy khi suy nghĩ, biên độ và chỉ số sóng alpha giảm, còn tần số và chỉ số
sóng beta tăng tỷ lệ thuận với năng lực trí tuệ. Như vậy việc nghiên cứu sự thay
đổi EEG lúc bình thường và sau lao động trí óc cho phép xác định khả năng hoạt
động trí tuệ của từng cá thể.
1.3. Trạng thái căng thẳng cảm xúc
Trạng thái căng thẳng cảm xúc là một quá trình phức tạp liên quan đến xã
hội, yếu tố tâm lý và sinh lý. Theo Hans Sélye, stress là trạng thái của cơ thể
phát sinh khi bị tác động mạnh của các yếu tố từ bên ngoài hoặc bên trong cơ
thể. Trong đó, cơ thể phải thay đổi đột ngột chương trình hoạt động sinh học,
nhằm đảm bảo cân bằng nội môi. Những phản ứng không đặc hiệu của cơ thể
trong trạng thái stress được coi là hội chứng thích ứng chung (GAS). GAS gồm
ba giai đoạn: giai đoạn báo động, giai đoạn thích nghi và giai đoạn suy kiệt.
Bảng 2.1.Tuổi trung bình của sinh viên các năm thuộc trường ĐH Y Thái Bình
Khối
Tuổi
Y
1
Y
2
Y
3
Y
4
Y
5
X ± SD 21,76±1,21 22,31±0,82 23,49±1,30 24,61±1,07 25,52±0,91
Tiêu chuẩn chọn đối tượng: Đối tượng được chọn có chỉ số BMI, mạch, huyết
áp, thính lực và thị lực trong giới hạn bình thường, không mắc các bệnh cấp và
mạn tính, đặc biệt là các bệnh tim mạch, thần kinh và tâm thần; không dùng
thuốc an thần hoặc chất kích thích 3 ngày trước và trong quá trình nghiên cứu;
tình nguyện tham gia nghiên cứu và tuân thủ đúng qui trình nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.2.1. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Theo Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà và cộng sự nghiên cứu các chỉ số sinh học
tiến hành chọn cỡ mẫu cho nghiên cứu đám đông theo công thức sau:
222
22StdN
NtS
máy vi tính bằng phần mềm trắc nghiệm tâm sinh lý của Ngô Tiến Dũng, Đỗ
Công Huỳnh và cộng sự.
- Khả năng chú ý được đánh giá bằng phương pháp “sắp xếp các chữ số lộn xộn”.
- Khả năng tư duy logic được đánh giá bằng phương pháp "tìm số theo qui luật".
- Trí nhớ ngắn hạn được đánh giá bằng phương pháp “nhìn - nhớ
chữ số”.
- Tình trạng căng thẳng cảm xúc được đánh giá theo trắc nghiệm Spielberger.
- Điện não được ghi bằng máy Neurofax 9001của hãng NIHON KOHDEN Nhật Bản.
- Định lượng nồng độ cortisol huyết thanh trên máy Immulite 2000 của hãng
Siemens theo phương pháp hóa phát quang miễn dịch, tại Khoa Hóa sinh, Viện
Huyết học truyền máu trung ương.
- Định lượng nồng độ catecholamin máu toàn phần được xác định theo phương
pháp của Smaznov tại khoa Hóa sinh trường Đại học Y Thái Bình.
2.2.3. Tổ chức nghiên cứu
Bước 1. Chọn địa điểm nghiên cứu, tiến hành tập huấn để thống nhất qui trình
và kỹ thuật thu thập số liệu.
7
Bước 2. Đo các chỉ số ở trạng thái tĩnh
- Trên 600SV được đo các chỉ số mạch, huyết áp, điện tâm đồ, TGPX thị giác -
vận động, hướng dẫn các test trí nhớ, chú ý, test tư duy, trắc nghiệm Spielberger,
test Raven. Các chỉ số ở trạng thái tĩnh được đo tại thời điểm sinh viên học tập và
sinh hoạt bình thường, xa các cuộc thi ít nhất 1 tháng. Mỗi buổi 30 em.
