Một số giải pháp cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 tại Công ty cơ khí 25, Tổng cục CNQP - Pdf 27

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thời điểm đã hơn một năm kể từ ngày Việt Nam chính thức gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn đang xoay
xở tìm cách thích ứng với những luật chơi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, vấn
đề nâng cao năng lực hoạt động, cải thiện khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiêp trong nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Câu hỏi đặt ra là yếu tố gì sẽ
giúp các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển được trong sức ép cạnh
tranh được tạo ra bởi WTO ?. Thực tế, câu trả lời không phải nằm ở vấn đề
của vốn hay công nghệ sản xuất mà chính là ở cung cách và triết lý quản lý
doanh nghiệp. Để hội nhập thành công, doanh nghiệp Việt Nam phải xây
dựng được cho mình một phương thức quản lý có tính hệ thống, khoa học, đạt
hiệu lực và hiệu quả, hệ thống quản lý đó phải luôn hướng tới mục tiêu phục
vụ khách hàng một cách tốt nhất.
Có một thực tế là khi công nghệ sản xuất càng hiện đại, quy mô sản
xuất càng lớn thì hậu quả của việc quản lý kém càng tai hại. Từ đó, yêu cầu
nâng cao chất lượng quản lý hay nói cách khác là quản lý có chất lượng, trở
nên cấp thiết. Đáp ứng yêu cầu đó, ISO 9001:2000 được truyền bá và áp dụng
rộng rãi trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó có Công ty cơ khí 25,
tổng cục CNQP. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 đã thực sự
mang đến một sự thay đổi lớn về phương thức quản lý tại các doanh nghiệp
áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả lớn mang lại từ việc áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 thì cũng có không ít những thiếu sót
cần được nghiên cứu làm rõ và đề xuất các biện pháp cải tiến cần thiết.
Ý thức được vai trò quan trọng của hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2000 đối với hiệu quả hoạt động đơn vị thực tập là Công ty cơ khí 25,
tổng cục CNQP, trong luận văn tốt nghiệp của mình, tôi đã chọn đề tài :
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
1
Khoá luận tốt nghiệp
“Một số giải pháp cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO

hình thành từ thời kỳ của cuộc cách mạng công nghiệp. Trước đó, hàng hóa
được sản xuất từ lúc bắt đầu tới khi kết thúc bởi cùng một người hoặc một
nhóm, với sản xuất thủ công đã ngăn cản sản phẩm đáp ứng khía cạnh chất
lượng. Sản xuất hàng loạt đã kết hợp một số lượng lớn nguời lao động với
nhau. Mỗi người không cần thiết phải hoàn thành sản phẩm mà chỉ đảm nhận
một khâu của quá trình sản xuất. Từ cuối thế kỷ 18, những người tiên phong
như F.W Taylor và Henry Ford đã nhận thấy sự giới hạn của phương pháp
được sử dụng trong sản xuất hàng loạt tại thời điểm đó mà hậu quả của việc
biến động trong chất lượng sản phẩm đầu ra. F.W Taylor đã thành lập phòng
chất lượng để giám sát chất lượng của quá trình sản xuất và chỉnh sửa các lỗi.
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
3
Khoá luận tốt nghiệp
Henry Ford đã nhấn mạnh đến việc tiêu chuẩn hóa thiết kế và các tiêu chuẩn
cấu thành để đảm bảo cho một sản phẩm đạt tiêu chuẩn.
Có nhiều quan điểm khác nhau xuất phát từ các giác độ tiếp cận khác
nhau từ đó hình thành nên các khái niệm về chất lượng khác nhau.
- Cách tiếp cận từ phẩm cho rằng: Chất lượng sản phẩm là tập hợp
những tính chất của sản phẩm có thể được xác định bằng thông số, có thể đo
được hoặc so sánh được. Quan niệm này nhận thức chất lượng sản phẩm như
sự hữu ích của sản phẩm.
- Cách tiếp cận từ các nhà sản xuất cho rằng: Chất lượng là sự hoàn hảo
và phù hợp của sản phẩm yêu cầu hay tiêu chuẩn được xác định. Quan niệm
này đáp ứng nhu cầu của người sản xuất đến việc đạt được các yêu cầu chất
lượng đặt ra, nó không chỉ ra ý nghĩa của chất lượng sản phẩm với khách
hàng, người tiêu dùng.
- Theo cách tiệp cận theo hướng thị trường cho rằng: Chất lượng sản
phẩm là sự phù hợp của sản phẩm với nhu cầu của người tiêu dùng, với mục
đích sử dụng. Đây là quan điểm được đa số tán thành vì nó giúp doanh nghiệp
thỏa mãn được khách hàng, cũng cố thì trường, nó cũng phù hợp với quản

