Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong đời sống xã hội và giao lưu kinh tế quốc tế, chất lượng
sản phẩm và dịch vụ có một vai trò ngày càng quan trọng và đang trở thành
một thách thức to lớn đối với mọi quốc gia nếu muốn hội nhập và phát triển
thành công.
Sự thắng bại trong cuộc cạnh tranh trên phụ thuộc chủ yếu vào mức độ
thích hợp của chất lượng hàng hoá và dịch vụ, sự hợp lý về giá cả và điều
kiện giao nhận. Muốn cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, muốn
thoả mãn nhu cầu của khách hàng cũng như mong đạt được lợi nhuận cao thì
cần thiêt phải thiết lập hệ thống quản trị chất lượng trong bất cứ tổ chức nào.
Hầu hết các công ty trên mọi quốc gia thuộc các loại hình kinh tế càng
ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của chất lượng và chú trọng hợ
tới chất lượng
Cuộc chạy đua đang sôi nổi hơn lúc nào hết. Sự thắng lợi trong cuộc
chạy đua đường dài về chất lượng đang còn ở phía trước. Phần thắng thuộc về
những quốc gia và công ty có một chiến lược kinh doanh đúng, trong đó có
chiến lược về chất lượng . Cũng có thể khẳng định là sự thắng lợi chỉ mang
tính tạm thời. Vai trò tiên phong trong chất lượng chuyển từ quốc gia này
sang quốc gia khác, điều này được đo bằng sự thành công trên thị trường và
sự cống hiến trong lĩnh vực lý luận và nền tảng của quản lý chất lượng.
Không nằm ngoài quy luận cạnh tranh nhưng Công ty cổ phần sản xuất
và thương mại Đại Thanh đã có tầm nhìn xa về chất lượng sản phẩm ngày
càng đóng yếu tố quan trọng để cạnh tranh thắng lợi trên thương
trường.Chính vì vậy mà Công ty đã phấn đấu liên tục đề cải thiện chất lượng
sản phẩm và đã được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
May mắn được thực tập tốt nghiệp tại công ty cổ phần sản xuất thương
mại Đại Thanh, một trong những công ty sản xuất sản phẩm gạch ngói hàng
Từ thực tiễn SXKD, để thành công trong quản lý chất lượng hiện đại,
các nhà sản xuất cần có những quan điểm đúng về chất lượng sản phẩm trên
cơ sở một số nguyên lý sau:
1.1.2.1..Chất lượng là đạo đức, là lòng tự trọng.
Thực chất đây là cách suy nghĩ, thái độ của nhà sản xuất đối với sản
phẩm dịch vụ của mình ra sao. Việc quyết định đưa ra thị trường một sản
phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng như thế nào về cơ bản phải dựa trên một sự
lựa chọn về giá trị , nghĩa là:
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nhà sản xuất cần phải cung cấp cho xã hội, cho khách hàng những gì mà
họ cần chứ không phải những thứ mà nhà sản xuất có hoặc có thể sản xuất
được.
Nhà sản xuất cần phải biết và xác định rõ ràng những ảnh hưởng xấu đối
với cộng đồng, nếu 1 sản phẩm của mình được sản xuất ra có một chất lượng
tồi (lãng phí gây hậu quả nguy hiẻm đến kinh tế xã hội, an ninh...) như thế
nào.
1.1.2.2. Chất lượng đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của lãnh đạo cấp cao nhất.
Bất kỳ một hoạt động nào của doanh nghiệp, tổ chức nào cũng chịu sự
định hướng, thẩm định, phê duyệt, điều khiển, kiểm tra ... của lãnh đạo cấp
cao trong tổ chức đó. Vì vậy, kết quả của các hoạt động đó sẽ phụ thuộc vào
những quyết định của họ (nhận thức, trách nhiêm, khả năng...) Muốn thành
công, mỗi tổ chức cần có một ban lãnh đạo cấp cao có trình độ, có trách
nhiệm gắn bó chặt chẽ với tổ chức, cam kết thực hiện những chính sách, mục
tiêu đã đề ra.
1.1.2.3. Chất lượng phải được thể hiện trong quá trình. Hãy chú ý đến quá
trình thay cho sự kiểm tra kết quả.
