VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
330
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG LÚA TẺ THƠM
CHO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
ThS. Nguyễn Xuân Dũng
1
, PGS.TS. Lê Vĩnh Thảo
1
,
PGS.TS. Nguyễn Minh Công
2
, Nguyễn Thị Gấm
3
,
Nguyễn Thị Bích Hợp
3
và ctv.
1
Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông
2
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I
3
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
SUMMARY
Status of production and research breeding aromatic glutinous,
high quality rice in the red river delta region
The cultivated area of aromatic rice varieties with high quality in the Red River Delta (RRD) in the
period 2005 - 2010 increased markedly. The area of aromatic rice in the whole region was 215,203.5
hectares in 2010, increased by 2.7 times compared with 2005 (79,802.7ha). The rate of cultivated area
of aromatic rice in the whole region was 18.27% in 2010, increased 2.96 times compared with 2005
triệu ha và chiếm 90,3% tổng diện tích đất đất
trồng cây lương thực có hạt, chủ yếu tập trung ở Người phản biện: PGS.TS. Tạ Minh Sơn.
đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH). Theo Tổng cục Thống kê, diện
tích lúa cả năm 2010 của vùng ĐBSH là 1.150,1
nghìn ha, về diện tích và tổng sản lượng lương
thực, đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau đồng
bằng sông Cửu Long. Vì vậy, ĐBSH giữ vị trí
quan trọng trong sản xuất lúa của cả nước.
Trong những năm gần đây, số lượng gạo xuất
khẩu của nước t
a tăng đều đặn, năm 2010 lượng
gạo xuất khẩu đạt xấp xỉ 6,8 triệu tấn, thu về trên
3,2 tỷ đô la Mỹ cho đất nước. Số lượng xuất khẩu
gạo của Việt Nam xếp hàng thứ nhì trên thế giới
sau Thái Lan. Song về chất lượng, đa số gạo xuất
khẩu của ta thuộc loại thấp và một ít đạt loại trung
bình nên hiệu quả kinh tế không cao, đời sống
người dân trồng lúa rất chậm cải thiện.
Hiện nay, lúa thơm được khuyến khích trồng
để xuất khẩu và phục vụ nội tiêu không có giới
Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất
331
hạn. Tuy nhiên bộ giống lúa thơm của Việt Nam
hiện nay chưa đa dạng phong phú, tính thích ứng
còn hẹp, các giống lúa thơm nhập nội có tiềm
thập các tài liệu có liên quan đến công tác chọn
tạo giống, tình hình sản xuất lúa, lúa thơm ở các
tỉnh ĐBSH qua văn bản của các Bộ, ngành, các
tổ chức, cá nhân liên quan, tài liệu trên các tạp
chí, giáo trình và các trang Website chuyên
ngành; (ii) Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp:
Tiến hành điều tra sản xuất lúa, lúa tẻ thơm tại ở
11 tỉnh của v
ùng ĐBSH và 33 huyện trực thuộc
(mỗi tỉnh điều tra 3 huyện).
- Phương pháp thống kê: Thống kê mô tả,
thống kê so sánh.
2.2.2. Phương pháp chọn tạo giống
- Phương pháp tạo vật liệu khởi đầu: Phương
pháp lai hữu tính (lai đơn, lai kép, lai ba, ); tạo
giống bằng đột biến gen (sử dụng phóng xạ C
o
60
chiếu xạ khi hạt nẩy mầm).
- Chọn lọc các dòng: Theo phương pháp hỗn
hệ, phả hệ hoặc kết hợp 2 phương pháp trên trong
nhà lưới và trên đồng ruộng.
- Đánh giá các đặc điểm nông sinh học theo
phương pháp chuẩn của Viện Nghiên cứu lúa
quốc tế và trong nước.
- Trình diễn, mở rộng thử giống mới: theo
quy trình khảo nghiệm của Bộ Nông nghiệp và
PTNT.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tình hình sản xuất lúa và lúa tẻ thơm ở
Dương (127,5 nghìn ha). Năng suất trung bình
của vùng ĐBSH năm 2010 là 59,2 tạ/ha. Hai
tỉnh Hưng Yên và Thái Bình có năng suất bình
quân đạt cao nhất (trên 62 tạ/ha). Sản lượng lúa
cả năm của vùng ĐBSH đạt 6.803,4 nghìn tấn.
Trong đó, diện tíc
h lúa Đông Xuân là 568,7
nghìn ha; năng suất lúa Đông Xuân của vùng là
63,2 tạ/ha; sản lượng lúa Đông Xuân đạt 3.592,6
nghìn tấn. Diện tích lúa Mùa là 581,4 nghìn ha;
năng suất lúa mùa là 55,2 tạ/ha; sản lượng lúa
Mùa 3.210,8 nghìn tấn.
