MỞ ĐẦU
Nhiều năm qua, thị trường EU không chỉ là thị trường lớn cho các mặt hàng nói
chung mà còn là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn của Việt Nam. Từ vị trí hết sức
khiêm tốn, các mặt hàng thủy sản Việt Nam đã từng bước thâm nhập và tạo được
chỗ đứng trên thị trường EU nói chung và từng thành viên EU nói riêng.
Bên cạnh những thành công thì việc XK thủy sản của Việt Nam sang thị trường
EU vẫn còn nhiều yếu tố bất định và thiếu tính bền vững.
Để biết được và hiểu được những vấn đề xoay quanh XK thủy sản của Việt Nam
sang EU thì chúng ta cùng đi tìm hiểu đề tài:
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu(EU)
trong giai đoạn năm 2010 – quý I 2015
I. Khái quát chung về thị trường thủy sản EU
1. Thông tin chung về EU
- Quá trình hình thành:
EU là một tổ chức kinh tế, chính trị hùng mạnh. EU được hình thành và
hoạt động trên cơ sở các hiệp ước chủ yếu sau:
+ Hiệp ước thành lập Cộng đồng Than thép Châu Âu(CECA) ký năm
1951, gồm 6 nước: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Lucxambua.
+ Hiệp ước thành lập Cộng đồng nguyên tử Châu Âu(EURATUM), ký
năm 1957.
+ Hiệp ước thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu(EEC), ký cùng ngày
với hiệp ước EURATUM.
+ Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu Âu(EC), ký năm 1967.
+ Hiệp ước Maastricht về thành lập Liên minh Châu Âu(EU) ký năm
1992, gồm 12 nước thành viên EC lập ra.
Cơ cấu tổ chức, mọi công việc của EU do 5 cơ quan chủ yếu thực hiện:
Hội đồng Châu Âu(EC), ủy ban Châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng, Nghị
viện Châu Âu, Tòa án Châu Âu.
- Các thành viên của Liên minh Châu Âu
Mỗi nước thành viên của Liên minh Châu Âu là một quốc gia có chủ
quyền đã gia nhập Liên minh Châu Âu(EU).
các sản phẩm thủy sản nước ấm) EU cũng nhập khẩu thủy sản từ hơn
180 quốc gia trên thế giới.
- Đặc điểm thị trường nhập khẩu của EU
EU thống nhất các qui định về chất lượng, sức khoẻ và an toàn vệ sinh
thực phẩm áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ Châu Âu. Thậm chí, Pháp và Ý
áp dụng quy định khắt khe hơn quy định của EU. Vì vậy, nhập khẩu
thủy sản vào Pháp, Ý có thể vẫn bị từ chối mặc dù đã tuân thủ đầy đủ
các điều kiện của EU. Đặc điểm then chốt các quy định của EU là hàng
thủy sản nhập khẩu vào EU từ các nước thành viên thứ 3 (không thuộc
EU) cần phải được chế biến, đóng gói và bảo quản tại các cơ quan mà
EU cho phép hoạt động.
Năm 2006, EU đưa ra luật mới đối với mặt hàng thủy sản nhập khẩu.
Luật mới được xem là nhất thể hóa qui định của EU. Luật mới về nhập
khẩu thủy sản vào EU là sự hợp nhất các qui định và chính sách đã được
hài hòa theo qui chuẩn của liên minh. Luật mới không nhằm gây khó
khăn hay giúp đỡ bất kỳ nước xuất khẩu nào cũng không phải để hạn
chế mặt hàng thủy sản vào EU mà nhằm mục đích bảo vệ người tiêu
dùng hiệu quả hơn. Bộ luật mới về nhập khẩu thủy sản được thể hiện
trong bốn hệ thống luật của EU với luật 178/2002 là chủ đạo và bốn luật
khác bổ sung bao gồm 852/2004, 853/2004, 882/2004 và 854/2004.
Luật nhập khẩu thủy sản được hài hòa và thống nhất là cơ hội cho các
nước xuất khẩu vì theo nguyên tắc chỉ cần đáp ứng tiêu chuẩn chung
của Cộng đồng châu Âu (EC), hàng thủy sản có thể vào bất kỳ thị
trường thành viên nào trong EU, thay vì phải điều chỉnh theo từng thị
trường như trước đây.
