NGHIÊN CỨU
“PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN (2008-2011)” NHÓM NGHIÊN CỨU:
SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
(HƯỚNG DẪN: T.S HỒ ĐÌNH BẢO) Nguyễn Thị Diệu Thuần
Vương Đắc Dũng
Lê Thị Hằng
Nguyễn Đức Cương
THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2008-2011 333
4.1. Hiệu quả kỹ thuật và bảng xếp hạng các ngận hàng 333
4.2. Phân tích xu hướng thay đổi hiệu quả kĩ thuật qua các năm từ 2008-2011 sử dụng
chỉ số malmquist trong DEA. 478
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 567
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị………………………………………………………………………………….
Phụ lục 633
Tài liệu tham khảo 755
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản của một số ngân hàng tiêu biểu giai
đoạn 2008-2011 24
Bảng 2: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản của một số ngân hàng tiêu biểu giai
đoạn 2008-2011 25
Bảng 3: Tổng hợp số liệu một số chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động của các ngân
hàng giai đoạn 2008-2011 29
Bảng 4: Kết quả ước lượng hiệu quả kĩ thuật (TE) hiệu quả kĩ thuật thuần (PE) và hiệu
quả quy mô (SE) của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2008-2011 34
Bảng 5: Bảng xếp hạng hiệu quả kĩ thuật của các NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2008-
2011 37
Bảng 6 :Kết quả ước lượng chỉ số Malmquist bằng DEA 48
Bảng 7 : Kết quả ước lượng mô hình Tobit năm 2011 51
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Danh mục tên viết tắt:
Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Việt Viết đầy đủ tiếng Anh
effch Thay đổi hiệu quả kỹ thuật
Technical efficiency change
techch Thay đổi tiến bộ công nghệ Technological change
sech Thay đổi hiệu quả quy mô
Scale efficiency change
pech Thay đổi hiệu quả thuần
Pure technical efficiency
chage
tfpch
Thay đổi năng suất nhân tố tổng
NHTM Ngân hàng thương mại Danh mục các Ngân hàng Thương mại cổ phần:
Mã ngân
hàng
Tên đầy đủ tiếng Việt Tên đầy đủ tiếng Anh
ACB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Châu Asia Commercial Joint Stock Bank
ABB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần An
Bình
An binh Commercial Joint Stock
Bank
Viet
Capital
Bank
Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Bản
Việt
Viet Capital Commercial Joint Stock
Bank
BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam
Joint Stock Commercial Bank For
Investment And Development Of
Bank
TCB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam
Viet Nam Technologicar and
Commercial Joint Stock Bank
LPB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu
điện Liên Việt
LienViet Commercial Joint Stock
Bank
MDB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát
triển Mê Kông
Mekong Development Joint Stoct
Commercial Bank
MHBB
Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng
Sông Cửu Long Housing Bank of Mekong Delta
NAB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam
Á Nam A Commercial Joint Stock Bank
NVB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam
Việt
Nam Viet Commercial Joint Stock
Bank
DCB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại
Dương
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn
Sai Gon Joint Stock Commercial
Bank
SGB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn Công thương Saigon bank for Industry & Trade
SHB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn – Hà Nội
Saigon-HanoiCommercial Joint Stock
Bank
STB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn Thương Tín
Saigon Thuong Tin Commercial Joint
Stock Bank
SEABA
NK
Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Đông Nam Á
Sotheast Asia Commercial Joint Stock
Bank
TienPho
ngBank
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên
Phong
TienPhong Commercial Joint Stock
Bank
TrustBa
1
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo lường hiệu quả kĩ thuật, năng suất
nhân tố tổng hợp và ảnh hưởng của một số nhân tố tới hiệu quả kĩ thuật trong
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn
2008-2011. Nghiên cứu sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA), chỉ số năng
suất nhân tố tổng hợp và mô hình Tobit cho bộ số liệu phản ánh tình hình
hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả thực nghiệm
cho thấy: (1) Hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong
giai đoạn này khá thấp, biến động qua từng năm và tồn tại khoảng cách lớn về
hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng qua từng năm và giữa các ngân hàng với
nhau; (2) Sự thay đổi của hiệu quả kĩ thuật chủ yếu là do thay đổi hiệu quả
qui mô; (3) Năng suất nhân tố tổng hợp thay đổi chủ yếu do thay đổi hiệu quả
kĩ thuật, đây cũng chính là nguyên nhân tạo nên sự khác biệt lớn giữa các
ngân hàng với nhau; (4) Dư nợ, tổng vốn huy động/lao động, kinh nghiệm
hoạt động, mạng lưới chi nhánh là các nhân tố có ảnh hưởng tới hiệu quả kĩ
thuật của các ngân hàng thương mại trong những năm qua. 2
CHƯƠNG 1.
