tóm tắt luận án nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch, tâm - thần kinh của sinh viên đại học y thái bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi - Pdf 22

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ quốc phòng
học viện quân y

NGUYN TH HIấN
NGHIÊN CứU MộT Số CHỉ Số CHứC NĂNG TIM-MạCH,
TÂM - THầN KINH CủA SINH VIÊN ĐạI HọC Y THáI BìNH
ở TRạNG THáI TĩNH Và SAU KHI THI
Chuyên ngành: sinh lý học
Mã số: 62 72 01 07
tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hà Nội - 2013
Công trình đợc hoàn thành tại
Học viện quân y
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.Ts. TRN NG DONG
PGS.Ts. VNG TH HềA
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Thu Liên
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Văn Sơn. T
S. Đỗ Kim
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyn Trng Hng PGPGS. TS.
Phạm Duy Hiển
Lun ỏn c bo v trc Hi ng ỏnh giỏ lun ỏn cp
trng ti Hc vin Quõn Y
Vo hi 8 gi 30 phỳt ngy 9 thỏng 4 nm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện quốc gia
- Th viện - Học viện quân y
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên là lực lượng lao động chất lượng cao trong tương lai của xã hội,
là “nguyên khí” của mỗi quốc gia. Chăm sóc sức khỏe cho sinh viên là nhiệm
vụ quan trọng không chỉ của nhà trường mà là của toàn xã hội. Thời đại ngày

600 nam, nữ sinh viên đại học Y các khối từ Y
1
đến Y
5
trong trạng thái tĩnh.
- Phát hiện sự biến đổi một số chức năng tim mạch, thần kinh và nội tiết sau
hoạt động trí tuệ (sau buổi thi) của sinh viên Y. Sau buổi thi ở các đối tượng
nghiên cứu có tăng chỉ số căng thẳng tim-mạch, có sự biến động trong thành phần
các sóng điện não, tăng hàm lượng cortisol huyết thanh và catecholamin máu.
- Các kết quả của luận án góp phần cho việc xây dựng một số chỉ số sinh
học, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất những giải pháp nhằm hạn
chế bớt căng thẳng, nâng cao sức khỏe và tài sản trí tuệ của sinh viên.
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 152 trang: Đặt vấn đề 02, Tổng quan tài liệu 41, Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu 20, Kết quả nghiên cứu 46, Bàn luận 40, Kết luận 02,
Kiến nghị 01 trang, 60 bảng, 25 hình, 139 tài liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số chỉ số chức năng tim-mạch
1.1.1. Tần số mạch và huyết áp
Một trong những chỉ số đơn giản để đánh giá năng lực hoạt động của cơ
thể là tần số mạch và huyết áp động mạch. Các chỉ số này dễ đo đạc, có thể đo
trong thời gian dài, lặp đi lặp lại và những biến đổi của chúng rất dễ nhận biết
vì khi tăng cường độ lao động, tăng mức độ cảm xúc thì các chỉ số này cũng
tăng theo. Làm việc căng thẳng gây tăng nhịp tim, tăng huyết áp là do kích
thích hệ thần kinh giao cảm tủy thượng thận. Nghiên cứu của Droogleever trên
các nghiên cứu sinh Hà Lan cho thấy mặc dù huyết áp thay đổi không đáng kể do
căng thẳng trong lúc thi, nhưng mật độ thụ thể benzodiazepine ngoại vi,
allopregnanolon và nồng độ cortisol ở các nghiên cứu sinh tăng lên đáng kể.
Makarenco nghiên cứu trên sinh viên trong suốt quá trình kiểm tra căng thẳng