- Chọn 150 đối tượng, mỗi khối 30 em (trong số 600 SV nói trên) tiến hành thu
thập số liệu lần 1 các chỉ số: ghi điện não đồ và điện tim 100 khoảng RR. Mỗi
buổi nghiên cứu trên 10 em. Có 30 em được lấy máu xét nghiệm định lượng
hormon lần 1 theo danh sách.
Bước 3. Đo các chỉ số sinh học sau buổi thi trên 150 sinh viên
Đo các chỉ số chức năng ngay sau các buổi thi. Chọn buổi thi trắc nghiệm. Tổ
hợp đề ngẫu nhiên, thời gian thi 60 phút. Các môn thi có số đơn vị 3-4 học
trình. Mỗi khối sinh viên có 8 lớp. Chúng tôi lấy mỗi lớp 4 sinh viên sau buổi
1
’
12
’
2
’
8
* Để tránh các yếu tố nhiễu chúng tôi đo các chỉ số ở trạng thái tĩnh vào
ngày nghỉ tại phòng Skillslab. Phòng đảm bảo thoáng mát, yên tĩnh. Phòng thi
test được thiết kế chuyên dụng, tránh tác động của các yếu tố ngoại cảnh, có điều
hoà nhiệt độ. Khi đo các chỉ số ở trạng thái căng thẳng, các trang thiết bị được bố
trí ngay cạnh phòng thi, phòng đo đạc yên tĩnh, trong phòng có điều hòa nhiệt độ.
Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê y sinh học.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Một số chỉ số chức năng tim-mạch của sinh viên Đại học Y Thái Bình
Một số chỉ số tim - mạch được trình bày ở bảng 3.1, 3.2 và hình 3.1.
Bảng 3.2. Một số chỉ số về tim - mạch của sinh viên, (
X
± SD)
Giới
Chỉ số
Nam n=300 Nữ n=300
p
Tần số mạch (nhịp/phút) 79,85±9,02 79,81±9,02 >0,05
Huyết áp tâm thu (mmHg) 116,03±20,14 107,60±11,86 <0,05
Huyết áp tâm trương (mmHg) 70,71±7,56 67,77±8,19 <0,05
Chỉ số Kerdo 10,51±13,79 14,7±13,64 <0,05
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy không có sự khác biệt về tần số mạch giữa hai
Bảng 3.7. Chỉ số IQ theo các khối và giới của sinh viên,(
X
± SD)
Giới
Khối sinh viên
Nam (A)
n= 300
Nữ (B)
n= 300
p (A-B)
SVY
1
(1) n=120 98,90±18,65 99,80±13,22 >0,05
SVY
2
(2) n=120 98,00±18,40 98,75±14,72 >0,05
SVY
3
(3) n=120 96,30±21,81 101,40±9,98 >0,05
SVY
4
(4) n=120 100,10±12,35 101,75±13,24 >0,05
SVY
5
(5) n=120 99,75±11,73 100,75±11,95 >0,05
Chung 98,61±16,98 100,50±12,68 >0,05
p (1-2), p(1-3),p(1-4),p(1-5), p(2-3), p(2-4), p(2-5), p(3-4),p(3-5) ở nam và nữ đều >0,05.
Các số liệu ở bảng 3.7 cho thấy chỉ số IQ của nhóm sinh viên nam và nữ ở
từng khối tương đương nhau. Chỉ số IQ giữa các nam và giữa các nữ sinh viên
các khối không khác biệt (p>0,05).
Số liệu ở bảng 3.13 cho thấy số dãy số xác định đúng của nhóm nam và nữ
sinh viên ở cùng khối và giữa các khối không có sự khác biệt có ý nghĩa với p>0,05.
Số dãy số xác định đúng chung của nhóm sinh viên nam và nữ ở các khối là tương
đương nhau (p>0,05) và đạt mức khả năng tư duy loại khá.