động, việc sản xuất hàng hóa với số lượng lớn trở nên dễ dàng thì yêu cầu với
chất lượng sản phẩm trở nên ngày càng khắt khe. Với các doanh nghiệp Việt
Nam, chất lượng sản phẩm sẽ là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất để tham gia
vào thị trường thế giới.
Một doanh nghiệp có sản phẩm tốt, chất lượng ổn định, thỏa mãn tốt
nhu cầu khách hàng sẽ tạo dựng được thương hiệu và qua đó tác động lớn đến
quyết định chọn mua của khách hàng. Nó giúp doanh nghiệp tăng năng lực
tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Điều đó cũng là cơ sở để
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
5
Khoá luận tốt nghiệp
duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp, là chiến lược phát triển lâu
dài của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được nâng cao còn giúp cho người tiêu dùng
giảm thiểu thời gian, công sức khi sử dụng sản phẩm, từ đó làm tăng lợi ích
người tiêu dùng, đảm bảo kết hợp lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng
tăng tổng phúc lợi toàn xã hội. Suy cho cùng việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của xã hội là mục đích tối hậu của mọi nền sản xuất.
1.1.2 Khái niệm và vai trò của hoạt động quản lý chất lượng
1.1.2.1 Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một khái niệm rộng được xem xét từ khái niệm
“quản lý” và “chất lượng”. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý chất
lượng. Trích dẫn từ định nghĩa của từ điển bách khoa mở Wikipedia: Quản lý
chất lượng là phương pháp đảm bảo rằng mọi hoạt động cần thiết trong thiết
kế, phát triển và triển khai sản phẩm hay dịch vụ được thực hiện một cách hiệu
lực và hiệu quả với sự quan tâm tới hệ thống và quá trình thực hiện.
( ).
Theo tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ( ISO ): “Quản lý chất
lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích để ra
chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm

Tổ chức thực hiện có các nhiệm vụ cơ bản:
- Tổ chức hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với đặc thù và mục tiêu
doanh nghiệp (TQM, ISO 9000, GMP, HACCP…)
- Tổ chức đạo tạo và giáo dục mọi người, mọi bộ phận, mọi phân hệ về
nhiệm vụ và vai trò của họ trong hệ thống.
- Cung cấp các nguồn lực cần thiết.
c. Kiểm tra (Check): Sử lý thông tin đo lường, và báo cáo kết quả tới
người ra quyết định. Hoạt động kiểm tra không tập trung vào việc phát hiển
sản phẩm hỏng và là phát hiện lỗi hệ thống của quá trình sản xuất cung ứng,
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
7
Khoá luận tốt nghiệp
tìm kiếm nguyên nhân gây ra trục trặc ở các khâu, công đoạn, quá trình để đề
xuất các giải pháp xử lý. Kiểm tra gồm các nhiệm vụ:
- Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu chất lượng.
- Tiến hành các hoạt động khắc phục sai lệch.
- Kết luận về việc: thực hiện kế hoạch chất lượng, và tính khả thi của kế
hoạch chất lượng.
d. Hoạt động điều chỉnh và cải tiến (Action): Quyết định sự thay đổi
cần thiết để cải tiến quá trình. Hoạt động điểu chỉnh và cải tiến giúp hệ thống
duy trì, nâng cao không ngừng chất lượng sản phẩm, giảm dần khoảng cách
giữa mong muốn của khách hàng và sự đáp ứng của sản phẩm. Hoạt động
điều chỉnh và cải tiến có thể tiến hành theo hai hướng: phát triển sản phẩm
mới, đổi mới công nghệ. Nội dung cơ bản của hoạt động điều chỉnh và cải
tiến:
- Xây dựng các dự án cải tiến chất lượng dựa trên kết luận phân tích từ
giai đoạn trước.
- Cung cấp các nguồn lực tài chính, kỹ thuật, nhân lực cho việc cải tiến
chất lượng.
1.1.2.2 Vai trò của hoạt động quản lý chất lượng:

cải tiến các quy trình hoạt động cốt lõi khác nhau, điều đó cuối cùng sẽ dẫn
đến sự cải tiến trong việc thực thi công việc”.(
).
Theo ISO 9000:2000, “Hệ thống quản lý chất lượng là hệ thống quản lý
để chỉ đạo và quản lý một tổ chức vì mục tiêu chất lượng”. Như vậy hệ thống
quản lý chất lượng là tổ chức, công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu của
quản lý chất lượng.
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
9
Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, hệ thống quản lý chất lượng gồm có nhiều bộ phận hợp thành,
đó là các chính sách chất lượng, các quy trình sản xuất, các thủ tục trong quá
trình hoạt động của tổ chức. Các bộ phận này có quan hệ hữu cơ, tương tác
mật thiết với nhau trong cùng một hệ thống hướng tới một mục tiêu chung, đó
là tính chồi của hệ thống: Chất lượng sản phẩm.
1.1.3.2 Vai trò của hệ thống quản lý chất lượng (cuốn [4], trang 140 – 141)
Hệ thống quản lý chất lượng là một bộ phận cấu thành nên hệ thống
quản trị kinh doanh của một doanh nghiệp. Nằm trong hệ thống chung quản
trị kinh doanh, hệ thống quản lý chất lượng cùng các hệ thống quản trị khác
như hệ thống quản trị tài chính, hệ thống quản trị marketing, hệ thống quản trị
công nghệ, hệ thống quản trị nhân sự… có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với
nhau. Hệ thống quản lý chất lượng được hoạt động tốt có tác dụng lớn đối với
thành công trong hoạt động của các hệ thống khác, cũng như hoạt động bản
thân của hệ thống quản lý chất lượng chịu ảnh hưởng từ hiệu quả của các hệ
thống khác.
Tổ chức hệ thống quản lý chất lượng một cách khoa học, phù hợp với
thực tiễn của từng doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trên nhiền mặt :
- Đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của khách hàng thông qua chất lượng
hàng hóa và dịch vụ.
- Duy trì được các tiêu chuẩn mà doanh nghiệp đặt ra.

giảm thiểu các sai sót, lẫn tạp chất và nhiễm bẩn, đảm bảo an toàn chặt chẽ từ
khâu con giống, quá trình nuôi trồng, chế biến, dễ dàng xác định xuất xứ
nguyên liệu, từ đó trực tiếp nâng cao chất lượng sản phẩm.
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
11
Khoá luận tốt nghiệp
- Hệ thống quản lý chất lượng QS 9000: Hệ thống các tiêu chuân cho
ngành công nghiêp ôtô, kết hợp hệ thống ISO 9000 với các yêu cầu chuyên
biệt trong ngành chế tạo ôtô.
- Hệ thống quản lý chất lượng SA 8000 (Social Accountability 8000:
do tổ chức Trách nhiệm xã hội quốc tế (Social Accountability International -
SAI) ban hành, yêu cầu các điều kiện làm việc mà một tổ chức phải cung cấp
cho các nhân viên của mình được xây dựng dựa trên các nguyên tắc chung về
quyền con người. SA 8000 được xây dựng trên mô hình hệ thống quản lý chất
lượng ISO 9000, đáp ứng việc đánh giá trên tinh thần ISO: Phát hiện và tiến
hành các hành động khắc phục, phòng ngừa, cải tiến thường xuyên, tập trung
vào hệ thống quản lý, cung cấp tài liệu làm bằng chứng cho hiệu lực của hệ
thống quản lý.
1.2. Những nét chính về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 : 2000
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9001:2000
1.2.1.1 Đôi nét về Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Organization
for Standardization )
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế, tên gọi viết tắt là ISO có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp “isos” có nghĩa là “tương đương” (ISO), là một tổ chức phi
chính phủ được thành lập vào ngày 23/02/1947 đặt trụ sở chính tại Geneve,
Thụy Sĩ, đóng vai trò là cơ quan thiết lập nên các tiêu chuẩn quốc tế về
thương mại và công nghiệp, bao gồm các đại diện từ các tổ chức tiêu chuẩn
thành viên ở 157 quốc gia (bao gồm tổ chức tiêu chuẩn Việt Nam: Trung tâm
Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam tham gia năm 1987).

Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
13
Khoá luận tốt nghiệp
Trong chiến tranh thế giới thứ II, xuất hiện những vấn đề về chất lượng
trong nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao ở Anh như chế tạo vũ khí, ở đó
bom, đạn được chế tạo có thể phát nổ ngay trên dây chuyền sản xuất. Một giải
phát được đưa ra là yêu cầu các nhà máy ghi lại các quy trình sản xuất và
chứng minh qua dữ liệu lưu trữ là các quy trình trên được tuân thủ. Nó được
gọi là tiêu chuẩn BS 5750 và được biết đến như một tiêu chuẩn quản lý vì nó
không chỉ rõ là “sản xuất cái gì” mà là “làm sao để quản lý quá trình sản
xuất”. Năm 1987, chính phủ Anh đã thuyết phục tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
ISO chấp nhận BS 5750 trở thành tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:1987.
ISO 9000:1987 có cùng cấu trúc với BS 5750 với ba mô hình của hệ
thống quản lý chất lượng mà việc chọn lựa phụ thuộc vào phạm vi hoạt động
của tổ chức:
- ISO 9001:1987. Mô hình cho đảm bảo chất lượng trong thiết kế, triển
khai, sản xuất, lắp đặt và bảo quản cho các công ty, tổ chức tạo ra các sản
phẩm mới.
- ISO 9002:1987. Mô hình đảm bảo chất lượng trong sản xuất, lắp đặt,
và bảo quản, có nhứng nét cơ bản như ISO 9001 nhưng không xem xét đến
việc chế tạo snả phẩm mới.
- ISO 9003:1987. Mô hình đảm bảo chất lượng trong việc kiểm tra cuối
cùng bao gồm chỉ công đoạn kiểm tra và hoàn thiện sản phẩm không xem xét
đến việc sản xuất ra sản phẩm.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về quản lý chất lượng được cải tiến lần đầu
tiên vào năm 1994. ISO 9000:9004 nhấn mạnh đến đảm bảo chất lượng sản
phẩm thông qua các hành động phòng ngừa thay vì kiểm tra ở công đoạn cuối
cùng và tiếp tục yêu cầu bằng chứng về việc thực thi theo thủ tục trong văn
bản. Cũng như phiên bản đâu tiên, mặt hạn chế của ISO 9000:9004 là các
công ty có xu hướng thi hành các yêu cầu của ISO bằng cách tạo ra một khối