nghiệm tâm lý" là Francis Galton (1822-1911). Sau đó các loại test đánh giá trí
tuệ lần lượt ra đời như thang điểm Binet- Simon (1905), trắc nghiệm Stanford-
Binet (1916), thang điểm Wechsler (1939), test Gille (1944), test Wisc (1949),
test Raven (1960). Nhiều loại test trí tuệ đã được sử dụng rộng rãi ở các nước
trên thế giới như Nga, Mỹ, Ba Lan, Đức, Pháp. Test Raven được UNESCO
chính thức sử dụng để chuẩn đoán trí tuệ của con người vào năm 1960.
3
Ở Việt Nam từ trước những năm 80 thế kỷ XX, tại trường đại học Sư phạm
Hà Nội đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng test trong đánh giá kết quả học
tập
của sinh viên như công trình của Trần Bá Hoành, Nguyễn Long. Từ những năm 80
đến nay, test trí tuệ đã được ứng dụng nhiều ở nước ta. Hai cơ sở có đóng góp
quan trọng trong lĩnh vực này là Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và trung
tâm nghiên cứu trẻ em Hà Nội. Các cơ sở này đã có nhiều công trình nghiên
cứu về trí tuệ của học sinh cấp I. II, III và của sinh viên đại học.
1.2.2. Chú ý, trí nhớ và tư duy
Chú ý, trí nhớ, tư duy của con người là quá trình hoạt động tích cực, phức
tạp và có vai trò quan trọng trong học tập cũng như trong xử lý thông tin trong
nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Tại Việt Nam, khi nghiên cứu các chỉ số
sinh học trên đối tượng là học sinh, Trần Thị Loan nhận thấy sự tăng nhanh khả
năng chú ý của nam, nữ học sinh cũng nằm trong khoảng thời gian tăng nhanh
khả năng nhớ và thời gian phát triển, hoàn thiện về mặt cấu trúc, chức năng của
não bộ. Nghiên cứu của Lại Thế Luyện trên sinh viên cho thấy biểu hiện stress rõ
nhất và chiếm thứ bậc cao nhất trên sinh viên đó là khó tập trung chú ý, sau đó là
khó ghi nhớ. Theo J. Lazaus, stress làm tổn thương trí nhớ, gây ra sự bất ổn về
tinh thần, không có khả năng tập trung, do dự, thiếu quyết đoán, thiếu chú ý, đầu
óc trống rỗng…là những triệu chứng thường xuất hiện.
1.2.3. Thời gian phản xạ thị giác - vận động, tốc độ xử lý thông tin
Thông tin đến với con người rất đa dạng, qua nhiều kênh khác nhau: thị giác
chiếm tới 90%, thính giác, xúc giác Để đánh giá chức năng phản xạ đối với cơ

thể đáp ứng lại những kích thích gây stress. Đáp ứng sinh lý với stress không
chỉ có tính không đặc hiệu mà các biến đổi sinh lý còn phụ thuộc vào vào các
yếu tố môi trường, điều kiện lao động, các yếu tố xã hội, trải nghiệm của cá
nhân về trạng thái căng thẳng. Có nhiều hormon của các tuyến nội tiết tham gia
vào phản ứng, trong đó các hormon quan trọng nhất được coi là chỉ số của stress là
cortisol và catecholamin. Học tập căng thẳng có thể được xem là một mô hình
nghiên cứu tốt của trạng thái căng thẳng tự nhiên của con người. Khi bị stress, về
tâm lý cho thấy biểu hiện rõ nhất ở sinh viên là khó tập trung chú ý, căng thẳng,
không hăng hái tích cực trong hoạt động. Tuy nhiên, không phải lúc nào stress
cũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với sinh viên. Sự có mặt của stress
đôi khi lại là điều cần thiết, tác động nhiều đến động cơ và hứng thú học tập của
các em.
5
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 600 sinh viên các lớp đào tạo bác sỹ đa khoa hệ
chính qui thuộc các khối từ năm thứ 1 (Y
1
) đến năm thứ 5 (Y
5
) của trường Đại
học Y Thái Bình. Chúng tôi không chọn sinh viên khối Y
6
vì các em sắp ra
trường, cần nhiều thời gian để chuẩn bị các môn thi tốt nghiệp.
Tuổi trung bình của sinh viên các năm được trình bày trên bảng 2.1.
Bảng 2.1.Tuổi trung bình của sinh viên các năm thuộc trường ĐH Y Thái Bình
Khối
Tuổi

