Nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam. - Pdf 22


1
LỜI NÓI ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 25 năm qua, hoạt động của các Ngân hàng Thương mại
Việt Nam (NHTMVN) đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình đổi
mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hoạt động của các NHTM không chỉ
tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà
còn góp phần ổn định sức mua đồng tiền, cung cấp ngày càng đa dạng
phong phú các dịch vụ hiện đại tiện ích cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp
trong nền kinh tế.
Đến nay, vốn cung ứng cho nền kinh tế chủ yếu do các NHTM đáp
ứng, theo tính toán của một số chuyên gia kinh tế tổng tài sản của hệ thống
lên tới khoảng 140% GDP. Cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, hệ
thống các NHTM cũng được cơ cấu lại, số lượng các NHTM VN đã tăng
lên.
Tính đến cuối năm 2013, có 5 NHTM Nhà nước (trong đó có 4
NHTM đã được cổ phần hóa đó là : Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam -
VCB, Ngân hàng Công thương Việt Nam - Vietinbank, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam - BIDV và Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng Bằng
Sông Cửu Long - MHB), 34 NHTMCP, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân
hàng có 100% vốn nước ngoài và 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Về mạng lưới hoạt động trong cả nước hiện nay, các NHTM NN và
NHTMCP đang dẫn đầu so với NHLD và ngân hàng nước ngoài. Hệ thống
các ngân hàng nước ngoài chiếm số lượng nhỏ về đầu mối mạng lưới hoạt
động, cho thấy còn đang thăm dò thị trường và sẽ mở rộng phát triển trong
tương lai. Hiện có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài với 14 chi nhánh tại
các tỉnh, thành phố lớn trên cả nước.

-2-
Bên cạnh các kết quả đạt được nói trên hoạt động của các NHTM

- Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về việc quản lý, giám sát hiệu
quả của Ngân hàng Trung ương (NHTW) đối với hoạt động của các
NHTM, tuy nhiên đều dưới các dạng tài liệu mang tính lý thuyết, chưa gắn
với điều kiện thực tế ở Việt Nam.
- Đối với nghiên cứu về mô hình quản lý, giám sát của Ngân hàng
Trung ương đối với hoạt động của các NHTM :
+ Để ủng hộ cho mô hình Ngân hàng Trung ương giám sát ngân
hàng, các nhà nghiên cứu đưa ra các lý do sau :
-> An toàn, lành mạnh và ổn định hệ thống. Thứ nhất là tiếp cận
thông tin. NHTW cần có thông tin chính xác và kịp thời về tình trạng và
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng như là điều kiện tiên quyết cho việc
xây dựng CSTT. Hơn nữa, NHTW cần tiếp cận thông tin về tình trạnh
thanh khoản của các ngân hàng để thực hiện chức năng của người cho vay
cuối cùng. Ðặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, có thông tin kịp
thời là hết sức quan trọng vì nó hỗ trợ kịp thời cho NHTW ra quyết định
(kết quả nghiên cứu của : Haubrich, 1996; Peek, Rosenren và Tootle,
1999). Thứ hai là tính độc lập. Theo Giddy (1994), Abrams và Taylor
(2001), sự độc lập của cơ quan giám sát cho phép họ thực thi hành động.
Và những hành động đó là cần thiết cho hệ thống giám sát ngân hàng hiệu
quả. Ðặc biệt trong một số nền kinh tế mới nổi và chuyển dịch, theo Taylor
(2001, trang 28), thì việc uỷ thác cho NHTW vai trò giám sát ngân hàng là
cần thiết để tránh chính trị hoá quy định ngân hàng”.
-> Chi phí cho các cơ quan thanh tra giám sát. Theo Abrams và
Taylor (2001), NHTW có lợi thế so sánh trong việc tuyển dụng và giữ

-4-
chân đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp do chính sách đãi ngộ tốt cũng như
môi trường chuyên nghiệp để phát triển.
+ Những lập luận không ủng hộ việc Ngân hàng Trung ương đảm
nhận chức năng giám sát ngân hàng :