Muốn nhập khẩu được vào thị trường EU thì phải vượt qua được rào cản
kỹ thuật của EU. "Rào cản kỹ thuật" là biện pháp chủ yếu để bảo hộ sản
xuất và tiêu dùng nội địa hiện nay vì thuế nhập khẩu vào EU đang giảm
dần. Bởi vậy, yếu tố có tính quyết định để thâm nhập được vào thị
trường EU chính là vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU. Rào cản kỹ
Nha (13,23%); Đức (10,66%).
Cá fillet là nhóm sản phẩm thủy sản nhập khẩu lớn nhất xét về giá trị.
Nhập khẩu cá tươi ướp lạnh, các loài giáp xác và cá được chế biến hoặc
bảo quản qua chế biến cũng tăng, trong khi nhập khẩu động vật thân
mềm (sò, trai) giảm 0,8% năm 2009.
Cá fillet ( chủ yếu là cá hồi, cá ngừ) vẫn là loại thủy sản được ưa
chuộng ở tất cả các thị trường EU, tiếp theo là cá tươi, cá ướp lạnh.
Đứuc là nước nhập khẩu lớn nhất sản phẩm cá fillet và thịt cá, hoạt
động nhập khẩu đã tăng trong những năm gần đây. Tây Ban Nha, Italia
và Pháp là những nước nhập khẩu hàng đầu đọng vật thân mềm (sò, trai,
mực) chiếm hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của EU.
Năm 2009, tống giá trị nhập khẩu cá tươi và ướp lạnh tăng 7,54%, đạt
2,511 triệu Euro. Cá tươi và cá ướp lạnh là loại sản phẩm được các nước
thành viên EU nhập khẩu tương đối lớn về mặt giá trị chiếm 12,9% tổng
giá trị thủy sản của EU. Extonia, Đan Mạch và Đức là những nước nhập
khẩu cá hồi chính. Cả ba nuwosc này chiếm tới 80% tổng thị trường
nhập khẩu cá hồi của EU.
Thị trường nhập khẩu Tây Ban Nha: là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn
nhất EU, với mức tiêu thụ khoảng 44kg/người/năm. Tây Ban Nha nhập
khẩu chủ yếu là các sản phẩm tôm đông lạnh, cá tươi và đông lạnh, cá
hun khói, cá đóng hộp. Tôm đông lạnh là sản phẩm chính với sản lượng
nhập khẩu hàng năm đạt trên 31 ngàn tấn. Tây Ban Nha là 1 trong số
những quốc gia có số lượng tàu đánh cá lớn nhất thế giới, với nghề đánh
bắt cá và chế biến truyền thống. Hàng năm, đánh bắt và chế biến thủy
sản của Tây Ban Nha đóng góp 250.000 tấn sản phẩm, trong đó 50%
dành cho xuất khẩu. Các mặt hàng thủy sản của Tây Ban Nha chủ yếu
xuất sang EU, gồm cá ngừ, cá trích và nhiều loại thân mềm, nhuyễn thể.
Cùng với tiêu dùng nội địa, Tây Ban Nha đang thực hiện nhiều dự án
đầu tư thủy sản vào các nước châu Phi và Nam Mỹ. Các thị trường nhập
khẩu chính của Tây Ban Nha là Trung Quốc, Achentina, Colombia, Ấn
tấn/năm, tuy nhiên với hơn 57 triệu dân và hàng chục triệu khách du
lịch, hàng năm Italia phải nhập khẩu từ 0,9-1 triệu tấn thủy sản. Thị
trường nhập khẩu thủy sản của Italia hầu như ít biến động trong nhiều
năm qua. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Italia là cá ngừ đóng hôp,
mực đông lạnh, tôm và cá jillet đông lạnh.
II. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của VN sang thị trường EU trong thời gian
qua(từ năm 2010-quý I năm 2015)
1. Khái quát quan hệ thủy sản VN – EU
Sau 25 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 11/1990, quan
hệ Việt Nam và EU đã có những bước phát triển nhanh chóng và vững chắc trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển, cũng như
giáo dục, khoa học công nghệ Ngày nay, Liên minh châu Âu là đối tác quan
trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
Trong thập kỷ qua, EU là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam.
Quan hệ thương mại song phương Việt Nam – EU trong những năm gần đây đã có
những bước phát triển đáng kể. Năm 1995, Việt Nam ký Hiệp định khung về hợp
tác và phát triển với EU. Tiếp đó là những kế hoạch và chương trình nhằm tăng
cường quan hệ hợp tác giữa hai bên. Đến năm 2010, Việt Nam và EU hoàn thành
đàm phán và ký tắt Hiệp định đối tác, hợp tác toàn diện (PCA).