Chọn d= ±5% , độ tin cậy là 99%, t= 2,58. CV = 20%, N=300. Tính được n= 78.
Chúng tôi lựa chọn 120 sinh viên cho mỗi khối (gồm 60 nam và 60 nữ), tổng số đối
tượng nghiên cứu của 5 khoá (Y
1
÷ Y
5
) là 600 sinh viên để đo đạc các chỉ số sinh học.
- Đối với nghiên cứu các chỉ số điện não đồ, thống kê toán học nhịp tim và định
lượng nồng độ hormon trong máu, chúng tôi chọn d=10%, p=0,05, t=1,96. Tính
được n= 15.
6
Chúng tôi chọn mỗi khối 30 sinh viên (gồm 15 nam và 15 nữ). Tổng số được
chọn là 30 ×5 = 150 sinh viên có kết quả học tập tương đối đồng đều để đánh giá
sự biến đổi một số chỉ số ở trạng thái tĩnh và sau buổi thi. Trong số 150 sinh viên
này, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 30 sinh viên (gồm 15 nam và 15 nữ), để đánh giá
sự biến đổi nồng độ một số hormon trong máu ở trạng thái tĩnh và sau buổi thi.
2.2.2. Các chỉ số nghiên cứu, phương tiện và cách xác định
- Tần số mạch yên tĩnh (nhịp/phút). Sử dụng đồng hồ bấm giây.
- Huyết áp yên tĩnh (mmHg). Sử dụng huyết áp kế đồng hồ của Trung Quốc đã
được chuẩn hóa với huyết áp kế thủy ngân trước khi đo, theo phương pháp
Korotkov. Tính chỉ số Kerdo.
- Đánh giá chức năng hệ tim mạch và trạng thái thần kinh thực vật bằng phương
pháp thống kê toán học nhịp tim (Baevski R.M.và cs.) trên máy điện tim
Cadiofax 3 cần của Nhật Bản.
- Đánh giá năng lực trí tuệ được xác định bằng test khuôn hình tiếp diễn của
Raven loại A,B,C,D,E .
- Thời gian phản xạ thị giác - vận động và tốc độ xử lý thông tin được đo trên
máy vi tính bằng phần mềm trắc nghiệm tâm sinh lý của Ngô Tiến Dũng, Đỗ
Công Huỳnh và cộng sự.
- Khả năng chú ý được đánh giá bằng phương pháp “sắp xếp các chữ số lộn xộn”.

ghi điện tim 100 nhịp có 2 máy điện tim; lấy máu làm xét nghiệm cortisol và
catecholamin có 4 bàn làm việc). Thời gian hoàn thành tất cả các kỹ thuật là 12
phút sau khi sinh viên bước ra khỏi phòng thi. Sau đó các em tập trung làm test
chú ý, trí nhớ, tư duy và test căng thẳng cảm xúc.
* Việc ghi điện não đồ được tiến hành trên các đối tượng sau khi họ kết thúc
cuộc thi khác. Mỗi buổi thi kéo dài 60 phút, trong đó một số sinh viên kết thúc thi
sau 45 phút, 50 phút, 55 phút, 60 phút. Chúng tôi lấy 4 em ở mỗi buổi thi theo các
thời điểm nói trên. Thời gian ghi điện não là 5 phút. Như vậy thời gian ghi điện
não được tiến hành ngay sau khi thí sinh bước ra khỏi phòng thi.
* Để tránh các yếu tố nhiễu chúng tôi đo các chỉ số ở trạng thái tĩnh vào
ngày nghỉ tại phòng Skillslab. Phòng đảm bảo thoáng mát, yên tĩnh. Phòng thi
test được thiết kế chuyên dụng, tránh tác động của các yếu tố ngoại cảnh, có điều
2

Thi
Mạch, HA
PXTGVĐ
ĐTĐ
Lấy máu
60

3

5

6

11

1

Kết quả nghiên cứu về thời gian phản xạ thị giác - vận động và tốc độ xử lý
thông tin được trình bày trên các bảng 3.3 ÷ 3.6 và hình 3.2.
Bảng 3.4. Thời gian phản xạ thị giác - vận động và tốc độ xử lý thông tin trung
bình chung của sinh viên các khối, theo giới,(
X
± SD)
Chỉ số nghiên cứu Nam (A)
n=300
Nữ (B)
n=300
Chung hai giới
n=600
p(A-B)
TGPX đơn giản(ms) 290,25 ±63,25 304,46±70,69 297,35±67,39 <0,05
TGPX phức tạp (ms) 402,24±74,70 427,49±77,23 414,87±76,95 <0,05
Tốc độ xử lý thông
tin (bit/s)
7,15±3,30 6,89±3,32 7,06±3,30 >0,05
9
Các số liệu ở bảng 3.4 cho thấy thời gian phản xạ thị giác - vận động đơn
giản và phức tạp trung bình của SV nam đều ngắn hơn so với của SV nữ có ý
nghĩa với p<0,05. Tốc độ xử lý thông tin trung bình của các nhóm SV nam và
SV nữ không có sự khác biệt ( p>0,05).
3.1.2. Năng lực trí tuệ theo test Raven
Kết quả xác định chỉ số IQ và phân mức trí tuệ được trình bày trên các bảng
3.7 ÷ 3.9 và các hình 3.3, 3.4.
Bảng 3.7. Chỉ số IQ theo các khối và giới của sinh viên,(
X
± SD)
Giới