NHTW. Ngoài ra, Goodhart và Schoenmaker (1995) sử dụng dữ liệu của
104 ngân hàng phá sản trong 24 nước trong suốt thập kỷ 1980 và tìm thấy
rằng chỉ số ít ngân hàng bị phá sản trong những nước mà CSTT và giám
sát ngân hàng đều do NHTW đảm nhận. [13]
Các nghiên cứu nói trên về mô hình quản lý, giám sát của Ngân
hàng Trung ương đối với hoạt động của các NHTM cho thấy khoảng trống
trong nghiên cứu là chưa đưa ra được mô hình thể chế quản lý, giám sát
hoàn hảo, lý tưởng cho toàn thế giới.
- Về “25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hệ thống ngân hàng hiệu
quả” của Uỷ ban Basel (Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng - Basel
Committee on Banking supervision – BCBS, được thành lập bởi một nhóm
các NHTW và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố
Basel, Thụy Sỹ) đưa ra, dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của các nước
trên toàn cầu.
Nhằm tạo điều kiện phổ biến kinh nghiệm quốc tế và đúc kết lại
thành 25 nguyên tắc cơ bản trong việc giám sát hoạt động ngân hàng hiệu
quả. Nội dung gồm 25 nguyên tắc cơ bản và được chia thành 7 nhóm sau :
(Nhóm 1) Nguyên tắc 1 : Các tiền đề để giám sát ngân hàng hiệu quả;
(Nhóm 2) Các nguyên tắc 2 - 5 : Cấp phép và cơ cấu; (Nhóm 3) Các
nguyên tắc 6 - 15 : Quy chế và yêu cầu về giám sát thận trọng; (Nhóm 4)
Các nguyên tắc 16 - 20 : các phương pháp giám sát ngân hàng liên tục;
(Nhóm 5) Nguyên tắc 21 : các yêu cầu về thông tin; (Nhóm 6) Nguyên tắc
22: quyền lực của thanh tra ngân hàng; (Nhóm 7) Các nguyên tắc 23 - 25:
hoạt động thanh tra ngân hàng xuyên quốc gia.

-6-
Mục tiêu của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên
hai nguyên lý cơ bản là : (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành
lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng.
Trong số 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hệ thống ngân hàng hiệu

nội dung và yêu cầu cụ thể của tình hình hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất
một số biện pháp nhằm thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước của
NHNN Việt Nam đối với hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, khoảng trống
trong nghiên cứu là hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt
động của các NHTM ở Việt Nam
- Báo cáo nghiên cứu “Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ
tới năm 2020 (CSSSD) và tầm nhìn tới năm 2025” (có nội dung chiến lược
phát triển dịch vụ ngân hàng) trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ thương mại
Đa biên giai đoạn III (EU-Việt Nam MUTRAP III) và nghiên cứu bởi một
nhóm các chuyên gia quốc tế và chuyên gia Việt Nam đã phân tích tổng
thể những thách thức và đưa ra các khuyến nghị để vượt qua các thách
thức trong việc phát triển dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói
riêng.
Báo cáo nghiên cứu đã chỉ rõ các điều kiện tiên quyết để thúc đẩy
tăng trưởng của lĩnh vực ngân hàng, đó là : (i) ổn định vĩ mô là điều kiện
cần thiết cho sự tăng trưởng và bền vững của lĩnh vực ngân hàng; (ii) môi
trường kinh doanh thuận lợi cho sự tăng trưởng của dịch vụ ngân hàng;
(iii) áp dụng công nghệ thông tin hiện đại là nền tảng cho việc phát triển
các dịch vụ ngân hàng hiện đại; (iv) nguồn nhân lực chất lượng cao là điều
kiện cần thiết để phát triển dịch vụ ngân hàng; (v) củng cố việc bảo vệ
quyền của người cấp tín dụng và thành lập cơ chế phá sản hiệu quả là yếu
tố quan trọng trong việc củng cố lòng tin vào hệ thống ngân hàng và đóng
góp vào sự phát triển của dịch vụ ngân hàng [10]. Khoảng trống trong