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
332
Cơ cấu các giống lúa ở vùng ĐBSH đã
hình thành nên 2 vụ chính là vụ lúa Xuân và vụ
lúa Mùa.
* Vụ lúa Xuân: Làm trong mùa khô, vì vậy
phải có nước tưới chủ động. Đầu và giữa vụ
thường gặp rét, cuối vụ nắng nóng và bắt đầu có
mưa, nên phải dùng giống có khả năng chịu rét.
Vụ lúa Xuân (Xuân sớm, chính vụ và Xuân
muộn) với bộ giống đa dạng, được gieo cấy vào
cuối tháng 11 đến đầu tháng 2 dương lịch và thu
hoạch vào đầu tháng
6.
Những năm gần đây, với trà Xuân muộn,
diện tích các giống Q5, KD18 cũng đã giảm dần
theo từng năm do nhu cầu sử dụng giống lúa chất
lượng của người dân. Các giống lúa thuần chất
năm 2005 (79.802,7ha). Tỷ lệ diện tích trồng lúa
tẻ thơm so với diện tích trồng lúa của toàn vùng
năm 2010 (18,27%) tăng 2,96 lần so với năm
2005 (6,16%). Tỉnh có diện tích trồng lúa tẻ thơm
lớn nhất là tỉnh Nam Định (49.830ha), thấp nhất
là tỉnh Vĩnh Phúc (3.139,2ha).
- Về tỷ lệ tăng trưởng diện tích gieo cấy lúa
tẻ thơm năm
2010 so với năm 2005 của các tỉnh
trong vùng rất khác nhau, dao động từ 1,5 - 14,0
lần, tỉnh có tỷ lệ tăng trưởng diện tích lớn nhất là
Hải Dương, sau đó đến các tỉnh Bắc Ninh (9,6
lần), Ninh Bình (9,4 lần), Vĩnh Phúc (5,9 lần),
tỉnh có tỷ lệ thấp nhất là Hải Phòng.
- Tỷ lệ diện tích trồng lúa tẻ thơm/diện tích
lúa trong vùng ĐBSH đối với từng tỉnh khác
nhau, năm 2005 dao động từ 0,76%
(tỉnh Vĩnh
Phúc) đến 14,32% (tỉnh Nam Định), năm 2010
dao động từ 5,29% (tỉnh Vĩnh Phúc) đến 31,34%
(tỉnh Nam Định). Năm 2010, tỉnh có nhiều diện
tích trồng lúa tẻ thơm nhất vùng ĐBSH là tỉnh
Nam Định (49.830ha), tiếp đến là các tỉnh Hải
Dương (26.958ha), Thái Bình (25.945ha), Hưng
Yên, Hà Nam, Hà Nội (trên 20.000ha), Ninh
Bình (19.702,1ha), thấp nhất là tỉnh Vĩnh Phúc
(3.139,2ha) (bảng 1).
Bảng 1. Diện tích gieo trồng giống lúa tẻ thơm vùng đồng bằng sông Hồng gia
i đoạn 2005 - 2010 (ha)
Năm 2005 Năm 2010
9 Hà Nam 54,5 52,5 58,5 55,0
10 Nam Định 62,2 26,0 63,2 48,9
11 Ninh Bình 53,5 45,3 61,9 53,3
Trung bình 55,2 45,1 58,3 53,6
Nguồn: Nguyễn Xuân Dũng, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần, 2011.
- Về năng suất lúa tẻ thơm: Năng suất lúa tẻ
thơm của các tỉnh đồng bằng sông Hồng giai đoạn
2005 - 2010 dao động từ 26,0 tạ/ha (vụ Mùa 2005
ở Nam Định) đến 63,2 tạ/ha (vụ Xuân 2010 ở
Nam Định). Nhìn chung ở tất cả các tỉnh trong
vùng năng suất lúa tẻ thơm năm 2010 đều cao hơn
so với năm 2005, ở vụ Xuân cao hơn vụ Mùa.
Năm 2005, năng suất trun
g bình lúa tẻ thơm của
vùng giữa vụ Xuân và vụ Mùa chênh lệch nhau
nhiều (11,0 tạ) nhưng đến năm 2010 năng suất
giữa vụ Xuân và vụ Mùa chỉ chênh lệch 4,7 tạ.
Năng suất trung bình của lúa tẻ thơm gieo
cấy trong vùng ở vụ Mùa tăng cao hơn so với ở
vụ Xuân, sau 5 năm, ở vụ Xuân năng suất trung
bình lúa tẻ thơm của toàn vùng chỉ tăng được
được 3,1 tạ/ha, trong khi đó ở vụ Mùa tăng
8,5 tạ/ha (bảng 2).