Năm 2015, việc ký kết Hiệp định đối tác và hợp tác và đàm phán FTA là
những dấu hiệu tích cực của mối quan hệ đối tác song phương giữa Viet Nam và
EU.
EU là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam sau Trung quốc, với kim ngạch
thương mại Việt Nam – EU đạt 27 tỷ euro trong năm 2013, Việt Nam là đối tác
thương mại lớn thứ 4 của EU tại Đông Nam Á và lớn thứ 30 trên thê giới.
Quan hệ thương mại thủy sản giữa EU và Việt Nam thể hiện sự hỗ trợ hàng thủy
sản qua câc dự án. Cụ thể:
- Năm 2002 , trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Aixơlen, ngoài
thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực thủy sản trị giá 100 triệu USD,
vào EU.
Biểu đồ 1.1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU giai
đoạn 2010- Q1 2015
Đơn vị: tỷ USD
Nguồn : Tổng cục hải quan
Trong năm 2010 và năm 2011, xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU khởi
sắc với mức kim ngạch là 1,204 tỷ USD và 1,360 tỷ USD. Số liệu Thống kê Hải
quan cho thấy trong năm 2012 xuất khẩu nhóm hàng này đạt 1,133 tỷ USD, giảm
nhẹ 16,7 % (tương ứng giảm 227 triệu USD về số tuyệt đối) so với năm 2011.
Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU có sự tăng
nhẹ từ 1,133 tỷ USD (2012) lên 1,182 tỷ USD (2013), tăng 4,32% so với năm
2012.
Trong năm 2014, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU đạt
1,4 tỷ USD, tăng 18,44%, tương ứng tăng 0,218 tỷ USD so với năm trước. Xuất
khẩu hàng thuỷ sản trong năm nay có mức tăng kim ngạch kỷ lục và cũng có tốc
độ tăng cao nhất so với năm trước trong vòng 3 năm trở lại đây.
Trong giai đoạn năm 2010 – quý I năm 2015, tình hình xuất khẩu thủy sản
sang thị trường EU có nhiều biến động, có tăng và có sự giảm nhẹ. Nhưng nói
chung, thị trường EU vẫn là một trong 4 thị trường nhập khẩu thủy sản đầy tiềm
năng đối với Việt Nam.
Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
Biểu đồ 1.2 Sản phẩm chính XK sang EU quý II/2013
Nguồn :
Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu vào EU là khá đa dạng với nhiều chủng loại.
hàng thủy sản Việt Nam hiện đã xuất khẩu tới 27 quốc gia EU, gồm các mặt hàng
sản phẩm cá, tôm, mực, bạch tuộc…
Tính đến giữa tháng 8/2013, XK thủy sản của Việt Nam sang EU ĐẠT 667,3 triệu
USD, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó XK cá tra giảm 12,8% đạt
237 triệu USD, XK tôm tăng 5.3% đạt 195 triệu USD….ước tính XK sang thị
trường này 8 tháng đầu năm sẽ đạt khoảng 720 triệu, giảm 4,6% so với cùng kỳ
tăng từ 3,2% - 33,8%.
Mặc dù nhu cầu tiêu thụ tôm tại EU vẫn chưa cải thiện nhưng do nguồn cung từ
Thái Lan giảm mạnh đã giúp Việt Nam gia tăng XK tôm sang thị trường này.
- XK cá tra
XK cá tra quý II/2013 đạt 95,9 triệu USD, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm 2012.
XK cá tra 6 tháng đầu năm đạt 191,3 triệu USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm
2012.
+ XK sang Tây Ban Nha: XK cá tra sang Tây Ban Nha 6 tháng đầu năm đạt 39,8
triệu USD, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó XK cá tra sang Tây
Ban Nha quý II/2013 đạt 18,3 triệu USD, giảm gần 24% so với cùng kỳ năm 2012.
Mặc dù XK cá tra vào thị trường Tây Ban Nha liên tục sụt giảm nhưng đây vẫn
duy trì là nước NK nhiều cá tra nhất trong khối EU.