± SD)
Giới
Khối SV
Nam (A)
n= 300
Nữ (B)
n= 300
p (A-B)
SVY
1
(1) n=120 11,15±2,43 10,93±2,83 >0,05
SVY
2
(2) n=120 10,83±2,73 11,38±3,17 >0,05
SVY
3
(3) n=120 10,98±3,15 11,25±2,87 >0,05
SVY
4
(4) n=120 10,55±2,89 11,48±2,55 >0,05
SVY
5
(5) n=120 11,77±2,89 12,38±7,15 >0,05
Chung 5 khối SV (n=600) 11,06±2,84 11,49±4,10 >0,05
(p (1-2), p(1-3),p(1-4),p(1-5), p(2-3), p(2-4), p(2-5), p(3-4),p(3-5) ở nam và nữ đều >0,05).
10
Số liệu ở bảng 3.13 cho thấy số dãy số xác định đúng của nhóm nam và nữ
sinh viên ở cùng khối và giữa các khối không có sự khác biệt có ý nghĩa với p>0,05.
Số dãy số xác định đúng chung của nhóm sinh viên nam và nữ ở các khối là tương
đương nhau (p>0,05) và đạt mức khả năng tư duy loại khá.

nam và nữ ở từng khối là tương đương với p>0,05. Số lượng các chữ số ghi
được của khối sinh viên Y
4
là nhiều nhất và cao hơn rõ rệt so với của sinh viên
các khối khác (p<0,05). Số lượng các chữ số ghi được chung của các nhóm nam
và nữ sinh viên ở các khối tương đương nhau (p>0,05).
3.1.5. Trí nhớ ngắn hạn của sinh viên
Bảng 3.18. Số lượng các chữ số nhớ được của sinh viên từng khối, theo giới,(
X
± SD)
Giới
Khối SV
Nam A
(n=300)
Nữ B
(n=300)
p (A-B)
SVY
1
(1) n=120 7,47±2,11 8,12±2,03 >0,05
SVY
2
(2) n=120 7,08±1,95 7,18±1,63 >0,05
SVY
3
(3) n=120 7,78±1,91 8,07±1,76 >0,05
SVY
4
(4) n=120 7,65±1,90 7,72±1,79 >0,05
SVY

và bệnh lý nhiều hơn rõ rệt so với ở SV nam (OR= 0,6; 95% CI = 0,4-0,8;
p<0,05).
3.2. Một số chỉ số chức năng tim-mạch của sinh viên trong trạng thái tĩnh
và sau một buổi thi
Kết quả nghiên cứu một số chỉ số mạch, huyết áp và chỉ số thống kê toán
học nhịp tim trên điện tâm đồ 100 nhịp của sinh viên trong trạng thái tĩnh và
sau buổi thi được trình bày trên các bảng 3.23 ÷ 3.30 và hình 3.13.
Bảng 3.23. Mạch, huyết áp của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi,
theo giới,(
X
± SD)
Chỉ số
Giới
Thời điểm
Nam (A)
n = 75
Nữ (B)
n = 75
p(A-B)
Chung
n = 150
Tần số
mạch
(Nhịp/phút)
TT tĩnh (1) 78,43±7,67 80,21±11,23 >0,05 79,32±9,62
Sau buổi thi
(2)
80,21±12,74 85,27±7,93 <0,05
82,74±7,88
p (1-2) >0,05 <0,05 <0,05