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
động của kinh tế thế giới. Đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và
suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay đã làm cho toàn ngành ngân
hàng đứng trước muôn vàn khó khăn và luôn trong tình trạng “gồng mình”
chống đỡ. Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình
quân 26,56% và là mức thấp chưa từng có trong lịch sử phát triển ngành ngân
hàng nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51%, đây quả thực là những
con số đáng lo ngại. Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn rất yếu. Tốc độ tăng
trưởng tín dụng hằng năm không đạt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ nợ xấu tăng cao,
qui mô vốn nhỏ, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng huy động và GDP,
cơ cấu thu nhập chủ yếu vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng là các đặc
điểm hiện nay của ngành. Đứng trước những khó khăn đó, các chính sách từ
chính ngân hàng hay từ phía ngân hàng nhà nước đều tỏ ra không mấy hiệu
quả, sự chậm trễ trong triển khai, áp dụng làm cho khủng hoảng càng trở nên
trầm trọng. Điều này chứng tỏ cần có một cái nhìn sâu rộng, toàn diện hơn
nữa năng lực hoạt động của các ngân hàng từ phía các nhà quản lí và bộ máy
điều hành hoạt động của ngân hàng. Để tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém
trong hoạt động của NHTM chúng ta cần đi sâu tìm hiểu, phân tích hoạt động
của nó, đặc biệt là hiệu quả kĩ thuật, nhân tố tạo ra sự khác biệt trong hiệu quả
hoạt động giữa các ngân hàng khác nhau. Yếu tố nào có vai trò quyết định
đến sự tồn tại cũng như phát triển của ngân hàng trong bối cảnh mới, làm thế
nào để nâng cao hiệu quả kĩ thuật trong hoạt động của ngân hàng là vấn đề
cấp thiết cần được giải quyết. Với tốc độ toàn cầu hóa và tự do hóa thương
mại nhanh như hiện nay, các ngân hàng không chỉ phải cạnh tranh với các
ngân hàng nội địa mà còn phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt và ngày càng tinh
vi của các ngân hàng nước ngoài vốn luôn coi Việt Nam là một thị trường đày 4
tiềm năng. Hơn bao giờ hết, vấn đề hiệu quả hoạt động cần được quan tâm
phương pháp được sử dụng trước đây còn nặng về lí thuyết, các kết luận kinh
tế đưa ra còn mang tính định tính, chưa chứng minh được vấn đề một cách rõ
ràng, thêm vào đó là phạm vi nghiên cứu bó hẹp, các nhân tố tác động chưa
phản ánh được hết mức độ ảnh hưởng. Vì thế, nó tạo ra không ít bất cập, hạn
chế cho các nghiên cứu này.
