nh hng ca ch dinh dng và phng thc cho n n nng sut, cht lng sa và
hiu qu kinh t trong
chn nuôi bò sa nông h Ba Vì
1
1
1
Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
1
Bộ môn Dinh dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ
Tóm tt
Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng và phương thức cho ăn thức ăn TMR đến năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa nông hộ Ba Vì. Thí nghiệm trên 15 bò vắt sữa, được chia làm 2
mùa, mùa đông và mùa mưa. Bò được bố trí thí nghiệm theo ô vuông la tinh. Kết quả: Lượng vật chất khô thu nhận
của đàn bò tăng so với lô đối chứng từ 3,4 đến 8%; Năng suất sữa quy đổi 4% mỡ ở lô thí nghiệm cao hơn lô đối
chứng từ 9,2 đến 11,7%; Chất lượng sữa của lô thí nghiệm với các chỉ tiêu: mỡ, tỷ lệ vật chất khô và tỷ trọng sữa
đều cao hơn lô đối chứng rõ rệt (P<0,05); Mức thay đổi khối lượng bò: bò lô thí nghiệm tăng 1,7kg/tháng, bò lô thí
nghiệm tăng 6,3kg/tháng; Hiệu quả kinh tế: do đầu tư máy móc và phải dùng năng lượng điện, nên mô hình chăn
nuôi phải có 17 bò vắt sữa trở lên mới có hiệu quả.
1. t vn
Chúng ta biết rằng: năng suất chăn nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản là tính năng di
truyền và chế độ dinh dưỡng hợp lý. Việc cung cấp chất dinh dưỡng như năng lượng, protein,
khoáng, vitamin vv… đầy đủ và thích hợp là hết sức quan trọng đối với sức khỏe bò sữa và để
đạt năng suất sữa tối đa. Khẩu phần bò sữa bao gồm thức ăn thô, thức ăn tinh, thức ăn bổ sung
- Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được thiết kế theo theo kiểu ô vuông la tinh, trong đó
bò thí nghiệm được phân chia vào 5 khối, mỗi khối 3 con dựa vào yếu tố tháng sữa và năng suất
sữa. Bò ở tất cả các lô thí nghiệm được nuôi nhốt cá thể, mỗi con có máng ăn và máng uống
riêng. Sơ đồ bố trí gia súc thí nghiệm (theo số hiệu bò) vào các lô ở mỗi lần thí nghiệm được
trình bày ở bảng 1.
. Sơ đồ bố trí bò thí nghiệm
Mùa đông
Mùa hè
Lô 1
Lô 2
Lô 3
Lô 1
Lô 2
Lô 3
Khối 1
3220
3278
3192
479
530
708
Khối 2
106
915
3422
214
427
990
Mỗi bò thí nghiệm sẽ được ăn cả ba khẩu phần ở ba lần nhắc lại khác nhau. Do đặc điểm
này mà khẩu phần của lô đối chứng chỉ được xác định sau khi kết thúc thí nghiệm còn khẩu phần
lô 2 và lô 3 được xây dựng từ lúc trước khi bắt đầu thí nghiệm.
. Công thức khẩu phần cho bò ở các lô thí nghiệm
a
Nguyên liệu
Mùa khô
Mùa mưa
Lô 1
b
Lô 2
Lô 3
Lô 1
b
Lô 2
Lô 3
Cỏ voi
29,7
24,7
25,7
48,2
39,7
39,2
Cỏ Ruzi khô
2
0,4
0,6
Bột sắn
1,86
1,84
Rỉ mật
1,9
2
1
1
Dầu ăn
0,22
0,23
0,1
0,13
Urea
0,04
0,04
0,05
trong mô hình. Đối với phương pháp xác định hiệu quả kinh tế theo mô hình cố định, tiến hành
phân tích hiệu quả kinh tế của một trại chăn nuôi có quy mô cố định (5 bò vắt sữa) và áp dụng
phương pháp phân tích riêng phần (partial budget analysis), nghĩa là chỉ đưa vào phân tích những
phần có sự khác biệt về thu chi giữa các lô thí nghiệm. Những phần được xem là giống nhau giữa
các lô sẽ không đưa vào phân tích. Hiệu quả kinh tế của lô này so với lô kia sẽ được phân tích
theo công thức:
Hiệu quả kinh tế = (Tăng thu + Giảm chi) – (Tăng chi + Giảm thu) Trong đó riêng phần thu nhập chỉ đưa vào phân tích phần thu nhập từ bán sữa. Các khoản
thu nhập từ bê hoặc từ các sản phẩm phụ khác trong quá trình chăn nuôi bò sữa được xem là như
nhau giữa các lô TN. Phần chi phí bao gồm chi phí cố định (chỉ phân tích phần chi phí cố định
phát sinh khi áp dụng cho lô này so với lô kia: máy thái thức ăn thô và máy trộn TMR) và chi phí
biến đổi (chi phí thức ăn và chi phí năng lượng tính trên đơn vị đầu con). Đối với phương pháp
xác định hiệu quả kinh tế theo mô hình mô phỏng, dựa vào các số liệu kinh tế và kỹ thuật của thí
nghiệm để xác hiệu quả kinh tế (hiệu số giữa Tăng thu + Giảm chi và Tăng chi + Giảm thu) để
xác định qui mô tối thiểu của đàn vắt sữa để bò nuôi theo lô TN này có hiệu quả hơn so với lô
TN kia. - Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được tính toán trên bảng tính Excel 2007 và sau đó xử lý thống kê bằng phương
pháp phân tích phương sai (ANOVA) với mô hình phân tích theo thiết kế ô vuông latinh trên
phần mềm Minitab 14 với các tham số là lô, khối và đợt thí nghiệm. So sánh cặp đôi giữa các giá
trị trung bình của các chỉ tiêu giữa các lô thí nghiệm áp dụng phương pháp Tukey.
3. Kt qu và tho lun
. Lượng thức ăn thu nhận của bò ở các lô thí nghiệm
i
14,39
b
14,77
c
0,19
<0,05
VCK thừa
1,06
b
1,02
b
0,61
a
0,06
<0,05
1,37
b
1,28
b
0,79
a
0,08
7,37
b
7,58
b
0,13
<0,05
5,92
a
7,19
b
7,22
b
0,09
<0,05
Tỷ lệ TĂ
tinh
j
53,72
50,44
50,02 56,73
50,02
đa hóa được lượng thức ăn thu nhận cũng như giảm thiểu lượng thức ăn thừa.
Trong khi đó, phần thức ăn thừa của lô 2 hầu như chỉ là phần thức ăn thô và không thể sử
dụng lại cho nhóm bò nào khác. Như vậy, mức độ thất thoát thức ăn của phương thức cho ăn
TMR là nhỏ hơn đáng kể so với phương thức cho ăn truyền thống.
. Năng suất sữa và tiêu tốn thức ăn cho tạo sữa của bò thí nghiệm
Mùa vụ
Mùa khô
Mùa mưa
Chỉ tiêu
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
P
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
P
Năng suất sữa
(kg/ngày)
15,7
a
17,0
b
17,1
b
14,86
b
15,41
c
0,191
<0,05
Năng suất VCK
sữa (kg/ngày)
1,93
a
2,02
b
2,10
c
0,029
<0,05
1,72
a
1,86
b
1,94
c
a
0,59
b
0,61
c
0,003
<0,05
Chi phí VCK
thức ăn/kg sữa
tiêu chuẩn (kg)
0,96
b
0,89
a
0,90
a
0,025
<0,05
0,99
b
0,97
a
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
P
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
P
Tỷ lệ mỡ sữa TB
ngày (%)
3,76
a
3,85
b
3,91
b
0,027
<0,05
3,68
a
3,77
b
3,84
a
7,97
a
8,11
b
0,062
<0,05
Tỷ lệ VCK sữa (%)
12,01
a
12,26
b
12,35
b
0,061
<0,05
11,63
a
11,98
b
12,21
c
4,9%. Vì vậy, tỷ trọng sữa của lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng từ 6,7% đến 7,6%. Sự khác
biệt giữa lô ăn TMR và lô ăn truyền thống có thể do tác động tích cực của việc cung cấp một
cách đồng thời, đầy đủ các nguyên liệu cần thiết cho hoạt động hệ vi sinh vật dạ cỏ. Snowdon
(1991), Neitz và Dugmore (2005), Lammers và cộng sự (2007) cũng cho rằng, phương thức cho
ăn dạng TMR giúp duy trì ổn định môi trường dạ cỏ và thích hợp cho sự phát triển của vi sinh
vật hơn phương thức ăn tinh-thô riêng biệt.