+ XK sang Đức: XK cá tra quý II/2013 đạt 10,009 triệu USD, giảm 22,3% so với
cùng kỳ năm 2012. XK 6 tháng đầu năm 2013 đạt 22,8 triệu USD, giảm 17,2% so
với cùng kỳ năm 2012. Đức tiếp tục là nhà NK cá tra ViệtNam lớn thứ 3 trong
khối EU và là thị trường tiêu thụ cá tra đơn lẻ lớn thứ 8 của Việt Nam. Tuy nhiên,
tiêu thụ cá tra tại thị trường này hiện vẫn chưa khởi sắc và sẽ khó có đột phá trong
tương lai gần. NK cá tra giảm trong 2 quý đầu năm nay một phần do nhu cầu tiêu
dùng chung tại thị trường Đức giảm, phần khác do nguồn cung một số loài cá thịt
trắng khác dồi dào và có giá rẻ hơn. Vốn nhạy cảm với giá cả nên khi giá một số
loài cá thịt trắng khác giảm, người tiêu dùng đã chuyển sang mua các sản phẩm
này. Ngoài ra, một phần của sự thay đổi cũng do các chiến dịch quảng bá cá thịt
trắng đang diễn ra khá mạnh.
+ XK sang Anh: XK cá tra quý II/2013 đạt 11,6 triệu USD, tăng 15,4% so với
cùng kỳ năm 2012. XK 6 tháng đầu năm đạt 19,4 triệu USD, tăng 5,6% so với
cùng kỳ năm 2012. Đây là nước duy nhất trong 4 nước NK lớn cá tra trong khối
EU tăng trưởng trong quý II và 6 tháng đầu năm 2013. Hiện nay nguồn cung cá
nội địa của Anh đã cạn kiệt và không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ tại thị trường
này. Anh đang phải phụ thuộc vào cá tuyết NK và một số loài cá thịt trắng khác.
Với nguồn cung nội địa chỉ đáp ứng được gần 8 tháng trong năm, Anh buộc phải
Trong những năm qua, tỷ trọng hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang
EU liên tục tăng cả về mặt giá trị lẫn sản lượng.
Bên cạnh những thành tựu đó, trong những năm qua cũng đánh dấu những
kết quả đạt được trong việc vượt qua các dào cản thương mại của hành thủy
sản xuất khẩu của Việt Nam sang EU.
Về mặt thuế quan:
Do Việt Nam được hưởng chế độ GSP nên hàng thủy sản của Việt Nam
xuất khẩu sang EU cũng có nhiều lợi thế hơn so với các quốc gia được
hưởng GSP khác, do đó Việt Nam vẫn luôn nằm trong danh sách các quốc
gia được hưởng GSP, do đó Việt Nam vẫn luôn nằm trong danh sách các
quốc gia được hường GSP của EU.
Việc đáp ứng các tiêu chuẩn của EU về tiêu chuẩn kĩ thuật:
Mặc dù sự kiểm tra của cơ quan quản lí thực phẩm EU ngày càng khắt khe,
nhưng sản lượng xuất khẩu thủy sản của Viết Nam vẫn không ngừng tăng.
Điều đó cho thấy chất lượng các mặt hàng thủy sản luôn được đảm bảo, và
nâng cao. Nó thể hiện các điều kiện kỹ thuật về thủy sản của Việt Nam
ngày càng được cải tiến, các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng phục hồi
nuôi trồng, đánh bắt thủy sản luôn được đổi mới, công nghệ chế biến thủy
sản ( theo tiêu chuẩn HACCP) luôn được cải tiến. Các doanh nghiệp tham
gia xuất khẩu thủy sản đều có đủ tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm
và được EU chấp nhận. Những thành tự đổi mới đó đã tạo uy tín trên thị
trường EU. Chính vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản đa tăng cường áp dụng
các hệ thống tiêu chuẩn kĩ thuật phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi khắt khe
của EU.
Vấn đề bán phá giá hàng thủy sản:
Hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU gặp rất ít và hầu như không có
vụ bán phá giá nào. Một phần là do nhu cầu nhập khẩu thủy sản của thị
trường EU lớn nên EU thường không dùng biện pháp chống banns phá giá
như một biện pháp trả đũa thương mại mang tính chính trị như Mỹ. Bên
cạnh đó hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sáng EU với mức giá hợp lí và
thi phần của ta còn nhỏ so với các nước này. Sức cạnh tranh hàng thủy sản
tăng nhưng không ổn định, tốc độ tăng nhưng không ổn định, tốc độ tăng
còn chậm. Điểm yếu nhất của sức cạnh tranh hàng thủy sản của Việt Nam
là khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
chưa cao.