Việc đảm bảo chất lượng cần phải được tiến hành từ những bước đầu
tiên, từ khâu nghiên cứu thiết kế ... để nhằm xây dựng một quy trình công
rào ngăn cách thì bản thân mỗi người công nhân cần cảm thấy phải có trách
nhiệm hơn đối với công việc của mình. Hơn thế nữa họ cần phải thay đổi
phương pháp làm việc của mình để làm sao đạt được hiệu quả kinh tế cao
nhất.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nói tóm lại, mặc dù có nhiều trường phái, nhiều cách tiếp cận khác nhau
về nguyên lý chất lượng, nhưng nói chung việc nhìn nhận những nguyên lý
trên thực chất sẽ dẫn đến quan điểm đúng đắn, cơ bản để tìm ra những giải
pháp cho các chiến lược về chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp nhằm
đối phó cho những khó khăn trong việc tự khẳng định mình bằng chất lượng
sản phẩm trên thị trường.
1.1.3. Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Khi nói đến chất lượng phải xem xét thông qua những chỉ tiêu đặc trưng
mới khách quan và chính xác được. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bởi các
tính chất đặc điểm là những đặc tính khách quan của sản phẩm thể hiện trong
quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này
phụ thuộc rất lứon vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính
chất được biểu thị bởi các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể đo lường đánh
giá được. Vì vậy, nói đến chất lượng sản phẩm phải đánh giá thông qua hệ
thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm này khẳng định lại những
quan điểm sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là không thể đo lường, đánh
giá được. Hệ thống chỉ tiêu chất lượng đó chính là các thông số kinh tế - kỹ
thuật và các đặc tính riêng của sản phẩm phản ánh tính hữu ích của nó. Những
đặc tính này gồm có:
- Tính năng tác dụng của sản phẩm
- Các tính chất cơ, lý, hoá, kích thước, kết cấu, thành phần cấu tạo.
- Các chỉ tiêu thẩm mĩ của sản phẩm .
- Tuổi thọ.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
1.1.5.1. Tính năng công dụng của sản phẩm
Được thể hiện thông qua các thuộc tính về mặt kỹ thuật, sản phẩm của
doanh nghiệp có tiện dụng hay không, ngày nay tính năng tác dụng của một
sản phẩm ngày càng được chuyên sâu (một sản phẩm thường chỉ phục vụ một
mục đích nhất định) chính vì vậy tính năng tác dụng của sản phẩm được đặt
nên hàng đầu trong các nhân tố tác dụng đến chất lượng.
1.1.5.2. Tuổi thọ của sản phẩm
Được phản ánh thông qua thời gian kể từ khi sản phẩm được dưa vào sử
dụng cho đến khíp bị hỏng. Ngày nay thi tuổi thọ của sản phẩm bị hạn chế ở
điểm nhất định bởi vì nếu tuổi thọ của sản phẩm quá cao thì trong quá trình sử
dụng sản phẩm rễ bị lạc hậu về mặt kỹ thuật, công nghệ và thị hiếu của người
tiêu dùng.
1.1.5.3. Tính thẩm mỹ của sản phẩm
Là toàn bộ đặc trưng, đặc tính gợi cảm của sản phẩm đối với khách hàng
như: hình dáng, mầu sắc, trọng lượng, kích thước... khi kinh tế ngày càng phát
triển thì yếu tố này ngày càng được coi trọng khi nghiên cứu để sản xuất sản
phẩm.
1.1.5.4. Độ an toàn của sản phẩm
Trong quá trình vận hành sử dụng sản phẩm độ an toàn của sản phẩm là
một trong những yếu tố mang tính chất bắt buộc đối với doanh nghiệp mà các
quốc gia bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện họ phải đảm bảo an toàn
và tính mạng và sức khoẻ của khách hàng.
1.1.5.5. Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm
Trong quá trình vận hành, sử dụng sản phẩm mức độ gây ô nhiễm phản
ánh sự tác động lên môi trường của sản phẩm. Nếu mức gaay ô nhiễm của sản
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
1.2. Những khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng
1.2.1. Khái niệm về quản lý chất lượng
Theo ISO 8402:1994 quản lý chất lượng là thị trườngát Chủ tịch Công tyả
các hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất
lượng, mục đích chất lượng, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các
biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất
lượng, và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng.