3.1.4. Khả năng chú ý của sinh viên
Bảng 3.15. Số lượng các chữ số ghi được của sinh viên từng khối, theo giới,(
X
± SD)
Giới
Khối SV
Nam
n=300
Nữ
n=300
p
SVY
1
(1) n=120 15,87±7,75 14,88±7,65 >0,05
SVY
2
(2) n=120 14,65±7,90 13,72±7,66 >0,05
SVY
3
(3) n=120 15,12±8,06 14,22±7,83 >0,05
SVY
4
(4) n=120 18,55±6,20 19,25±6,33 >0,05
SVY
5
(5) n=120 14,67±6,90 14,22±7,69 >0,05
SVY
4
(4) n=120 7,65±1,90 7,72±1,79 >0,05
SVY
5
(5) n=120 7,30±1,80 7,68±2,21 >0,05
p (1-2), p(1-3),p(1-4),p(1-5), p(2-3), p(2-4), p(2-5), p(3-4), p(3-5) ở nam và nữ đều >0,05
11
Chung 5 khối SV (n = 600) 7,46±1,94 7,75±1,91 >0,05
7,60±1,93
Số liệu ở bảng 3.18 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về số chữ số
nhớ đúng của nhóm sinh viên nam và nữ trong cùng khối và giữa các khối khác
nhau (p>0,05) và đạt loại khá (theo điểm số).
3.1.6. Trạng thái căng thẳng cảm xúc
Kết quả đánh giá trạng thái căng thẳng cảm xúc được trình bày trên các
bảng 3.20 ÷ 3.22 và hình 3.12.
Bảng 3.22 Trạng thái căng thẳng cảm xúc thường xuyên của sinh viên, theo giới
Giới
Mức độ
Nam
n=300
Nữ
n=300
p OR 95%CI
n % n %
Thấp 10 3,3 6 2,0 >0,05 1,0
Vừa 193 64,3 160 53,3 <0,05 0,4 0,2-1,2
Cao 94 31,3 131 43,7 <0,05
0,6 0,4-0,8
(2)
80,21±12,74 85,27±7,93 <0,05
82,74±7,88
p (1-2) >0,05 <0,05 <0,05
Huyết áp
tâm thu
(mmHg)
TT tĩnh (1) 114,60±11,08 104,40±8,85 <0,05 109,50±11,22
Sau buổi thi
(2)
114,40±9,56 107,93±10,69 <0,05 111,17±10,62
p (1-2) >0,05 <0,05 >0,05
Huyết áp
tâm trương
TT tĩnh (1) 70,67±7,55 65,20±7,32 <0,05 67,93±7,90
12
Sau buổi thi
(2)
72,07±7,97 68,80±8,13 <0,05 70,43±8,19
p (1-2) >0,05 <0,05 <0,05
Kết quả ở bảng 3.23 cho thấy sau buổi thi, xét chung hai giới cho thấy tần
số mạch, huyết áp tâm trương của SV tăng có ý nghĩa với p<0,05, riêng ở sinh
viên nữ huyết áp tâm thu cũng tăng có ý nghĩa so với ở trạng thái tĩnh. Tần số
mạch sau buổi thi của nhóm sinh viên nữ cao hơn so với của nam có ý nghĩa với
p<0,05. Huyết áp tâm thu và tâm trương của nhóm SV nam cao hơn so với của
nữ trong cả hai trạng thái có ý nghĩa với p<0,05.
Bảng 3.25.Phân tích các chỉ số thống kê toán học nhịp tim của sinh viên trên
điện tâm đồ 100 nhịp trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi, theo khối,(
X
± SD)
16,05
76,43±
12,69
72,93±
9,01
80,10±
11,79
p (A-B)
<0,05 <0,05 >0,05 >0,05 >0,05
Độ lệch
chuẩn
(giây)
TT tĩnh (A)
0,0675±
0,0276
0,0631±
0,0258
0,0599±
0,0278
0,0657±
0,0276
0,0604±
0,0218
Sau buổi thi
(B)
0,0418±
0,0131
0,0418±
0,0207
0,0469±
175,27
88,51±
53,50
162,28±
189,13
p (A-B)
<0,05 <0,05 >0,05 >0,05 >0,05
Kết quả ở bảng 3.25 cho thấy sau buổi thi, ở các nhóm SV thuộc các khối
Y
1
, Y
2
có TSNT, chỉ số căng thẳng đều tăng, độ lệch chuẩn của 100 khoảng RR
13
giảm có ý nghĩa với p<0,05. Ở các nhóm SV thuộc các khối Y
3
,Y
5
có độ lệch
chuẩn của 100 khoảng RR giảm có ý nghĩa với p<0,05. Riêng ở nhóm sinh viên
khối Y
4
sau thi không có sự khác biệt về các chỉ số này so với trạng thái tĩnh.