-8-
nghiên cứu của Báo cáo là hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối
với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam.
- Theo Kỷ yếu Hội thảo khoa học (12/2008) do Ngân hàng thương
mại cổ phần Liên Việt phối hợp với trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
tổ chức với chủ đề “Tác động CSTT đối với hoạt động kinh doanh của

- Có các đề tài và bài viết nghiên cứu về sự cần thiết phải xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về dịch vụ ngân hàng, nhằm tạo điều kiện cho việc
phát triển dịch vụ ngân hàng và tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; vấn đề này chỉ là một nội dung của quản
lý nhà nước đối với hoạt động của các NHTM.
Nghiên cứu của Đoàn Thái Sơn (2008) “Thực trạng và định hướng
hoàn thiện pháp luật về dịch vụ ngân hàng” cho thấy : quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng,
thì việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về dịch vụ
ngân hàng đã góp phần đáng kể làm thay đổi căn bản về cả số lượng và
chất lượng dịch vụ của các NHTM. Về cơ bản, Luật các TCTD và các văn
bản hướng dẫn thi hành luật này đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý tương
đối hoàn chỉnh cho hoạt động cung cấp dịch vụ của các NHTM và hoạt
động quản lý của NHNN.
Tuy nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng của hoạt động cung cấp dịch
vụ ngân hàng, cần thiết phải hoàn thiện khung pháp lý về dịch vụ ngân
hàng để hỗ trợ cho các NHTM phát triển các dịch vụ ngân hàng, đồng thời
tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho hoạt động quản lý, giám sát của NHNN.
Nghiên cứu trên của Đoàn Thái Sơn về khuôn khổ pháp lý đối với dịch vụ
ngân hàng chưa chỉ ra được hệ thống văn bản quy định chi tiết hướng dẫn
thi hành luật, pháp lệnh đã được các cấp có thẩm quyền ban hành gần đây.

-10-
- Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của nhà
nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam” của nhóm tác giả Học viện
Tài chính, do Hoàng Trần Hậu làm chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu lý luận về
thị trường bảo hiểm và quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường
bảo hiểm; phân tích thực trạng hoạt động của thị trường và thực tế hoạt
động quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua;
chỉ ra các nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn đe dọa sự phát triển an toàn của thị

- Đối tượng nghiên cứu. Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu là hiệu
quả quản lý của NHTW đối với hoạt động của các NHTM.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài. (i) Quản lý nhà nước đối với hoạt
động của các NHTM được thực hiện bởi nhiều cơ quan quản lý khác nhau,
nhưng tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hoạt động quản lý của NHNN
đối với hoạt động của các NHTM (chủ yếu đi sâu hoạt động huy động vốn
và tín dụng của NHTM). Đề tài này chỉ tập trung vào mục tiêu quản lý
nhằm đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng mà không bao hàm mục tiêu
của chính sách tiền tệ (ii) Thực trạng hiệu quả quản lý của NHNN đối với
hoạt động của các NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2005 - đến cuối năm
2013. Tuy nhiên, nhằm để củng cố các kết quả phân tích hoặc để làm rõ
thêm hiệu quả hoạt động quản lý của NHTW và hoạt động của các NHTM,
tác giả có sử dụng số liệu trong các giai đoạn trước đó; (iii) Đề xuất định
hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN Việt Nam đối
với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam thời gian đến.
5- Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp chủ yếu được vận dụng trong quá trình nghiên cứu là
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời có kết hợp
với các phương pháp cụ thể như : thống kê, phân tích, so sánh…. Đề tài