Trong khái niện trên chính sách chất lượng là ý đồ và dịnh hướng chungv
về chất lượng của một tổ chuéc do lánh đaọ cấp cao nhất của tổ chức dề ra.
Lập kế hoạch chất lượng là các hoạt động thiết lập mục tiêu và yêu cầu
chất lượng cũng như yêu cầu về việc thực hiẹen của các yếu tố của hệ thống
chất lượng.
Điều khiển chất lượng (kiểm soát chất lượng) là những hoạt động và kỹ
thuật có tính tác nghiệp được sử dụng nhằm thuực hiện các yêu cầu chất
lượng.
Đảm bảo chất lượng là tập hợp những hoạt động có kế hoạch và có hệ
thống được thực hiện trong hệ thống chất lượng và dược chứng minh ở mức
cần thiết rằng thực thể (đối tượng) sẽ hoàn thành đầy đủ các yêu cầu chất
lượng.
Cải tiến chất lượng là những hoạt động được thực hiện trong toàn bộ tổ
chức nhằm nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động và quá trình
để tạo thêm lợi ích cho tổ chức và các bên có liên quan.
Theo ISO 9000: 2000 quản lý chất lượng là các hoạt động phối hợp để chỉ
đạo hoặc kiểm soát một tổ chức về chất lượng.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Trong khái niệm trên chỉ đạo hoặc kiểm soát một tổ chức về chất lượng
thường bao gồm thiết lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, hoạch
định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất
Nguyên tắc 3: lôi cuốn mọi người tham gia và hệ thống quản lý chất
lượng: Muốn quản lý chất lượng đạt hiệu quả cao thì không chỉ có sự tham
gia chỉ đạo của các cấp lãnh đạo các nhà quản lý mà đòi hỏi phải có sự tham
gia của moịo thành viên trong tổ chức. Chin hhs vì vạy chúng ta phải biết lôi
cuốn kích thích mọi thành viên trong tỏ chức tham gia và phát huy khả năng
sáng tạo của mọi người để đạt được hiệu quả cao nhất của mục tiêu chung của
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Cách tiếp cận quá trình: Quản lý chất lượng chỉ đạt hiệu quả
cao khi mọi hoạt động mọi nguồn lực có liên quan được quản lý thống nhất
trong một quá trình suyên xuốt doanh nghiệp giúp cho việc tổ chức mọi hoạt
động dược rõ ràngphối hợp nhịp nhàng và có hiêu quả cao.
Nguyên tắc 5: Tiếp cận hệ thống đối với quản lý: Phải nhận dạng hiểu biết
và biết cách quản lý các quá trình theo một hệ thống vì các quá trình trong
một doanh nghiệp thường có mối liên quan với nhau chính vì vậy biết cách
quản lý các hệ thống mới có thể khiến doanh nghiệp kinh doanh với hiệu quả
cao nhất.
Nguyên tắc 6: Phải cải tiến liên tục: Trong xã hội ngày mọt phát triển như
hiện nay nhu cầu của con người luôn thay đổi đòi hỏi các doanh nghiệp phải
luôn nghiên cứu để cải tiến để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách
hàng ngày một tăng đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nguyên tắc 7: Tiếp cận bằng sự kiện trong việc ra quyết định: Để việc ra
quyết định một cách đúng đán và có hiệu quả đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải
tiếp cận bằng sự kiên chứ không nên dựa vào tình cảm, suy diễn.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác song phương với người cung ứng: Đối với
doanh nghiệp muốn ổn định trong sản xuất và sản phẩm đầu ra có chất lượng
luôn ổn định đòi hỏi đầu vào của quá trình sản xuất của doanh nghiệp phải
luôn ổn định chính vì vậy doanh nghiệp phải luôn quan hệ tốt với người cung
Pháp, Tây Ban Nha. ISO là một tổ chức phi chính phủ . Nhiệm vụ chính của
tổ chức này là nghiên cứu xây dựng, công bố các tiêu chuẩn (không có giá trị
pháp lý bắt buộc áp dụng) thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau . ISO có trên 130
thành viên .Việt Nam là thành viên chính thức từ năm 1977 và là thành viên
thứ 72 của ISO. Cơ quan đại diện là Tổng cục tiêu chuẩn - Đo lường - Chất
lượng.