Bảng 3.27. Đối tượng có căng thẳng chức năng tim- mạch ở mức cao theo chỉ
số thống kê toán học nhịp tim trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi, theo khối
Chỉ số
Khối
Thời điểm
SVY
1
Chỉ số căng
thẳng ≥200
(đơn vị
điềukiện)
TT tĩnh (A) 4 13,3 4 13,3 6 20,0 3 10,0 3 10,0
TT căng thẳng
(B)
11 36,7 13 43,3 9 30,0 2 6,7 5 16,7
p (A-B) <0,05 <0,05 >0,05 >0,05 >0,05
(*) <0,05 p(4-1)B*, p(4-2)B*, p(4-3)B*
Kết quả ở bảng 3.27 cho thấy sau buổi thi, tỷ lệ nhóm SV Y
1
, Y
2
có tình
trạng căng thẳng chức năng tim mạch ở mức 3/4 tăng so với trạng thái tĩnh có ý
nghĩa (p<0,05). Sinh viên khối Y
3
có mức độ căng thẳng chức năng tim mạch
cao ở cả hai trạng thái tĩnh và sau thi (độ lệch chuẩn <0,04 (giây) cao hơn so
với ở sinh viên khối Y
4
,Y
5
có ý nghĩa (p<0,05). Sinh viên khối Y
4
có chỉ số
căng thẳng ≥ 200 (ĐVĐK) sau buổi thi, thấp hơn so với ở SV các khối khác
(p<0,05).
14
TT tĩnh (1) 9 30,0 13 43,3 9 30,0 8 26,7 5 16,7
TT căng thẳng (2)
0 0,0 4 13,3 4 13,3 1 3,3 0 0,0
p (1-2) <0,05 <0,05 >0,05 >0,05 >0,05
Từ bảng 3.29 cho thấy sau buổi thi, ở nhóm SV khối Y
1
, Y
2
tỷ lệ đối tượng có
căng thẳng chức năng TKTV với cường giao cảm và chỉ số căng thẳng ≥200
(ĐVĐK) tăng, cường phó giao cảm giảm so với trạng thái tĩnh có ý nghĩa với
p<0,05.
3.3. Một số chỉ số chức năng hệ tâm – thần kinh của sinh viên trong trạng
thái tĩnh và sau thi
3.3.1. Điện não đồ của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi
Kết quả nghiên cứu điện não đồ của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau
buổi thi được trình bày trên các bảng 3.31 ÷ 3.39 và hình 3.14.
Bảng 3.31. Tần số, biên độ, chỉ số sóng α trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi,
theo khối,(
X
± SD)
Sóng α
Khối
Thời điểm
SVY
1
SVY
2
SVY
3
1
, Y
2
, Y
3
đều
giảm có ý nghĩa với p<0,05 so với trạng thái tĩnh, còn ở nhóm SV khối Y
5
chỉ
có
biên độ và chỉ số (%) sóng α giảm có ý nghĩa với p<0,05.
15
Bảng 3.34. Tần số, biên độ, chỉ số sóng β trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi,
theo khối,(
X
± SD)
Sóng β Khối
Thời điểm
SVY
1
SVY
2
SVY
3
SVY
4
SVY
5
Tần số
TT tĩnh (1) Sau buổi thi
(2)
p(1-2)
n % n %
Thấp 106 70,7 93 62,0 >0,05
Vừa 41 27,3 48 32,0 >0,05
Cao 3 2,0 9 6,0 >0,05
Xu hướng bệnh lý 0 0 0 0
Điểm TB 25,3±9,02 28,7±9,97 <0,05
Từ bảng 3.51 thấy rõ sau buổi thi, tỷ lệ SV có mức độ căng thẳng cảm
xúc vừa và cao tăng hơn so với ở trạng thái tĩnh nhưng sự khác biệt không có ý
nghĩa với p>0,05. Điểm Spielberger trung bình sau buổi thi tăng có ý nghĩa so
với ở trạng thái tĩnh với p<0,05.
16
3.4. Một số chỉ số nội tiết tố của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi
Kết quả xét nghiệm nồng độ cortisol, catecholamin của sinh viên trong
trạng thái tĩnh và trong trạng thái căng thẳng (sau một buổi thi) được trình bày
trên các bảng 3.52 ÷ 3.53 và hình 3.15 ÷ 3.16.