-12-
còn vận dụng các quan điểm lý luận của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
định hướng quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM ở Việt
Nam.
6- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Làm sáng tỏ các luận cứ khoa học về hiệu quả quản lý của NHTW
đối với hoạt động của các NHTM.
- Làm rõ việc nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt
động của các NHTM ở Việt Nam.
- Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động

kém an toàn. Nền kinh tế bất ổn, lạm phát gia tăng có nhiều nguyên nhân
trong đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố tiền tệ. Do đó, NHTW được bổ
sung chức năng ổn định giá trị đồng nội tệ và bảo đảm cho hệ thống tài
chính - ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh. [1]
Quá trình phát triển cho thấy NHTW ngày càng có vai trò, vị trí
quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Chính vì
thế mà ngày nay nhiều nước không ngừng quan tâm việc củng cố, tăng
cường vai trò, vị trí của NHTW theo hướng hiện đại.
1.1.1.1- Mục tiêu của Ngân hàng Trung ương
Hoạt động của bất kỳ NHTW nào trên thế giới cũng nhằm theo đuổi
một số mục tiêu bao gồm : (i) Lạm phát thấp và ổn định; (ii) Tăng trưởng
kinh tế; (iii) Tạo công ăn việc làm; (iv) Đảm bảo an toàn hệ thống tài chính
- ngân hàng….Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn của hầu hết các nước cho
thấy NHTW không thể đạt được đồng thời cùng một lúc tất cả các mục tiêu
trên.

-14-
Cụ thể, (i) nếu NHTW theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và
tạo nhiều công ăn việc làm, thất nghiệp thấp thì chỉ số lạm phát sẽ có xu
hướng tăng lên, ít nhất là trong trung và dài hạn; và khi lạm phát tăng lên,
sẽ tác động đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến tính ổn định, an toàn của hệ
thống tài chính ngân hàng. (ii) Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước biến
đổi. Do đó, khi có nhiều mục tiêu đòi hỏi NHTW phải thận trọng và linh
hoạt trong việc lựa chọn mục tiêu và xác định thứ tự ưu tiên mục tiêu.
NHTW với nhiều mục tiêu là mô hình NHTW truyền thống. Xu
hướng ngày nay, NHTW hiện đại chỉ theo đuổi mục tiêu duy nhất và cũng
là mục tiêu cuối cùng. NHTW hiện đại với mục tiêu duy nhất (mục tiêu
cuối cùng) có ưu điểm hơn so với mô hình NHTW với nhiều mục tiêu, đó
là : (i) NHTW sẽ lựa chọn công cụ CSTT phù hợp tác động để đạt được
mục tiêu này; (ii) sẽ đánh giá cụ thể được hiệu quả hoạt động của NHTW

bảng 1.1 dưới đây :
Bảng 1.1 Quan hệ giữa mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục
tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ

Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu trung gian
Mục tiêu cuối cùng
- Giá cả tiền tệ.
- Khối lượng tiền tệ.

- Tổng tiền cung ứng.
- Lãi suất thị trường

- Ổn định giá cả.
- Tăng trưởng kinh tế,
tạo công việc làm.

1.1.1.2- Chức năng của Ngân hàng Trung ương
- Phát hành tiền và điều tiết lượng tiền cung ứng. NHTW giữ độc quyền
phát hành tiền giấy và tiền kim loại. Để đảm bảo giá trị tiền tệ ổn định việc
phát hành tiền phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định. NHTW còn
tham gia và kiểm soát việc tạo tiền trong hệ thống các NHTM, thông qua
quá trình cho vay, thanh toán bằng chuyển khoản. NHTW không chỉ thực

-16-
hiện chức năng phát hành tiền mà còn thực hiện việc điều tiết lượng tiền
cung ứng, thực hiện CSTT quốc gia.
- Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng của các ngân hàng. Chức năng này
thể hiện ở chỗ : NHTW mở tài khoản, bảo quản dự trữ tiền tệ và là trung
tâm thanh toán cho các ngân hàng; là người cho vay cuối cùng đối với