1.3.1.2. Lịch sử hình thành
ISO 9000 là một bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng, được ban
hành chính thức năm 1987, nhưng thực tế nó đã được hình thành từ rất lâu sau
đại chiến 2 ở Anh Quốc và các nước Châu Âu khác cũng như Bắc Mỹ.
Năm 1955, Hiệp ước Bắc Đại tây dương đưa ra các tiêu chuẩn về chất
lượng cho tàu APOLO của Nasa, máy bay Concorde của Anh- Pháp....
Năm 1969 Anh, Pháp thừa nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn quốc phòng với
các hệ thống đảm bảo chất lượng của người thầu phụ thuộc vào các thành
viên của NATO.
Năm 1972, Viện tiêu chuẩn Anh ban hành tiêu chuẩn BS 4891 – Hướng
dẫn đảm bảo chất lượng.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Năm 1979, Viện tiêu chuẩn Anh ban hành tiêu chuẩn BS 5750 – Tiền
thân
của ISO 9000.
Năm 1087, ISO công bố lần đầu tiên bộ ISO 9000 khuyến cáo áp dụng
trong các nước thành viên và trên toàn thế giới.
Năm 1994, Bộ ISO 9000 được tu chỉnh lại và bổ xung thêm một số tiêu
chuẩn mới.
Năm 2000, Bộ ISO 9000 được tu chỉnh nói trên lại được sửa đổi lần nữa
và ban hành.
1.3.2. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 phiên bản 2000
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖpNg« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
17
Đào tạo TQM, ISO
9000
Xây dựng nhóm ISO
9000
Sự tham gia của mọi
người, QC
Cam kết của lãnh đạo và doanh
nghiệp
Bổ nhiệm giám đốc chất lượng
Xây dựng chính sách chất
lượng
Lập lưu đồ, viết thủ tục
Thiết lập hệ thống chất lượng
Xem xét của lãnh đạo
Huấn luyện
Đơn đăng ký ISO
9001:2000
Xác định trách nhiệm của
mỗi người
Sổ tay chất lượng
chất lượng nội bộ
TQM C i ti n ch t l ng ả ề ấ ượ
Đánh giá hệ thống
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Chú thích: Điều kiện bao gồm cả các yếu tố vật chất, xã hội, tâm lý và
môi trường (ví dụ như nhiệt độ, hệ thống thừa nhận, ergonomic và thành
phần không khí).
- Chính sách chất lượng
Chính sách chất lượng là ý đồ và định hướng chung của một tổ chức có
liên quan đến chất lượng được lãnh đạo cao nhất công bố chính thức.
- Mục tiêu chất lượng.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu chất lượng.
- Sổ tay chất lượng.
- Quản lý nguồn nhân lực.
+ Xây dựng chức năng nhiệm vụ .
* Của đơn vị.
* Của từng thành viên.
+ Mô tả công việc của từng chức danh ( tên chức danh, các yêu cầu về
trình độ, hiểu biết, làm đựợc những việc được giao, nhiệm vụ giao ,
quyền hạn và người thay thế khi vắng mặt).
-Quản lý hệ thống văn bản, tài liệu văn thư lưu trữ.
-Các quy trình làm việc .
1.3.3. ISO9000 với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.3.3.1. Nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải nâng cao các hoạt động như: sản
xuất, tài chính, quản trị nhân lực. .. Nhưng trong kinh tế thị trường các chức
năng trên chưa đủ để cho doanh nghiệp phát triển. Muốn tạo được uy tín trên
thị trường bắt buộc các doanh nghiệp phải tự trang bị cho mình chìa khoá của
sự thành công đó chính là việc áp dụng ISO9000 vào trong doanh nghiệp.