Bảng 3.52. Nồng độ cortisol huyết thanh (nmol/l) của sinh viên trong trạng thái
tĩnh và sau buổi thi, theo giới,(
X
± SD)
Giới
Thời điểm
Nam (A)
n= 15
Nữ (B)
n= 15
p(A-B) Chung
n=30
cũng lớn hơn ở nữ. Số liệu của chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của
Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt trên 1793 đối tượng có độ tuổi từ 16 đến 24 và
nghiên cứu của chúng tôi trên sinh viên ba trường đại học, cao đẳng tỉnh Thái
Bình. Kết quả nghiên cứu thu được ở bảng 3.2 cho thấy trạng thái cân bằng thần
kinh thực vật chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả hai giới (53,5%). Trạng thái cường giao
17
cảm ở sinh viên nữ (47%) cao hơn so với sinh viên nam (37%), với p<0,05. Để
giải thích điều này các nhà khoa học cho rằng chính các hormon đóng một vai
trò nhất định trong việc phát sinh sự khác biệt về giới trong phản ứng căng
thẳng tâm - thần kinh.
4.2. Một số chỉ số tâm-thần kinh của sinh viên Đại học y Thái Bình
4.2.1. Thời gian thực hiện phản xạ thị giác-vận động và tốc độ xử lý thông tin
Kết quả nghiên cứu cho thấy TGPX thị giác - vận động đơn giản và phức
tạp của sinh viên nam ngắn hơn so với của nữ có ý nghĩa với p<0,05 (bảng 3.4).
Sự khác nhau về TGPX theo giới tính cũng có thể thấy trong công trình nghiên
cứu của Mai Văn Hưng trên sinh viên lứa tuổi từ 18 đến 25. Bảng 3.3 cho thấy
TGPX thị giác - vận động đơn giản của nam và nữ sinh viên các khối đều khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Sinh viên khối Y
4
có TGPX ngắn nhất và
TGPX dài nhất là nhóm sinh viên khối Y
5
. Điều này có lẽ do sinh viên khối Y
4
có khả năng chú ý cao hơn so với các khối khác với p<0,05 (bảng 3.15). Trong
nghiên cứu này cũng cho thấy có mối tương quan nghịch giữa khả năng chú ý và
TGPX thị giác - vận động đơn giản, phức tạp (r = -0,159 và r= -0,128; p<0,05)
(bảng 3.17). Điều đó có nghĩa là tốc độ chú ý càng cao thì TGPX càng ngắn
(phản xạ nhanh). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên
cứu của Mai Văn Hưng trên sinh viên Đại học Sư phạm về mối tương quan
với khả năng này của sinh viên các khối khác, (p<0,05). Sự khác biệt này có lẽ
là do sinh viên khối Y
4
có chỉ số IQ cao hơn các khối khác (bảng 3.7). Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.17 cho thấy có mối tương quan thuận giữa
chỉ số IQ và khả năng chú ý (r = 0,243), có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết
quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Mai Văn Hưng trên sinh viên cho
thấy mối tương quan thuận khá chặt chẽ (r= 0,675) giữa chỉ số IQ và khả năng
chú ý. Như vậy, chỉ số IQ càng cao thì khả năng chú ý càng nhanh. Tỷ lệ số
sinh viên có khả năng chú ý ở mức giỏi trong nghiên cứu của chúng tôi tương
tự với nghiên cứu của Mai Văn Hưng trên sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội.
Kết quả này cũng phù hợp với nhận định của Daxiorski là ở người trưởng thành
có hệ thần kinh phát triển cả về số lượng (tăng đuôi gai, tăng nhánh sợi trục,
tăng hoạt động của các synap mới) lẫn chất lượng, dẫn đến tăng độ linh hoạt và
khả năng thích nghi. Khả năng nhớ ngắn hạn của nhóm sinh viên nam và nữ
trong cùng khối và giữa các khối không có sự khác biệt (p>0,05). Có lẽ ở ở lứa
tuổi 18-22 có sự gia tăng sản xuất các amin não và các receptor đặc hiệu có vai
trò trong hình thành và lưu giữ trí nhớ.
