Thuế quan và qui tắc của GATT và WTO đối với Thuế quan - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Trong một năm qua, chúng ta cũng đã thực thi nghiêm túc các cam kết
gia nhập WTO của mình. Chúng ta đã xây dựng và hoàn chỉnh nhiều văn bản
pháp quy quan trọng nhằm đưa hệ thống pháp luật về kinh tế - thương mại phù
hợp hơn với thông lệ quốc tế và các quy định của WTO. Cho đến nay, việc sửa
đổi hoặc ban hành mới các luật và pháp lệnh theo cam kết đã hoàn tất, chỉ còn
một số văn bản dưới luật đang hoàn thiện. Chúng ta cũng chủ động sửa đổi
khoảng 30 luật và pháp lệnh cho phù hợp với các nguyên tắc và qui định của
WTO.
Về dỡ bỏ hàng rào quan thuế, từ đầu năm 2007, Việt Nam bắt đầu cắt
giảm gần 2000 dòng thuế theo cam kết gia nhập WTO, trong đó có bao gồm các
mặt hàng quan trọng như dệt may, hàng tiêu dùng, thiết bị xây dựng…Việt Nam
cũng nỗ lực mạnh mẽ cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục
hành chính và đẩy mạnh chống tham nhũng. Trên thực tế, trong nhiều lĩnh vực,
chúng ta đã mở cửa thị trường nhanh hơn, rộng hơn so với cam kết, trước hết là
vì lợi ích phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Để tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề hiện nay đang rất có sự ảnh hưởng cao
đến các tổ chức doanh nghiệp và cá thể kinh doanh khi đã là thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới, tôi đã chủ động lựa chọn đề tài "Thuế quan và qui
tắc của GATT và WTO đối với Thuế quan".1
NỘI DUNG
I. THUẾ QUAN, TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN TỚI
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Những khái niệm liên quan đến Thuế quan:
* Thuế quan: loại thuế áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu. Được tính
theo giá trị hàng hoá (theo tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hoá) hoặc theo một
cơ sở cố định (ví dụ 7 đô la trên 100 kg). Thuế quan sẽ tạo lợi thế về giá cho các
sản phẩm nội địa cùng loại và là một nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

khẩu. Đây là biện pháp để bảo vệ công nghiệp chế biến trong nước và hạn
chế mọi hoạt động chế biến tại các nước có nguyên vật liệu.
* Thuế chống bán phá giá: Điều VI Hiệp định GATT 1994 cho phép áp
dụng đối với hàng hoá bán phá giá một loại thuế chống phá giá ngang bằng với
khoản chênh lệch giữa giá xuất khẩu và giá trị thực của hàng hoá bán phá giá
nếu như việc bán phá giá gây thiệt hại cho các nhà sản xuất mặt hàng đó tại
nước nhập khẩu.
2. Vai trò của Thuế quan trong thương mại quốc tế:
Thuế quan đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế
đất nước, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển, đóng góp số
thu cho ngân sách. Tuy nhiên, khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của
WTO, việc bảo hộ sản xuất trong nước bằng con đường thuế quan không còn
phù hợp.
3
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với 160 nước và
vùng lãnh thổ, tham gia 86 hiệp định thương mại, 46 hiệp định hợp tác đầu tư
và 40 hiệp định chống đánh thuế 2 lần, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của
trên 70 nước, chính thức là thành viên thứ 150 của WTO năm 2006. Đối với
mỗi quốc gia, thuế quan có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ nền sản xuất
trong nước; đóng góp nguồn thu cho ngân sách và điều tiết hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu của mỗi quốc gia.
Thuế quan là thuế chính phủ đánh vào hàng hóa được chuyên chở qua
biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan. Thuế quan gồm thuế đánh vào hàng
hóa nhập khẩu và xuất khẩu (thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu). Thuế xuất
khẩu là một công cụ mà các nước đang phát triển thường sử dụng để đánh vào
một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia. Trái lại, ở nhiều nước phát triển
người ta không sử dụng thuế xuất khẩu do họ không đặt mục tiêu tăng nguồn
thu ngân sách từ thuế xuất khẩu. Vì vậy, ở những nước đó, khi nói tới thuế quan
người ta đồng nhất nó với thuế nhập khẩu. Để xác định mức độ chịu thuế của
các hàng hóa khác nhau mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan. Biểu thuế