ISO9000 sẽ là động cơ kích thích và giúp doanh nghiệp tăng thị phần và mở
rộng thị trường trong nước cũng như ngoài nước.
phẩm của mình, quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và thiết lập một hệ thống
quản lý chất lượng hữu hiệu nhất, từ đó mới tạo ra được lợi thế của doanh
nghiệp đưa doanh nghiệp tới mức phát triển cao hơn.
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
CHƯƠNG 2:
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG ISO 9001 TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI ĐẠI THANH.
2.1. Khái quát về tình hình của Công ty
2.1.1. Thông tin chung về công ty
Tên công ty: Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Đại Thanh
Tên giao dịch tiếng Anh: DAITHANH MENUFACTURE AND
TRACDING JOINT STOCK COMPANY
Trụ sở chính: Xã Tả Thanh Oai - Huyện Thanh Trì - Thành phố Hà Nội
Điện thoại giao dịch: 04.6881237 – 6882367
Fax: 04.6881716
Người đại diện: Ông Dương Văn Yên – Giám đốc Công ty
Giao dịch tại: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Thanh Trì – Hà Nội.
Số vốn kinh doanh của Công ty : 8.359.209.638 đồng
Sản lượng hàng năm: 130 – 140 triệu viên sản phẩm QTC
Cán bộ và công nhân: 1.150 người.
Sản phẩm chính: Gạch đỏ đất sét nung.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần sản xuất và
thương mại Đại Thanh
Công ty gốm xây dựng Đại Thanh là đơn vị thành viên của Tổng công
ty Thủy tinh và gốm xây dựng – Bộ Xây Dựng. Sản phẩm sản xuất của Công
ty là loại gạch xây, gạch chống nóng, gạch lát được sản xuất từ đất sét nung
trên dây truyền công nghệ của Ba Lan- Italia- Ucraina. Công ty có một phân
xưởng sản xuất và hai đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc: Phân xưởng
Ng« V¨n Vô QTKD Tæng hîp 46A
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tháng 3 năm 2000 nhà máy gốm xây dựng Cẩm Thanh là đơn vị liên
doanh giữa công ty gốm xây dựng Đại Thanh với sở xây dựng Hà Tây được
sáp nhập về công ty.
Với một đơn vị sản xuất vật liệu, có các đơn vị thành viên ở xa trung
tâm điều hành nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, nhất trí cao của ban chấp
hành Đảng ủy của Giám đốc công ty, công ty gốm xây dựng Đại Thanh đã
luôn luôn hoàn thành kế hoạch được giao và tiếp tục đổi mới và phát triển sản
xuất.
Năm 2001 đầu tư thêm một dây truyền sản xuất ở nhà máy gốm xây
dựng Cẩm Thanh với vốn đầu tư 4,8 tỷ đồng.
Năm 2002 đầu tư mở rộng sản xuất giai đoạn II nhà máy gốm xây dựng
Cẩm Thanh, xây dựng và lắp đặt một lò nung tuynen công xuất 18 triệu viên
một năm, các công trình phụ trợ phục vụ sản xuất vốn đầu tư 5.9 tỷ đồng.Đầu
tư xây dựng hai hầm sấy sơ cấp cho hệ lò 20 triệu viên một năm của Phân
xưởng gạch Đại Thanh và Nhà máy gốm xây dựng Cẩm Thanh.
Để phát huy hiệu quả các dự án đầu tư Công ty gốm xây dựng Đại
Thanh đã không ngừng cải tiến công tác quản lý sản xuất, quản lý chất lượng
sản phẩm , cải tiến công tác chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng
sản phẩm, giảm định mức tiêu hao vật tư, hạ giá thành sản xuất. Với nhiều đề
tài sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất Công ty đã đẩy nhanh được
lò nung tăng 50% đến 100% so với công suất thiết kế.
Với thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến Công ty đã tạo cơ hội
cho đội ngũ CBCNV trong Công ty học tập nâng cao trình độ, nâng cao công
tác quản lý chuyên môn, tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao
động để họ có đủ khả năng vận hành các thiết bị trong dâ chuyền sản xuất.
Công tác quản lý, công nghệ sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm là
điểm trọng tâm trong công tác điều hành sản xuất của Công ty, Công ty luôn