Về phương pháp định lượng, như nghiên cứu của Bùi Duy Phú (2002)
hay nghiên cứu của TS Phạm Lê Thông (2011) thông qua việc sử dụng hàm
sản xuất biên ngẫu nhiên. Nhìn chung, số lượng các nghiên cứu định lượng
còn rất khiêm tốn, nếu có cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ khai, đơn giản
chưa phản ánh được hết mức độ phức tạp của vấn đề. Hạn chế chủ yếu mà
các nghiên cứu này gặp phải đó là chưa định dạng đúng dạng hàm và nghiên
cứu mới chỉ dừng lại đánh giá cho một số ít các ngân hàng nhà nước.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kỹ thuật và
hiệu quả phân phối hay hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất ở các nước
phát triển và đang phát triển. Nhiều tác giả đã sử dụng DEA để phân tích sâu
về mức độ hiệu quả cũng như nguyên nhân dẫn đến sự phi hiệu quả của các
doanh nghiệp như Pitt and Lee (1981); Changanti and Damanpour (1991);
Prada và cộng sự (1997), Deyoung và Nolle (1996).
Mới đây nhất, phương pháp định lượng được sử dụng để nghiên cứu
hiệu quả hoạt động ngành ngân hàng ở nước ta có thể kể đến nghiên cứu của
Nguyễn Việt Hùng. Tuy nhiên số liệu trong nghiên cứu chỉ mới cập nhật đến
năm 2008, đây cũng là hạn chế của nghiên cứu. Bởi gần đây, đặc biệt giai
đoạn sau năm 2008, nhiều bất cập của hệ thống ngân hàng mới được bộc lộ,
thanh khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu cao có nguy cơ gây rủi ro đến
an toàn hệ thống. Diễn biến hoạt động của các ngân hàng theo hướng bất lợi,
xu hướng biến động thì không theo một quy luật nhất định nào và nhạy cảm 6
mới, từ đó đánh giá và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu
quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. 1.2. Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Căn cứ vào tình hình đó nghiên cứu này hướng đến một số mục tiêu sau
đây:
- Đo lường hiệu quả kĩ thuật của từng ngân hàng và của tất cả các ngân
hàng qua các năm từ 2008-2011.
- Phân tích các thành tố và mức độ tác động của nó đến hiệu quả kĩ thuật
của các ngân hàng.
- Làm rõ tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của
ngân hàng và xây dựng mô hình phân tích các tác động của nó đến hoạt động
của ngân hàng thương mại.
Từ đó, bài nghiên cứu sẽ tập trung trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Việt Nam và xu
hướng thay đổi của nó qua thời gian?
- Nguyên nhân dẫn tới sự phi hiệu quả trong hoạt động?
- Nhân tố nào có ảnh hưởng đến khả năng hoạt động cũng như định lượng
mức độ tác động của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
Hàm ý chính sách là gì cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách để
tận dụng những lợi thế sẵn có và kịp thời khắc phục các yếu kém hiện tại
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và các quyết định quản
lý đưa ra nhằm giúp thị trường Tài chính- Ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn?
8
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát
cao và hiện nay là suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước. Do đó môi
trường kinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn làm cho chất
lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín
dụng. Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình
quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51%, do tình hình
kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm mạnh. Có thể nói đây
không còn là thời kì hoạt động của các ngân hàng được “thuận buồm xuôi
gió”, mà giai đoạn 2008-2011 thực sự là giai đoạn đầy khó khăn và thách
thức, đòi hỏi các ngân hàng phải có một nội lực mạnh mẽ, phản ứng nhanh
nhạy trước diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, đồng thời không ngừng
nâng cao năng lực kinh doanh, năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát
triển trong sự sàng lọc ngày càng khắt khe của thị trường tài chính trong thời
kì nền kinh tế mở cửa, hội nhập. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng nước ta đã
không có sự thể hiện đáng mong đợi trong thời kì đầy biến động vừa qua.