1
SVY
2
SVY
3
SVY
4
SVY
5
TSNT
(Nhịp/ph)
TT tĩnh (A)
72,77±
10,40
73,10±
13,14
76,87±
11,28
72,97±
9,36
76,40±
10,53
Sau buổi thi
(B)
80,50±
11,22
83,47±
16,05
76,43±
12,69

0,0454±
0,0123
p (A-B)
<0,05 <0,05 <0,05 >0,05 <0,05
Chỉ số
căng
thẳng
(đơn vị
điều kiện)
TT tĩnh (A)
89,96±
85,38
102,96±
114,20
119,32±
121,81
74,36±
72,37
103,69±
118,47
Sau buổi thi
(B)
216,48±
173,54
312,92±
346,21
191,60±
175,27
88,51±
53,50

(2)
SVY
3
(3)
SVY
4
(4)
SVY
5
(5)
n % n % n % n % n %
TSNT>90
(Nhịp/phút)
TT tĩnh (A) 2 6,7 3 10,0 5 16,7 2 6,7 1 3,3
TT căng thẳng
(B)
8 26,7 11 36,7 2 6,7 0 0,0 5 16,7
p (A-B) <0,05 <0,05 >0,05 - >0,05
Độ lệch
chuẩn <0,04
(giây)
TT tĩnh (A) 6 20,0 6 20,0 9 30,0 3 10,0 6 20,0
TT căng thẳng
(B)
13 43,3 16 53,3 1550 6 20,0 10 33,3
p (A-B) >0,05 <0,05 >0,05 >0,05 >0,05
(*) <0,05 p(3-4)B* , p(3-5)B* , p(4-2)B*
Chỉ số căng
thẳng ≥200
(đơn vị

Thời điểm
SVY
1
SVY
2
SVY
3
SVY
4
SVY
5
n % n % n % n % n %
Cường giao
cảm
TT tĩnh (1) 1 3,3 2 6,7 2 6,7 1 3,3 2 6,7
TT căng thẳng (2)
8 26,7 11 36,7 7 23,3 0 0,0 2 6,7
p (1-2) <0,05 <0,05 >0,05 - >0,05
Chỉ số căng
thẳng ≥200
(ĐVĐK)
TT tĩnh (1) 4 13,3 4 13,3 6 20,0 3 10,0 3 10,0
TT căng thẳng (2)
11 36,7 13 43,3 9 30,0 2 6,7 5 16,7
p (1-2) <0,05 <0,05 >0,05 >0,05 >0,05
Cường phó
giao cảm
TT tĩnh (1) 9 30,0 13 43,3 9 30,0 8 26,7 5 16,7
TT căng thẳng (2)
0 0,0 4 13,3 4 13,3 1 3,3 0 0,0

5
Tần số
(Hz)
TT tĩnh (1)
9,63±1,29 9,85±1,32 9,77±1,41 9,57±1,35 9,17±1,15
Sau buổi thi (2)
9,07±0,74 8,90±0,80 8,87±0,73 9,03±0,72 8,93±0,74
p (1-2)
<0,05 <0,05 <0,05 >0,05 >0,05
Biên độ
(µV)
TT tĩnh (1)
52,53±12,24 54,60±9,78 54,63±11,96 50,80±11,43 54,87±11,32
Sau buổi thi (2)
45,17±6,23 44,13±6,06 45,93±6,55 47,30±7,20 45,13±6,26
p (1-2)
<0,05 <0,05 <0,05 >0,05 <0,05
Chỉ số
(%)
TT tĩnh (1)
52,27±11,32 54,10±9,23 51,67±11,50 49,20±10,21 52,03±10,35
Sau buổi thi (2)
45,37±7,04 43,9±7,60 44,43±7,01 47,07±7,32 43,07±5,47
p (1-2)
<0,05 <0,05 <0,05 >0,05 <0,05
Kết quả ở bảng 3.31 cho thấy sau buổi thi, tỷ lệ đối tượng có các thông số
về tần số, biên độ và chỉ số (%) sóng α ở các nhóm SV khối Y
1
, Y
2