Hoạt động thâm nhập thị trường của doanh nghiệp Việt Nam còn thụ động
phụ thuộc nhiều vào phía đối tác EU, công nghệ chế biến thủy sản đã được
đầu tư, tuy nhiên vẫn chưa cao.
2. Thách thức đối với doanh nghiệp XK thủy sản của Việt Nam vượt qua rào
cản thương mại EU.
-Các rào cản về quy trình và thủ tục nhập khẩu thủy sản của EU
-Các rào cản về kiểm tra, kiểm soát nhập khẩu thủy sản của các cơ quan
quản lý.
-Các rào cản về thuế của EU.
-Các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, bao gói và ghi nhận hàng thủy
sản nhập khẩu vào EU.
-Các rào cản liên quan đến xuất xứ, nguồn gốc sản phẩm thủy sản nhập
khẩu vào EU.
-Các rào cản của EU về bao gói, ghi nhãn sản phẩm thủy sản.
-Các rào cản quy định về môi trường của EU đối với hàng thủy sản.
3. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh XK thủy sản sang thị trường EU
-Cần giám sát chặt, xử lý nghiêm cả phía nhà nước và phía doanh
nghiệp.
Sau khi EU cảnh báo đối với hàng thủy sản Việt Nam, ngày 17/12/2014
NAFIQAD đã có Công văn 2854/QLCL-CL1 yêu cầu 19 doanh nghiệp, cơ
sở chế biến xuất khẩu thủy sản có các lô hàng xuất khẩu vào EU bị cảnh
báo không đảm bảo an toàn thực phẩm, nghiêm túc điều tra, xác định
nguyên nhân và tổ chức khắc phục. Động thái này của NAFIQAD nhằm kịp
thời có được giải trình cụ thể từ phía doanh nghiệp để có câu trả lời sớm
nhất theo đề nghị từ EU. Đương nhiên, đối với 19 doanh nghiệp bị cảnh
sản Việt Nam có thể hợp tác với các doanh nghiệp địa phương, kết nối cộng
đồng người Việt tại châu Âu nhằm xúc tiến đầu tư vào thị trường này.
Các doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại lâu dài và phát triển tại
thị trường EU cần phải tiến hành xây dựng, nâng cao và phát triển thương
hiệu.
Đẩy mạnh mô hình kinh doanh thương mại điện tử. Thương mại điện
tử mang lại một lợi ích vô cùng lớn cho doanh nghiệp. Với hệ thống
website, gian hàng trên sàn giao dịch thương mại điện tử B2B thì doanh
nghiệp hoàn toàn có thể tự tin rằng hàng hóa của họ có thể tiếp cận không
chỉ với khách hàng châu Âu mà còn trên toàn thế giới. Đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nói
riêng thì nguồn nguyên liệu có ý nghĩa sống còn và cũng là một yếu tố tạo
dựng uy tín đối với khách hàng. Để tạo được sự chủ động trong xuất khẩu
thủy sản thì các doanh nghiệp cần chú ý tạo ra nhiều nguồn cung cấp thông
qua việc kí hợp đồng với nhiều nhà cung cấp ( không bao giờ phụ thuộc
vào một nhà cung cấp). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng có thể góp
vốn đầu tư vào các trang trại nuôi trồng thủy sản để tạo sự chủ động cho
mình. Ngoài ra cũng có thể tìm kiếm nhà cung ứng nước ngoài nếu như các
doanh nghiệp trong nước không thể đáp ứng được( thời gian, số lượng, chất
lượng)
Về phía nhà nước
Hoàn thiện hệ thống pháp lí. Cần rà soát và thay đổi những qui định
không còn phù hợp với thời đại ngày nay như: Một số điều trong luật thủy
sản, luật đầu tư nước ngoài, luật khuyến khích đầu tư trong nước để tạo ra
các điều kiện thông thoáng hơn cho phát triển và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài để phát triển ngành thủy sản. Bên cạnh đó cần đào tạo đội ngũ cán bộ
công chức đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trong thời đại mới
Đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Đây
là một quyết định đúng đắn của nhà nước bởi lẽ điều này sẽ tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp có thể tự chủ trong quá trình hoạt động, xây dựng