Thẳng thắn nhìn vào vấn đề, tốc độ tăng trưởng hệ thống ngân hàng là tương
đối nhanh. Tuy nhiên, sự tăng trưởng về số lượng không gắn liền với một cấu
trúc hợp lí và chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng tăng
trưởng nhanh, quy mô tín dụng so với GDP tăng nhanh làm cho hệ thống
ngân hàng dễ bị tổn thương từ những sự thay đổi bất lợi của nền kinh tế.
Nhiều vấn đề về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được đặt
ra, yêu cầu phải có cái nhìn toàn diện hơn nữa về tổ chức này. Hơn nữa,
nguồn số liệu của thời kỳ nghiên cứu này bảo đảm tính đồng bộ hơn, đầy đủ
hơn, có độ tin cậy cao hơn, cập nhật và phản ánh tốt việc đánh giá hiệu quả
hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
10
thuyết DEA, chọn lọc những biến có ảnh hưởng lớn, điều tra số liệu và chạy
mô hình. Đặc điểm chung trong những nghiên cứu này là cách hệ thống hóa
qui trình xử lý số liệu. DEA là phương pháp mang tính chất định lượng vì vậy
việc đảm bảo độ chính xác của số liệu là rất cần thiết. Nhiều công trình khoa
học tiếp cận nguồn số liệu đáng tin cậy như Ngân hàng quốc tế London,
World Bank, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) .v.v… Kết quả của các nghiên
cứu cũng chỉ ra mức độ tương quan giữa hiệu quả qui mô và hiệu quả thuần
túy trong kĩ thuật. Dựa vào đường bao dữ liệu, mô hình DEA đánh giá tính
phi hiệu quả của một doanh nghiệp dựa trên việc so sánh với các doanh
nghiệp tốt nhất trong mẫu nghiên cứu. Trong lĩnh vực Ngân hàng- Tài chính,
phương pháp DEA đã được sử dụng rộng rãi, đặc biệt có khá nhiều các phân
tích áp dụng cho khu vực Bắc Mỹ chẳng hạn như Miller và Noulas (1996),
Berger và Mester (2001). Kết quả nghiên cứu thu được từ khu vực này có
nhiều nét tương đồng dù các nghiên cứu có cách tiếp cận thời gian và số liệu
khác nhau. Điều này có thể lí giải bởi cơ chế hoạt động của các ngân hàng
Bắc Mỹ có sự tương đồng; lợi nhuận ngân hàng không có nhiều biến động và
ít cơ hội gia tăng lợi nhuận từ việc cạnh tranh với các đối thủ khác. Tương tự
như vậy, DEA cũng được sử dụng để rà soát hiệu quả trong lĩnh lực ngân
hàng của cá quốc gia thuộc của Cộng đồng kinh tế châu Âu. Nhiều người cho
rằng, việc đánh giá các ngân hàng ở châu Âu sẽ thu được mức chênh lệch
hiệu quả rất lớn, lí do ở khác biệt cấu trúc và qui mô ngân hàng. Phân tích của
Casu và Molyneux (2000) cho thấy rằng: qua các năm, có một cải thiện nhỏ
trong hiệu quả ngân hàng nhưng sự khác biệt xuất phát từ tiềm lực kinh tế của
quốc gia khác nhau vẫn dẫn đến chênh lệch hiệu quả rất lớn .Vì thế, phương
pháp bao dữ liệu (DEA) là phương pháp mà nhóm nghiên cứu lựa chọn để 12
phân tích cấu trúc và mức độ chênh lệch trình độ, năng lực hoạt động của các
ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2011.
hàng và giả thuyết phân phối đối với số liệu là ngẫu nhiên.