thi (2)
15,73±0,79 16,10±0,76 15,90±0,76 15,93±0,79 15,93±0,74
p (1-2) <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05
Biên
độ
(µV)
TT tĩnh (1) 15,75±1,10 15,50±0,80 15,70±1,15 15,62±0,95 15,67±0,79
Sau buổi
thi (2)
17,30±0,60 17,60±0,72 17,50±0,63 17,47±0,78 17,53±0,73
p (1-2) <0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05
Chỉ số
(%)
TT tĩnh (1) 35,43±5,97 33,00±5,96 33,33±6,61 32,83±6,65 33,50±6,45
Sau buổi
thi (2)
35,33±4,60 36,47±4,71 37,30±4,99 35,17±4,88 37,33±3,88
p (1-2) >0,05 <0,05 <0,05 >0,05 <0,05
Kết quả ở bảng 3.34 cho thấy sau buổi thi, tỷ lệ đối tượng có các thông số
về tần số, biên độ và chỉ số (%) sóng beta ở các nhóm sinh viên các khối đều
tăng so với trạng thái tĩnh có ý nghĩa với p<0,05.
3.3.2. Tình trạng căng thẳng cảm xúc của sinh viên trong trạng thái tĩnh
và sau buổi thi
Bảng 3.51. Mức độ căng thẳng cảm xúc ở thời điểm hiện tại của sinh viên trong
trạng thái tĩnh và sau buổi thi (theo thang điểm Spielberger).
Trạng thái
Mức độ CTCX
TT tĩnh (1) Sau buổi thi
(2)
p(1-2)

p (1-2) <0,05 <0,05 <0,05
Qua bảng 3.52 thấy rõ nồng độ cortisol ở các nhóm sinh viên nam và nữ
sau buổi thi đều tăng có ý nghĩa với p<0,05 so với ở trạng thái tĩnh.
Bảng 3.53. Nồng độ catecholamin máu (µmol/l) của sinh viên trong trạng thái tĩnh
và sau buổi thi, theo giới, (
X
± SD)
Giới
Thời điểm
Nam (A)
n= 15
Nữ (B)
n= 15
p(A-B) Chung
n=30
TT tĩnh (1) 37,59±5,57 33,44±6,88 >0,05 35,46±6,53
Sau buổi thi (2) 56,00±6,91 57,11±10,57 >0,05 56,57±8,87
p (1-2) <0,05 <0,05 <0,05
Qua bảng 3.53 thấy rõ nồng độ catecholamin ở nhóm sinh viên nam và nữ
sau buổi thi đều tăng có ý nghĩa với p<0,05 so với ở trạng thái tĩnh.
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Một số chỉ số tim-mạch của sinh viên ĐHYTB
Kết quả nghiên cứu cho thấy tần số mạch và huyết áp của sinh viên đều
nằm trong giới hạn của người Việt nam bình thường.Trong đó, tần số mạch
ở nam và nữ sinh viên tương đương nhau với p>0,05; huyết áp tâm thu, huyết
áp tâm trương ở nhóm nam cao hơn so với ở nhóm nữ với p<0,05. Sự khác biệt
này có lẽ do lực co cơ tim ở nam mạnh hơn ở nữ và trương lực mạch ở nam
cũng lớn hơn ở nữ. Số liệu của chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của
Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt trên 1793 đối tượng có độ tuổi từ 16 đến 24 và

chủ yếu ở mức khá, giỏi. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ từng khối cũng
như giữa các khối sinh viên theo chỉ số này. Kết quả tốc độ xử lý thông tin trong
nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Thanh trên học
sinh cuối bậc tiểu học. Có sự khác biệt này có lẽ do độ tuổi khác nhau, sống trong
các môi trường khác nhau. Ở lứa tuổi 20 sự phối hợp hoạt động của hệ thần kinh -
cơ đã đạt mức độ hoàn chỉnh, tốc độ dẫn truyền thần kinh qua synap nhanh hơn,
do đó rút ngắn TGPX so với các em ở lứa tuổi nhỏ.
4.2.2. Năng lực trí tuệ theo test Raven
Nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.7) cho thấy chỉ số IQ của nam là 98,61 ± 16,98,
của nữ là 100,50 ± 12,68, không có sự khác biệt của chỉ số IQ giữa nam và nữ ở
từng khối cũng như toàn trường. Chỉ số IQ của sinh viên khối Y
4
cao hơn các
18
khối khác (p>0,05). Kết quả trong nghiên cứu này thấp hơn so với Trần Thị
Cúc nghiên cứu trên sinh viên năm thứ 2 Đại học Huế, Trần Thị Loan trên sinh
viên Đại học Sư phạm và Mai Văn Hưng trên sinh viên Đại học Sư phạm. Có
sự khác nhau này một phần có thể do các sinh viên các trường khác đã có dịp
làm quen với test Raven trong môn Tâm lý học, còn sinh viên ĐH Y Thái Bình
lần đầu tiên sử dụng test này. Mặt khác số đối tượng trong các nghiên cứu của
các tác giả có khác nhau và còn ít nên chưa thể đưa ra kết luận chính xác về vấn
đề này.
4.2.3. Khả năng tư duy, chú ý và trí nhớ của sinh viên
Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các chỉ số về khả năng nhớ,
chú ý, tư duy của nữ và nam sinh viên tương đương (p>0,05) và chủ yếu đạt
loại khá, giỏi. Trong đó, khả năng chú ý của khối sinh viên Y
4
cao hơn rõ rệt so
với khả năng này của sinh viên các khối khác, (p<0,05). Sự khác biệt này có lẽ
là do sinh viên khối Y