nghiệp, đại diện Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư Tỷ lệ phần lớn các
thành viên của Hội đồng là người của NHTW và Chủ tịch Hội đồng
thường là Thống đốc NHTW. Hội đồng CSTT Quốc gia luôn được đổi mới
và có tính kế thừa, hàng năm có một tỷ lệ nhất định thành viên mới. Các
thành viên mới này được chỉ định hoặc bầu bổ sung bởi các nhiệm kỳ
Quốc hội, Chính phủ.
Nhằm nâng cao tính độc lập của NHTW, nhiệm kỳ của Thống đốc
NHTW và các nhân sự chủ chốt thường lệch pha hoặc được kéo dài hơn so
với nhiệm kỳ của các thành viên Quốc hội và Chính phủ, để tránh áp lực
chính trị.
Thống đốc NHTW và các thành viên Hội đồng CSTT Quốc gia có
trách nhiệm báo cáo các hoạt động của mình theo định kỳ hoặc đột xuất
theo yêu của Ủy ban đặc trách của Quốc hội và Chính phủ. Đối với các
nước Thống đốc NHTW không phải là thành viên của Chính phủ, do đó
không phải báo cáo giải trình trước Quốc hội. Chỉ có Quốc hội mới được
quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm để thay thế Thống đốc NHTW trong trường
hợp Thống đốc NHTW không hoàn thành nhiệm vụ. Còn Thủ tướng Chính
phủ (đứng đầu Chính phủ) không có quyền phế truất trực tiếp, nhưng có
quyền đề nghị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Thống đốc
NHTW.[1] -18-
- Độc lập về chính sách.
Nhiều nước mục tiêu cuối cùng của CSTT thường được quy định
trong Luật và do Quốc hội quyết định. Đối với mục tiêu trung gian (tổng
tiền cung ứng, lãi suất thị trường) và việc sử dụng các công cụ CSTT, giao
cho NHTW quyết định để nâng cao tính độc lập về chính sách của NHTW.
Để đạt được mục tiêu trung gian, bước kế tiếp NHTW xác định mục tiêu
hoạt động (có thể lấy lãi suất thị trường liên ngân hàng làm định hướng…).

về ngân hàng :
- Theo pháp luật nước Mỹ : “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài
khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (bằng cách ký
phát séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cấp tín dụng đối với tổ chức
kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”.
- Theo Đạo luật Ngân hàng của Pháp ngày 03/06/1942 quy định :
"Được xem là ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào làm nghề
thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc hình thức
khác, những khoản tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết
khấu, nghiệp vụ tín dụng hay nghiệp vụ tài chính".
- Tại Ấn Độ, NHTM được coi là cơ sở nhận các khoản ký thác để
cho vay hay tài trợ và đầu tư.
- Theo Ngân hàng thế giới (Wordbank) : “Ngân hàng là tổ chức tài
chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi
được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn
và các khoản tiết kiệm)”; các ngân hàng bao gồm : các NHTM chỉ tham gia
vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn - trung - dài hạn; các Ngân
hàng đầu tư tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán và bảo lãnh phát
hành; các Ngân hàng địa ốc cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà

-20-
ở và các loại khác. Ngoài ra, tại một số nước còn có ngân hàng đa năng,
kết hợp hoạt động NHTM với hoạt động ngân hàng đầu tư và cả dịch vụ
bảo hiểm.
- Theo quy định Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông
qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 : Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được
thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm : nhận tiền gửi; cấp tín
dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính

chức, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế, mà còn hỗ trợ tích cực cho
NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh
toán. Các dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng, không chỉ đơn
thuần là để thu phí và/hoặc hưởng hoa hồng, yếu tố làm tăng doanh thu và
lợi nhuận cho NHTM, mà thông qua các dịch vụ này nhằm hỗ trợ các hoạt
động chính của NHTM, mà trước hết là hoạt động cấp tín dụng. [8]
- Sự gia tăng nhanh chóng trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ của
NHTM. Nhằm tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM không ngừng đa dạng hoá
dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng, đa dạng hoá dịch vụ
tài chính - ngân hàng tăng lên trong các năm gần đây trước sự cạnh tranh
khốc liệt từ các tổ chức tài chính khác, từ sự phát triển công nghệ, từ sự đòi
hỏi ngày càng cao của khách hàng. Các NHTM đối phó với các đối thủ
cạnh tranh (tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi
cung cấp dịch vụ sang lĩnh vực bảo hiểm, môi giới chứng khoán và các
dịch vụ khác. Với các dịch vụ tài chính mới đã tạo ra nguồn thu mới,
nhưng đồng thời cũng làm tăng chi phí cho các NHTM và dẫn đến rủi ro
phá sản NHTM cũng tăng lên. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường

-22-
và nâng cao hiệu quả quản lý của NHTW đối với hoạt động của các
NHTM.
- NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện. Muốn được
cấp giấy phép hoạt động kinh doanh, NHTM phải thoả mãn các điều kiện
bắt buộc do pháp luật quy định (phải có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu
bằng mức vốn pháp định; người quản lý, người điều hành, thành viên ban
kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; có Điều lệ phù
hợp với quy định ).
- NHTM là loại hình kinh doanh hàng hoá đặc biệt. Khác với các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá thông thường, đối với NHTM
kinh doanh hàng hoá đặc biệt - đó là hàng hoá tiền tệ. Do đó, mức độ rủi ro

thu, chi phí được phản ánh trong Bảng Tổng kết tài sản của NHTM; còn
các nghiệp vụ khác của NHTM tuy không làm thay đổi các khoản mục tài
sản, nguồn vốn, nhưng có nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến tính an toàn và kết
quả kinh doanh chung của NHTM, phải được phản ánh, theo dõi ở các tài
khoản ngoại bảng. Do đó, khi phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của
NHTM, không chỉ căn cứ vào các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản,
mà còn căn cứ các hoạt động được theo dõi ngoài bảng tổng kết tài sản.
Các nghiệp vụ ngân hàng được phản ánh, theo dõi ở các tài khoản
ngoại bảng bao gồm : các cam kết về bảo lãnh (vay vốn, thanh toán, thực
hiện hợp đồng, dự thầu ); các cam kết về giao dịch về hối đoái (giao dịch
mua bán ngoại tệ trao ngay spot, giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn
Forward, giao dịch hoán đổi tiền tệ Swaps, giao dịch quyền chọn mua -
bán tiền tệ Options, giao dịch tương lai tiền tệ Futrues, các chứng từ có giá
trị ngoại tệ); nghiệp vụ uỷ thác, đại lý; dịch vụ giữ hộ tài sản, kim loại quý
đá quý; tài sản thế chấp cầm cố…
(1)- Nghiệp vụ nguồn vốn

-24-
Nghiệp vụ nguồn vốn (hay còn gọi là nghiệp vụ Nợ), đây là nghiệp
vụ ban đầu nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động cho NHTM. Nghiệp vụ
nguồn vốn lúc nào cũng được các nhà lãnh đạo, quản lý điều hành NHTM
đặc biệt quan tâm chú ý đến, vì ngân hàng nào tạo lập được nhiều nguồn
vốn thì có điều kiện tăng quy mô, mở rộng hoạt động tín dụng và đầu tư.
Nguồn vốn của NHTM bao gồm : vốn chủ sở hữu; vốn huy động; vốn đi
vay và một số nguồn vốn khác. [8]
- Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn ban đầu và luôn được bổ sung trong
quá trình hoạt động và phát triển của NHTM. Vốn chủ sở hữu thường
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (xấp xỉ từ 5% đến 10%), nhưng
có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM. Vốn chủ sở hữu của NHTM bao

vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM. Căn
cứ theo tính chất, vốn huy động có thể phân thành hai nhóm :
+ Đối với nguồn vốn huy động hoạt kỳ.
Nguồn vốn huy động hoạt kỳ gồm : tiền gửi không kỳ hạn của cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp và chủ thể kinh tế khác; tiền gửi không kỳ hạn
của TCTD khác. Đặc điểm của loại tiền gửi này là khách hàng được linh
hoạt sử dụng mà không cần thông báo trước cho NHTM; khách hàng được
sử dụng tiền gửi này trong các giao dịch thanh toán, chuyển tiền thông qua
các phương thức thanh toán do NHTM quy định; khách hàng gửi tiền vào
tài khoản này không nhằm mục đích hưởng lãi, mà chủ yếu phục vụ nhu
cầu giao dịch thanh toán, chuyển tiền. Chính vì các đặc điểm của loại tiền
gửi này trên đây, để thu hút được nguồn vốn này ngày càng nhiều, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status