4.2.4. Trạng thái căng thẳng cảm xúc
Trạng thái căng thẳng cảm xúc thường xuyên của SV các khối chủ yếu ở mức
độ vừa và cao (bảng 3.21). Mức độ lo âu cao thường xuyên ở sinh viên năm thứ
nhất, năm thứ 2, năm thứ 3, năm thứ tư và năm thứ 5 là 40%; 33,3%; 50,0%;
30,8%; 33,3%. Mức độ căng thẳng cao của sinh viên khối Y
3
cao hơn các khối
khác có ý nghĩa thống kê với (p<0,05), thấp nhất là khối Y
4
. Có mối liên quan
đáng kể giữa mức độ căng thẳng cảm xúc ở nam và nữ. Tỷ lệ SV nữ ở mức độ
căng thẳng cảm xúc vừa ít hơn (OR= 0,4, 95% CI=0,2-1,2, p<0,05), căng thẳng cảm
thường. Một số nghiên cứu của Mohammad, Vrijkote lại cho thấy cả huyết áp tâm
thu và tâm trương của sinh viên đều tăng do ảnh hưởng của căng thẳng kỳ thi. Điều
này cho thấy, khi stress xảy ra, các kích thích stress trước hết tác động trực tiếp lên
hệ thần kinh trung ương. Các xung động phát sinh từ hệ thần kinh trung ương đến
hoạt hóa hệ sympatho - adrenergic gây tiết catecholamin (adrenalin và noadrenalin).
Catecholamin được chuyển vào dòng máu và được phân bố đến các cơ quan khác
nhau trong cơ thể sẽ gây những đáp ứng khác nhau lên hệ thống tim mạch, làm tăng
huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương.
20
Phân tích các chỉ số thống kê toán học nhịp tim cho thấy sau buổi thi, ở cả
nam và nữ sinh viên có tần số nhịp tim tăng, độ lệch chuẩn của 100 khoảng RR
giảm, chỉ số căng thẳng đều tăng so với trạng thái tĩnh (p<0,05). Tỷ lệ sinh viên
có mức độ căng thẳng cao và căng thẳng chức năng thần kinh thực vật đều tăng
so với trạng thái tĩnh (p<0,05). Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trên thế
giới và Việt Nam như nghiên cứu của Kovaleva trên những người lao động trí óc,
nghiên cứu của Danilova trên sinh viên, nghiên cứu của Trần Thu Hà, Tạ Tuyết
Bình trên nhân viên y tế. Ở sinh viên các khối Y
1
, Y
2
có biểu hiện căng thẳng chức
năng tim mạch và chức năng thần kinh thực vật tăng rõ rệt (p<0,05), sinh viên khối
Y
3
có mức độ căng thẳng cao ở cả trạng thái tĩnh và sau thi, khối Y
4
các chỉ số ít
biến đổi. Có lẽ do sinh viên khối Y
1
, Y
Các glucocorticoid tương tác với noradrenaline ở hạch hạnh nhân đáy bên, sau đó
điều chỉnh quá trình ghi nhớ trong vỏ não trước trán, vùng hippocampus, thể hạnh
nhân và các khu vực khác của não, ảnh hưởng tốt tới việc học tập mới và phục hồi
các thông tin cũ.
- Đặc điểm về cảm xúc của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi
Kết quả ở bảng 3.51 cho thấy sau buổi thi, tỷ lệ sinh viên có mức độ căng
thẳng cảm xúc vừa và cao tăng hơn so với ở trạng thái tĩnh (p>0,05). Điểm
Spielberger trung bình sau buổi thi tăng có ý nghĩa so với trạng thái tĩnh (p<0,05).
Sự căng thẳng cảm xúc của kỳ thi là do áp lực về thời gian, gánh nặng gắng sức trí
tuệ và tâm lý. Điều đáng chú ý là căng thẳng của kỳ thi đã gây biến đổi chức năng
của hệ thần kinh giao cảm tủy thượng thận và hệ thống dưới đồi - yên - thượng thận.