Theo Jiongjiong Wang, trong trạng thái căng thẳng ở nam giới, vỏ não trước
trán phải (điều hòa những cảm xúc âm tính) hoạt động nhiều hơn, trong khi đó
vỏ não hốc mắt - trán trái (có vai trò ngăn chặn) ít bị kích thích hơn. Điều này
liên quan với cortisol, một loại hormon stress. Ngược lại, căng thẳng ở phụ nữ
chủ yếu kích hoạt hệ limbic của não bộ, hoạt động độc lập với nồng độ cortisol
Kết quản nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả của Jadoon trên 815 sinh
viên y ở Multan cũng cho thấy tỷ lệ căng thẳng của sinh viên năm thứ nhất, năm
thứ 2, năm thứ 3, năm thứ tư và năm cuối cùng là 45,86%; 52,58%, 47,14%;
28,75% và 45,10%. Tỷ lệ sinh viên nữ bị trầm cảm cao hơn sinh viên nam (OR=
2,05; 95% CI=1,42- 2,95; p<0,001). Nguyên nhân gây căng thẳng được Hashmat
tìm thấy trên sinh viên Y là do chương trình học quá tải (90,8%), thiếu tập thể
dục (90%) và thời gian dài của các cuộc thi (77,5%). Tỷ lệ sinh viên y có mức độ
căng thẳng cao trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của
Lại Thế Luyện về biểu hiện stress trên sinh viên trường Đại học Sư phạm cho
thấy tỷ lệ rất căng thẳng chiếm 10,8% và căng thẳng chiếm 49,8%. Điều này
chứng tỏ sinh viên y chịu nhiều áp lực hơn sinh viên các trường khác.
4.3. Một số chỉ số chức năng tim-mạch, tâm-thần kinh và nội
tiêt của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi
4.3.1. Một số chỉ số chức năng tim - mạch của sinh viên trong trạng thái tĩnh
và sau buổi thi
Tần số mạch, huyết áp của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi
Kết quả nghiên cứu (bảng 3.23) cho thấy sau buổi thi tần số mạch và huyết áp tâm
trương chung của nam và nữ tăng (p<0,05), riêng ở sinh viên nữ huyết áp tâm thu
cũng tăng có ý nghĩa (p<0,05) so với ở trạng thái tĩnh. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi về tần số tim và huyết áp sau căng thẳng của buổi thi cũng phù hợp với
nghiên cứu của Zeller, Pramanik. Các tác giả nghiên cứu về căng thẳng tâm lý của
sinh viên đại học Y cho thấy huyết áp tâm trương tăng trong suốt thời gian thi, còn
huyết áp tâm thu tăng không có ý nghĩa thống kê ở cả hai giới so với ngày bình
thường. Một số nghiên cứu của Mohammad, Vrijkote lại cho thấy cả huyết áp tâm
thu và tâm trương của sinh viên đều tăng do ảnh hưởng của căng thẳng kỳ thi. Điều