Phương pháp cho ăn TMR thể hiện rõ tác động tích cực lên chất lượng sữa Tuy nhiên, tỷ
lệ protêin sữa lại không có khác biệt rõ rệt giữa hai phương pháp cho ăn. Điều này là do sự thay
đổi protêin sữa cần một khoảng thời gian dài hơn sự thay đổi mỡ sữa. Trong khi tình trạng mỡ
sữa thấp có thể được cải thiện sau 21 ngày bằng cách thay đổi khẩu phần, thì để cải thiện hàm
lượng protein sữa cần khoảng thời gian là 3 đến 6 tuần hoặc lâu hơn nữa (Heinrichs và cộng sự,
1997).
3.3. M
. Ảnh hưởng của chế độ và phương thức nuôi dưỡng đến tăng trọng của bò
Chỉ tiêu
Mùa khô
Mùa mưa
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
P
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
P
Khối lượng trước thí
nghiệm (kg)
444,1
nuôi (lô đối chứng) không tiết kiệm được nhiều về khoản chi cho thức ăn so với 2 lô được tính
toán khẩu phần. Trong khi đó năng suất sữa của bò ở lô đối chứng lại thấp hơn rõ rệt so với 2 lô
kia (bảng 4), vì vậy chi phí thức ăn/kg sữa sản xuất được của lô đối chứng là cao hơn. Cụ thể chi
phí thức ăn/kg sữa tiêu chuẩn ở lô 1, lô 2, lô 3 lần lượt là 5366, 5289 và 5192 đ vào mùa đông và
4790, 4730, 4701 đ vào mùa hè.
. Chi phí thức ăn của bò thí nghiệm
()
Nguyên liệu
Đơn giá
(vnđ/kg)
Mùa khô
Mùa mưa
Lô 1
Lô 2
Lô 3
Lô 1
Lô 2
Lô 3
Cỏ voi (Mùa khô)
800
23760
19760
20560
0
0
0
Cỏ voi (Mùa mưa)
300
0
0
0
13200
12100
0
14740
15180
Bột ngô
5000
0
9500
10000
0
2000
3000
Bột sắn
2800
0
0
0
0
5208
5152
Rỉ mật
3000
0
5700
6000
0
3000
3000
3,67
>0,05 Urea
9000
0
360
360
0
450
450
Tổng chi TĂ
81560
87790
87740
66060
70298
72452
Chi phí thức ăn là phần chi phí quan trọng quyết định đến giá sữa sản xuất tại nông hộ,
tuy nhiên chi phí thức ăn chưa phải là toàn bộ chi phí cho sản xuất sữa. Một số chi phí khác có
liên quan đến giá thành sản phẩm (giá sữa sản xuất) cần được đưa vào phân tích khi so sánh hiệu
quả kinh tế giữa các phương thức chăn nuôi là chi khấu hao máy móc, chi lãi ngân hàng và chi
phí năng lượng.
. Chi phí khác
Chi khấu hao máy móc
Chi phí (đ/ngày)
chuồng trại, con giống, công lao động được xem là như nhau giữa các phương thức chăn nuôi.
Phương thức chăn nuôi sử dụng TMR đòi hỏi phải đầu tư thêm các máy móc là máy thái
thức ăn thô khô và máy trộn TMR với tổng chi phí là 80 triệu đồng. Theo số liệu ở bảng 8, nếu
tính khấu hao máy trong thời gian 6 năm và mức lãi vay ngân hàng là 14%/năm thì chi phí cố
định ở lô 3 sẽ cao hơn 2 lô còn lại là 67214 đ/ngày (bao gồm khấu hao máy móc 36529đ và lãi
ngân hàng 30685đ). Ngoài ra, việc vận hành các loại máy móc này cũng làm chi phí năng lượng
(điện) cho bò ở lô 3 tăng thêm 573 đ/con/ngày (với giá điện 1000đ/KWh).
. Tổng hợp chi phí và thu nhập theo ngày (mô hình 5 con)
Mùa khô
Mùa mưa
Lô 1
Lô 2
lô 3
Lô 1
Lô 2
Lô 3
Chi phí cố định
A
1
A
A + 67214
A
A
A + 67214
Chi phí biến đổi
67215
0
0
67214
Tăng chi biến đổi (TĂ + năng lượng; đ/ngày)
Lô 2 so với lô 1
0
31150
0
21190
Lô 3 (TMR) so với lô 1
0
33765
0
34825
Lô 3 (TMR) so với lô 2
0
2615
0
13635
Tổng tăng chi (đ/ngày)
Lô 2 so với lô 1
32688 36980
Lô 3 (TMR) so với lô 1 57685 75835
Lô 3 (TMR) so với lô 2 24997 38855
Tăng thu - tăng chi (đ/ngày)
Bảng 9 cho thấy, với quy mô chăn nuôi 5 bò vắt sữa, phương thức chăn nuôi TMR không
đem lại hiệu quả kinh tế so với hai phương thức chăn nuôi còn lại. Phần thu nhập tăng thêm từ
bán sữa không đủ bù đắp phần tăng chi cố định quá lớn do phải đầu tư máy móc và chi lãi ngân
hàng.