4.3.3. Sự thay đổi nồng độ một số nội tiết tố của sinh viên trong trạng thái
tĩnh và sau buổi thi
Kết quả ở bảng 3.52 cho thấy nồng độ cortisol ở nhóm nam và nữ sinh viên
đều tăng có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với trạng thái tĩnh. Nghiên cứu của chúng
tôi về hàm lượng cortisol phù hợp với kết quả của Krahwinkel. Tác giả nghiên cứu
trên sinh viên cho thấy trong khoảng thời gian bình thường nồng độ cortisol trung
bình đo được trong nước bọt là 0,085μg/dl và sau thi nồng độ chất này đo được là
0,315μg/dl, (p<0,001). Kết quả ở bảng 3.53 cho thấy nồng độ catecholamin ở nhóm
sinh viên nam và nữ sau buổi thi đều tăng có ý nghĩa (p<0,05) so với trạng thái tĩnh.
Nồng độ catecholamin của nữ sau buổi thi cao hơn so với ở nam (p>0,05). Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự nghiên cứu của Al-Ayadhi Ly trên sinh
viên nữ y khoa năm đầu và năm thứ 2. Tác giả cho thấy sự gia tăng có ý nghĩa nồng
độ catecholamin máu ngay sau buổi thi so với ngày bình thường. Dù có sự biến
động khác nhau về nồng độ cortisol và catecholamin ở hai nhóm đối tượng ở các
thời điểm khác nhau, song điều này cho thấy rõ áp lực trong thi cử là một stressor
gây căng thẳng thần kinh cho sinh viên làm cơ thể họ tăng cường bài tiết cortisol và
catecholamin. Mức độ biến đổi đa phần các chỉ số mạch, huyết áp, chỉ số TKTHNT,
các chỉ số tâm - sinh lý và catecholamin ở sinh viên nữ cao hơn so với ở nam.
KẾT LUẬN
p<0,05). Có mối tương quan thuận, không chặt giữa khả năng chú ý với chỉ số
IQ (r= 0,243; p<0,05).
- Sinh viên có biểu hiện của trạng thái căng thẳng thần kinh cảm xúc
thường xuyên ở mức vừa là 58,8%, ở mức cao là 37,5%. Tỷ lệ sinh viên nữ có
mức độ căng thẳng cảm xúc cao và xu hướng bệnh lý nhiều hơn so với ở sinh
viên nam (OR=0,6; 95% CI=0,4-0,8; p<0,05). Sinh viên khối Y
3
có tỷ lệ căng
thẳng cảm xúc cao nhiều hơn sinh viên các khối khác, (p<0,05).
2. Một số chỉ số chức năng hệ tim-mạch, tâm-thần kinh (n=150) và nội tiết tố
(n=30) của sinh viên Đại học Y Thái Bình trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi
23
- Sau buổi thi, các chỉ số thống kê toán học nhịp tim có biểu hiện căng thẳng
chức năng tim- mạch như tần số nhịp tim tăng, độ lệch chuẩn của 100 khoảng
RR giảm, chỉ số căng thẳng tăng và tỷ lệ sinh viên có biểu hiện căng thẳng chức
năng thần kinh thực vật ở sinh viên khối Y
1
, Y
2
tăng rõ rệt (p<0,05).
Sinh viên khối Y
3
có mức độ căng thẳng cao ở cả trạng thái tĩnh và sau thi,
khối Y
4
các chỉ số ít biến đổi. Tần số mạch và huyết áp tâm trương chung của
cả nam và nữ tăng (p<0,05), riêng ở sinh viên nữ huyết áp tâm thu cũng tăng
có ý nghĩa thống kê so với ở trạng thái tĩnh (p<0,05).
- Sau buổi thi, trên EEG của các nhóm sinh viên nam và nữ có các thông số
(tần số, chỉ số (%), biên độ) của sóng anpha giảm, sóng beta và denta đều tăng
viên, nên sử dụng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim để lượng hóa trạng thái
căng thẳng cảm xúc.
- Điều chỉnh lịch học và lịch thi cho hợp lý và có sự quan tâm nhiều hơn
với các nữ sinh viên y và những sinh viên mới vào trường.
- Mở rộng nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này, so sánh căng thẳng với các
trường khác để thấy rõ mức độ căng thẳng của sinh viên y, những người sau
này sẽ đảm nhận trọng trách chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, làm cơ sở để nhà
nước có chính sách ưu đãi với nghề đặc biệt này.
24