Trong năm 2010, diện tích gieo cấy lúa tẻ
thơm của vùng ĐBSH giữa vụ Xuân và vụ Mùa
gần tương đương nhau, gần 108 nghìn ha, sản
lượng lúa tẻ thơm của toàn vùng đạt 1.148.802,4
tấn (bảng 3).
Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng gieo trồng giống lúa tẻ thơm theo mùa vụ
thơm chất lượng ở các tỉnh trong vùng càng
tăng. Hiện nay bộ giống lúa tẻ thơm trong gieo
trồng trong vùng còn rất hạn chế, giống được
gieo trồng chính là Bắc Thơm 7 và HT1, đây là
2 giống nhập nội Trung Quốc còn một số nhược
điểm như khả năng chống chịu sâu bệnh kém
,
đặc biệt là bạc lá và rầy nâu; chất lượng gạo
chưa ngon, gạo còn dính và nát. Vì vậy, vấn đề
này đặt ra cho công tác chọn giống lúa chất
lượng cho vùng ĐBSH phải kết hợp chọn tạo
tính trạng thơm và có một số đặc điểm chính
như sau: (i) Thời gian sinh trưởng ngắn phù hợp
gieo cấy trong vụ Xuân muộn, Mùa sớm (vụ
Xuân 130-135 ngày, vụ Mùa 100 - 110 ngày);
(ii) Cứng cây, chống đổ tốt; (iii) Chống chịu tốt
với sâu
bệnh hại chính, đặc biệt bệnh bạc lá và
rầy nâu; (iv) Hạt gạo thon nhỏ, trong; cơm mềm
nhưng không dính nát, vị đậm và thơm; (v) có
năng suất khá (tối thiểu 55 tạ/ha).
3.2. Kết quả chọn tạo giống lúa tẻ thơm cho
vùng ĐBSH giai đoạn 2010 - 2013
3.2.1. Giống lúa HT9
Giống lúa HT9 do Bộ môn chọn tạo giống
lúa chất lượng và đặc sản, Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển
lúa thuần lai tạo và chọn lọc từ tổ
hợp lai HT1/D177 năm 2001 và được công nhận
giống SXTN năm 2010 theo Quyết định số
chất lượng do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
lúa thuần, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
chọn tạo từ tổ hợp lai BT7/ĐB6//IR64/KD18 được
Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống Sản
xuất thử nghiệm năm 2012 (Quyết định số
407/QĐ-TT-CLT ngày 28/8/2012).
Trân Châu Hương - SH8 có TGST ngắn, vụ
Mùa 108 - 112 ngày, vụ Xuân 135 - 140 ngày;
thích hợp với chân đất thâm canh vàn vàn cao.
Cây cao 95 -115cm, cứng cây, chống đổ tốt, có
kiểu hìn
h đẹp. Trân Châu Hương - SH8 có 5 - 7
bông hữu hiệu/khóm, bông có nhiều hạt, hạt xếp
sít, có mầu hạt vàng sáng, hạt trên bông cao trung
bình 220 - 250 hạt, tỷ lệ hạt lép trung bình 13 -
18%. Trân Châu Hương - SH8 có khả năng
chống chịu sâu bệnh tốt, kháng bạc lá, đạo ôn,
rầy nâu khá. Hạt gạo thon nhỏ, trắng trong, đẹp.
Cơm mềm, đậm, không dính và thơm. Ở nhiều
địa phương khi gieo cấy Trân Châu Hương - SH8
đã đánh giá chất lượng gạo và cơm của Trân
Châu Hương - SH8 ngon tương đương Bắc Thơm
số 7. Năng suất trung bình 60 - 65 tạ/ha; ruộng
tốt đạt 75 - 80 tạ/ha.
Khả năng mở rộng sản xuất: Trân Châu
Hương - SH8 là giống lúa chất lượng cao có thể
thay thế Bắc Thơm 7 trong sản xuất lúa hàng hóa,
có năng suất cao và ổn định hơn Bắc Thơm 7 từ
15-20%. Hiện nay giống đã được trồng và phát
và Bắc Thơm 7. HT18 kháng tốt với đạo ôn và
rầy nâu. HT18 là giống có chất lượng gạo tốt, gạo
trong; khối lượng 1000 hạt đạt từ 23,5 - 24,5
gram, hàm lượng amyloz 19 - 20%, hàm lượng
protein 8,9%. Chất lượng cơm mềm, đậm và
ngon. Năng suất trung bình trong vụ Xuân đạt 60
- 65 tạ/ha/vụ. Thâm canh tốt đạt 75-80 tạ//ha/vụ.