2.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam:
Mặc dù DEA đã khá phổ biến trong các bài báo, công trình nghiên cứu
khoa học quốc tế về kinh tế, nhưng ở việt nam hiện nay chỉ dừng lại ở góc độ
phân tích và đánh giá số liệu. Một vài công trình nghiên cứu đã mở đường
cho việc tiếp cận DEA và áp dụng tương đối thành công trong nghiên cứu
thực tiễn phải kể đến Nguyễn Việt Hùng (2006) về đề tài ngành ngân hàng,
Nguyễn Thị Việt Anh (2004), Nguyễn Thị Thủy (2008) và một số tác giả
khác. Kết quả của các nghiên cứu trong nước đã đạt được: Nguyễn Thị Thủy
(2008) đã sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA) phân tích năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp ngành chế biến Thực phẩm Việt Nam. Trên cơ sở
hệ thống hoá và vận dụng những lí thuyết cơ bản về cạnh tranh, đưa ra thực
trạng ngành chế biến thực phẩm và thông qua việc phân tích đánh giá hiệu
quả kĩ thuật đề xuất một số khuyến nghị có tính đồng bộ nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của ngành chế biến thực phẩm Việt Nam trong hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay. Đặc biệt là luận văn tiến hành ước lượng hiệu quả kỹ
thuật và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới nó để xây dựng phương pháp
hoạt động có hiệu quả. Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Thành Cường (2010\
áp dụng DEA để nghiên cứu hiệu quả trong ngành chế biến thủy sản với 39
doanh ngiệp trong năm 2009. Nghiên cứu đã đưa ra một cái nhìn tổng quan
về sự phi hiệu quả trong khâu quản lý việc chế biến thủy hải sản của 39 doanh
nghiệp. Mà nguyên nhân chính là sử dụng các nguồn lực, gồm vốn chủ sở
hữu và vay không hiệu quả. Tuy nhiên, việc bó hẹp ở một thời điểm phân tích
năm 2009, chỉ có yếu tố đầu vào là vốn chủ sở hữu và tổng tài sản dẫn tới 14
việc đánh giá mất đi tính khách quan, tính dự báo, mà chỉ mang ý nghĩa thống
kê và thông báo. Nghiên cứu này cũng cho thấy để kết quả DEA sát với thực
tiễn cần phải có quá trình cân nhắc lựa chọn biến khoa học, thu thập một
những năm qua đang là chủ đề được quan tâm hàng đầu. Là một khu vực then
chốt đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân hoạt động một cách nhịp nhàng, ngân
hàng luôn là khu vực được chính phủ cũng như doanh nghiệp đặc biệt quan
tâm. Đi sâu vào lĩnh vực ngân hàng đặc biệt là Ngân hàng thương mại ở Việt
Nam là cần thiết để xây dựng một mô hình nhằm nghiên cứu một cách tổng
quan về tình hình hoạt động cũng như tính hiệu quả trong công tác điều hành
và kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Cùng chủ đề này, trước đó
cũng đã có nhiều công trình khoa học đã đưa ra những cái nhìn đa chiều về hệ
thống ngân hàng ở Việt Nam. Nhìn chung, các nghiên cứu này cũng phân tích
đánh giá được thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nhưng chủ
yếu mới dừng lại ở phân tích định tính như: Bài viết của Võ Thành Danh “
Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam” năm 2008 sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả truyền thống
dựa trên phân tích các tỷ số tài chính, hay nghiên cứu của Lê Dân (2004)
"Vận dụng phương pháp thống kê để phân tích hiệu quả hoạt động của ngân
hàng thương mại Việt Nam". Tuy đã có phần nào tiếp cận theo cách thức
phân tích định lượng nhưng vẫn chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu mang tính chất
thống kê, mô tả truyền thống.
2.1.3 Vài nét về nghiên cứu này:
Nghiên cứu của chúng tôi cũng mang tính kế thừa những nghiên cứu
trước đó trong việc tập trung sử dụng DEA là công cụ chủ yếu để đánh giá
năng lực hoạt động của các ngân hàng. Ngoài ra, kết quả của mô hình DEA sẽ
được sử dụng để đánh giá ngược lại khi xem xét tác động của các biến nội
sinh tới tổng hiệu quả kỹ thuật. Áp dụng vào một không gian mẫu lớn gồm 34