Cũng theo bảng tổng hợp chi phí và thu nhập cho quy mô 5 con, phương thức chăn nuôi
truyền thống có tính toán khẩu phần mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Đó là với quy mô đàn 5
con, còn khi quy mô chăn nuôi tăng lên, chi phí cố định tính theo đầu con sẽ giảm đi và cán cân
so sánh sẽ có những biến đổi.
Để xác định quy mô đàn tối thiểu mà tại đó phương thức nuôi TMR sẽ cho hiệu quả kinh tế
cao hơn phương thức nuôi truyền thống, chúng tôi đã xây dựng đồ thị mô tả mối quan hệ giữa quy
mô đàn vắt sữa và hiệu số tăng thu-tăng chi của lô 3 so với lô 1 và lô 2.
Ảnh hưởng của quy mô chăn nuôi đến hiệu quả kinh tế Đồ thị về ảnh hưởng của quy mô chăn nuôi đến hiệu quả kinh tế được xây dựng dựa trên
những số liệu kinh tế, kỹ thuật thu thập được trong quá trình thí nghiệm (bảng 4, bảng 7, bảng 8),
đồng thời coi phần chi phí biến đổi tính trên đơn vị đầu bò là không đổi, chỉ thay đổi quy mô
chăn nuôi. Đồ thị cho thấy, quy mô đàn tối thiểu để lô TMR cho hiệu quả kinh tế cao hơn lô đối
chứng (cho ăn theo kinh nghiệm) và lô truyền thống (có tính toán khẩu phần) lần lượt là 7 và 17
bò vắt sữa trở lên.
Như vậy, phương thức chăn nuôi có tính toán khẩu phần chính xác đem lại hiệu quả kinh tế
cao hơn so với phương thức chăn nuôi theo kinh nghiệm ngay cả ở quy mô chăn nuôi 1 bò vắt sữa.
Trong khi đó, do phải đầu tư thêm trang thiết bị, máy móc nên dù bò cho năng suất và chất lượng sữa
cao hơn thì phải ở quy mô chăn nuôi từ 17 bò vắt sữa trở lên, phương thức chăn nuôi TMR mới đem
lại hiệu quả kinh tế cao hơn hai phương thức chăn nuôi còn lại. Nghĩa là, chỉ với quy mô chăn nuôi
từ 17 bò vắt sữa trở lên thì phần tăng thu từ bán sữa mới đủ bù đắp phần tăng chi khấu hao máy móc
và mang lại phần thu nhập tăng thêm cho người chăn nuôi.
4. Kt lun và ngh
Importance of Milk Fat and Protein Variation in Your Dairy Herd, Pennsylvania State University,
http://www.das.psu.edu/research-extension/dairy/nutrition/pdf/milkcomp0597.pdf
8. Hutjens Michael F. (2007). Managing physiological curves for peak milk, University of Illinois
Urbana, Illinois, U.S.A., http://www.livestocktrail.uiuc.edu/dairynet/paperDisplay.cfm?ContentID=9770
9. Lammers, B.P., Heinrichs, A.J., Ishler, V.A (2007). Use of total mixed rations (TMR) for dairy cows.
www.das.psu.edu/dairynutrition/documents/tmr.pdf .
10. NARO. 2006. Japanese Feeding Standard for Dairy Cattle. Japan Livestock Industry Association.
11. Neitz, M.H and Dugmore, T. J (2005). Total mixed rations for dairy cattle.
http://agriculture.kzntl.gov.za/portal/Publications/ProductionGuidelines/DairyinginKwaZuluNatal/TotalMixedR
ationsforDairyCattle/tabid/254/Default.aspx
12. NRC, 2001. Nutrient requirement of dairy cattle: Seventh Revised Edition. National Academy Press
Washington D.C.
13. Palmquist, D. L., A. D. Beaulieu, and D. M. Barbano. 1993. ADSA foundation symposium: Milk fat synthesis
and modification, feed and animal factors influencing milk fat composition. J. Dairy Sci. 76:1753–1771.
Snowdon, M (1991) Total Mixed Rations for Dairy Cattle. Livestock Nutrition. Issue 91.3, July, 1991.
www.gnb.ca/0170/01700007-e.asp