ngột về sinh hoạt, yêu cầu và phương pháp học tập ở bậc đại học. Sinh viên khối Y
3
bắt đầu tiếp cận với lâm sàng, tham gia trực bệnh viện, cùng nhiều môn học chuyên
sâu có độ khó cao, lịch học và lịch thi chồng chéo khiến các em căng thẳng ngay cả
trong trạng thái bình thường, còn sinh viên khối Y
4
, Y
5
đã thích nghi việc học lý
thuyết và lâm sàng.
4.3.2. Một số chỉ số tâm - thần kinh của sinh viên trong
trạng thái tĩnh và sau buổi thi
- Sự biến động điện não đồ
Sau buổi thi, trên EEG của các nhóm sinh viên nam và nữ có các thông số (tần
số, chỉ số (%), biên độ) của sóng anpha giảm, sóng beta và denta đều tăng có ý
nghĩa so với ở trạng thái tĩnh (p<0,05). Sự biến động các chỉ số trên EEG theo năm
học cũng phù hợp với trạng thái căng thẳng cảm xúc và căng thẳng chức năng tim
mạch. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Trần Thị Cúc.
Tác giả nhận thấy khi suy nghĩ biên độ và chỉ số sóng alpha giảm, tần số và chỉ số
sóng beta trên điện não đồ của sinh viên tăng lên. Nghiên cứu EEG của Umriukhin
trên sinh viên ở giai đoạn trước thi và ở trạng thái bình thường cho thấy sinh viên có
chỉ số sóng alpha nhiều trước thi sẽ làm bài hiệu quả hơn và cho kết quả cao hơn.
21
- Khả năng nhớ ngắn hạn của sinh viên ở trạng thái tĩnh và sau buổi thi
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sau thi trí nhớ ở sinh viên nam
và nữ tăng có ý nghĩa (p<0,05). Tăng trí nhớ ngắn hạn ngay sau thi là do sự giải
phóng nhanh chóng catecholamine và tác động sớm của glucorticoid theo cơ
chế không hoạt hóa hệ gen trong tế bào, mà là thông qua receptor màng tế bào.
Các glucocorticoid tương tác với noradrenaline ở hạch hạnh nhân đáy bên, sau đó
điều chỉnh quá trình ghi nhớ trong vỏ não trước trán, vùng hippocampus, thể hạnh

hoạt động trí tuệ của sinh viên Đại học Y Thái Bình, chúng tôi rút ra một số kết
luận sau:
1. Một số chỉ số chức năng hệ tim-mạch và tâm - thần kinh của 600 sinh
viên Đại học Y Thái Bình
* Một số chỉ số chức năng tim mạch
- Tần số mạch của sinh viên nam (79,85±9,02 nhịp/ph) tương tự so với của
sinh viên nữ (79,81±9,02 nhịp/ph). Ở nhóm sinh viên nam huyết áp tâm thu là
116,03 ± 20,14 mmHg, huyết áp tâm trương là 70,71±7,56 mmHg cao hơn rõ rệt
so với ở nữ (107,60±11,86 mmHg và 67,77±8,19 mmHg), với p<0,05. Tỷ lệ trạng
thái thần kinh thực vật cường giao cảm ở sinh viên nữ (47%) cao hơn so với ở sinh
viên nam (37%), với p<0,05.
* Một số chỉ số chức năng tâm - thần kinh
- Chỉ số IQ của sinh viên nam là 98,61±16,98, tương đương với của sinh
viên nữ là 100,50±12,68. Chỉ số IQ đạt mức trung bình và thông minh chiếm đa
số. Năng lực trí tuệ của sinh viên tính theo test Raven có tương quan thuận với
học lực, không chặt (r= 0,134).
- Thời gian phản xạ thị giác - vận động đơn giản và phức tạp của sinh viên
nam ngắn hơn so với ở nữ, (p<0,05). Sinh viên khối Y
4
có thời gian phản xạ thị
giác - vận động ngắn hơn so với các khối khác, (p<0,05). Khả năng tư duy logic
và trí nhớ ngắn hạn của sinh viên nam và nữ là tương đương và đạt mức chủ
yếu là khá, giỏi. Sinh viên khối Y
4
có khả năng chú ý cao hơn so với các khối
khác, (p<0,05).
- Có mối tương quan nghịch, không chặt giữa khả năng chú ý với thời gian
phản xạ thị giác - vận động đơn giản và phức tạp (r= -0,159 và r= -0,18,
p<0,05). Có mối tương quan thuận, không chặt giữa khả năng chú ý với chỉ số
IQ (r= 0,243; p<0,05).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status