bản Tuyên ngôn độc lập, ngày 10-9-1945, Sở thuế quan và thuế gián thu được
thành lập. Thuế quan Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp
xâm lược (từ 19-12-1946 đến tháng 7-1954): về cơ bản, luôn có mối quan hệ
mật thiết với các lực lượng vũ trang, dân quân du kích và ngoại thương. Thuế
quan Việt Nam thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thống nhất đất nước ở miền Nam đã phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong mỗi
giai đoạn lịch sử có nét đặc thù riêng.
Ngày 29-12-1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp lần thứ 2 thông qua Luật
Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, đồng thời có ban hành kèm theo biểu thuế
chung, biểu thuế xuất nhập khẩu cho từng mặt hàng, chưa tách 2 biểu thuế riêng
biệt. Biểu thuế này, được xây dựng dựa trên danh mục hàng xuất nhập khẩu
5
Việt Nam theo tiêu chuẩn của Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV). Biểu
thuế này hoàn toàn tuân theo từng mục đích sử dụng. Nói chung, biểu thuế xuất
nhập khẩu và cả Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu chỉ phù hợp cho giai
đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc xuất nhập khẩu theo chế độ nghị
định thư ký giữa các chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa (thị trường khu vực
I), sau đó cải tiến ban hành thêm khung thuế xuất nhập khẩu để chính phủ kịp
thời điều chỉnh cho hợp lý.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Luật Thuế xuất - nhập khẩu cũ
bộc lộ nhiều nhược điểm và chưa bảo vệ nền sản xuất hàng hóa nội địa, hướng
dẫn tiêu dùng, tăng thu cho ngân sách... Vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ
quan chức năng và trình Quốc hội thông qua Luật Thuế xuất - nhập khẩu ngày
26-11-1991. Mục đích của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là bảo vệ nền kinh tế
trong nước, tăng thu ngân sách cho Nhà nước và hướng dẫn bảo vệ quyền lợi
của người tiêu dùng. Năm 1993, 1998 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu cho phù hợp với tình
hình kinh tế chính trị của từng giai đoạn lịch sử. Sau 20 năm đổi mới, nước ta
đã hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới, tham gia và ký kết nhiều cam kết, hiệp
định quốc tế. Do đó, chính sách pháp luật cũng phải thay đổi để phù hợp với

II. QUI TẮC CỦA GATT VÀ WTO ĐỐI VỚI THUẾ QUAN
Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (viết tắt: GATT), về các
biểu thuế và thương mại, kí giữa nhiều bên ở Giơnevơ (Genève, 1947) có hiệu
lực bắt đầu từ 1.1.1948, đề ra những nguyên tắc về biểu thuế quan và những
chính sách thương mại giữa các nước kí kết. Tham gia kí kết hiệp định này có
khoảng 23 nước công nghiệp phát triển; về sau thêm một số nước Đông Âu như
Tiệp Khắc, Ba Lan, Nam Tư và một số nước đang phát triển như Myanma,
Xâylan (Ceylan), Cuba, Ấn Độ, Inđônêxia, Nicaragoa, vv…
7
Những nguyên tắc cơ bản:
1) Không phân biệt đối xử đối với tất cả các nước, đối xử với nước khác
theo quy chế tối huệ quốc về mặt thuế quan; những trường hợp ngoại lệ rất hạn
chế và được quy định chặt chẽ, vd. khi 6 nước của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu
(EEC) kí kết với nhau những điều khoản về thuế quan thì phải xin phép Hiệp
định chung về Thuế quan và thương mại (HĐCVTQVTM).
2) Ổn định những quyền thuế quan, những biểu thuế hay những hạn chế
tương tự; không được vượt mức quy định năm 1974, để giảm đến mức tối thiểu
những sự hạn chế mậu dịch tự do.
3) Nguyên tắc đàm phán, nhân nhượng lẫn nhau trong việc giảm bớt biểu
thuế quan. HĐCVTQVTM đóng một vai trò căn bản trong việc tự do hoá mậu
dịch và trong việc tiêu chuẩn hoá các chính sách và thông lệ mậu dịch quốc tế
sau Chiến tranh thế giới II. Từ 1964, theo đề nghị của tổng thống Mĩ, "Vòng
đàm phán Kennơđy" đã thoả thuận giảm 50% thuế quan (đối với tất cả các sản
phẩm), mỗi năm 10% từ 1968 đến 1972. Sự hình thành Cộng đồng Kinh tế
Châu Âu (EEC), sự kiến lập những hiệp hội thuế quan mâu thuẫn với đường lối
mậu dịch tự do của HĐCVTQVTM và biểu thế quan ưu đãi các nước thế giới
thứ ba, do đó hạn chế phạm vi hoạt động của HĐCVTQVTM. Mâu thuẫn xảy ra
giữa các nước công nghiệp và các nước thuộc thế giới thứ ba; những nước này
không tín nhiệm HĐCVTQVTM và lập ra UNCTAD (United Nations
Conference on Trade and Development - Hội nghị Liên hợp quốc về Thương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status