Khả năng mở rộng sản xuất: Hiện nay
diện
tích gieo trồng giống HT18 lên trên 400ha và đã
được nhiều địa phương sử dụng để gieo cấy trong
trà Xuân muộn, Mùa sớm hoặc Hè Thu. Giống
HT18 đã gieo trồng tại Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Trị, và đã được
một số địa phương mở rộng giống trên nhiều
vùng, chân đất gieo cấy lúa của tỉnh.
3.2.4. Giống lúa LTH134
Giống LTH134 do Bộ môn chọn tạo giống
lúa chất lượng và đặc sản, Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển lúa thuần - Viện Cây lương thực và
Cây thực phẩm lai tạo chọn tạo từ tổ hợp lai hữu
tính. Giống đã được Trung tâm Nghiên cứu và
Phát triển lúa thuần đánh giá triển vọng năm
2011 -2012 và đã được TT KKNG, SPCTQG,
miền Trung và Tây Nguyên đánh giá là giống lúa
chất lượng triển vọng 3 vụ (vụ Xuân, Mùa năm
2012 và vụ Xuân 2013).
Giống lúa LTH134 có thời gian sinh trưởng
a
Co60 trên giống giống lúa Tám Dự 1 (tổ hợp lai
Tám ĐB Dự ĐB). Giống được đánh giá triển
vọng năm 2011 - 2012 và đã được đăng ký bảo hộ.
Giống Tám Dự ĐB có thời gian sinh trưởng
ngắn ngày, vụ Xuân 135 - 140 ngày, Vụ Mùa
108 - 110 ngày. Chiều cao cây: 110 - 120cm.
Cứng cây chống đổ tốt, bộ lá lâu tàn. Chiều dài
bông 25 - 30cm. Số hạt trên bong trung bình đạt
160 - 180 hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc cao trên 90%.
Tám
Dự ĐB có khả năng chống chịu khá với các
loại sâu bệnh chính hại lúa như đạo ôn, bạc lá,
đặc biệt kháng rầy nâu tốt. Tỷ lệ gạo sát trên
70%, gạo trong, cơm dẻo ngon, có vị thơm của
gạo Tám và vị ngọt đậm cơm của gạo Dự. Tám
Dự ĐB cho năng suất trung bình đạt 55 - 60
tạ/ha/vụ, thâm canh đạt 65 - 70 tạ/ha/vụ.
Khả năng mở rộng sản xuất: Giống Tá
m Dự
ĐB gieo cấy phù hợp trên chân đất vàn vàn trũng
ở một số địa phương như: Hà Nội, Hải Phòng,
Nam Định, Hưng Yên, Thái Nguyên, Quảng
Bình, Hà Tĩnh, Quảng Trị, với diện tích khoảng
200ha.
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
336
IV. KẾT LUẬN
(1) Diện tích gieo cấy giống lúa tẻ thơm ở
vùng ĐBSH trong thời gian qua đã tăng nhanh,
125 - 135 ngày, vụ Mùa 95 - 110 ngày, thích
hợp gieo cấy trong vụ Xuân muộn và vụ Mùa
sớm ở các tỉnh ĐBSH.
(3) Các giống lúa tẻ thơm mới chọn tạo đã
được gieo cấy hàng nghìn ha ở các tỉnh ĐBSH,
đã đem cho hiệu quả kinh tế cao cho người dân
trồng lúa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Xuân Dũng (2011). Báo cáo chuyên đề
“Hiện trạng sản xuất lúa tẻ thơm ở ĐBSH và xu thế
phát triển trong tương lai”, Hà Nội - 2010.
2. Nguyễn Xuân Dũng, Lê Vĩnh Thảo và cs. (2011).
Quy trình kỹ thuật sản xuất giống lúa thơm HT9,
số chuyên đề “Quy trình kỹ thuật sản xuất một số
giống cây trồng mới”, Tạp chí Khoa học và Công
nghệ Nông nghiệp Việt Nam số 6 (27)/2011, trang
15-18.
3. Nguyễn Xuân
Dũng, Lê Vĩnh Thảo, Nguyễn Minh
Công
và ctv. (2010). Kết quả nghiên cứu chọn tạo
giống lúa tẻ thơm chất lượng cao cho vùng đồng
bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ giai đoạn 2006-
2010, Kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ
2006 - 2010, Kỷ yếu Hội nghị khoa học công nghệ
ngày 5-6/11/2010 tại Hà Nội của Viện Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam, NXB. Nông nghiệp, trang
174 - 180.
4. Lê Vĩnh Thảo, Nguyễn Xuân Dũng (2008). Kết quả