Khoá luận tốt nghiệp
- ISO 9004:2000 Hướng dẫn cải tiến nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của hệ thống: Đưa ra các lời khuyên về những việc phải làm để cải tiến một
hệ thống quản lý chất lượng đã hoàn chỉnh. Tiêu chuẩn này được diễn đạt
nhấn mạnh là không phải những hướng dẫn thực thi.
Trên thực tế còn có nhiều tiêu chuẩn khác trong dòng tiêu chuẩn ISO
9001. Nhiều trong số chúng thậm chí không có định dạng “ISO 900X”. Ví
dụ, một số tiêu chuẩn trong loạt tiêu chuẩn 10000 được coi như một phần của
dòng tiêu chuẩn ISO 9000 như ISO 10012:2003 ( Hệ thống quản lý đo lường:
các yêu cầu về quá trình đo lường vào công cụ đo lường ), ISO 10007:2003
(Hướng dẫn quản lý mô hình). Tổ chức ISO lưu ý rằng: "Sự nhấn mạnh vào
chứng chỉ có xu hướng che mờ một thực tế là có một hệ thống đầy đủ các tiêu
chuẩn ISO…Những tổ chức thu được giá trị lớn nhất khi những tiêu chuẩn cốt
lõi mới được sử dụng kết hợp trong hành vi của tổ chức, cả với mỗi tiêu
chuẩn hay những tiêu chuẩn còn lại đều tạo lên một hệ tổng thể dòng tiêu
chuẩn ISO 9000.”
1.2.2.
Các nội dung chính của hệ
thống
quản lý chất lượng ISO 9001:2000
1.2.2.1 Các triết lý quản lý
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 được xây dựng trên bốn triết lý quản lý cơ bản,
là nên tảng hướng dẫn hoạt động chất lượng của doanh nghiệp, là cốt lõi của
hệ thống.
Triết lý thứ nhất: Hệ thống quản lý chất lượng quyết định chất
lượng sản phẩm của tổ chức. ISO đưa ra khẳng định “nếu hệ thống sản xuất
và quản lý tốt thì sản phẩm và dịch vụ mà hệ thống đó sản xuất ra sẽ tốt”. Mối
quan hệ giữa chất lượng quản trị và chất lượng sản phẩm là mối quan hệ nhân
quả. Tuy rằng, trong nội dung bộ tiêu chuẩn ISO 9000 không có điều khoản
nào nói về chất lượng sản phẩm nhưng việc áp dụng ISO 9001:2000 suy cho

Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
17
Khoá luận tốt nghiệp
phận mình và cam kết thực hiện các mục tiêu đã đề ra thì với MBP mục tiêu
được đặt ra cho toàn bộ quá trình chứ không phải đạt ra cho từng bộ phận.
MBP chú trọng tới kết quả, hiệu quả của toàn bộ quá trình chứ không phải kết
quả của từng công đoạn công việc của từng bộ phận hay cá nhân. Nhà quản trị
có nhiệm vụ đặt ra mục tiêu trung và dài hạn cho công ty. Từ đó, các bộ phận
tự quyết định các mục tiêu ngắn hạn và các phấn đấu để đạt mục tiêu đó. Do
vậy MBP làm tăng khả năng phối hợp giữa các bộ phận, thành viên của tổ
chức.
1.2.2.2 Các nguyên tắc
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 được thiết kế thỏa mãn
theo tám nguyên tắc của bộ tiêu chuẩn ISO 9000. Những nguyên tắc này là sự
thừa nhận có tính nền tảng giúp cho hoạt động của doanh nghiệp cải tiến được
liên tục tính hiệu quả nhờ định hướng vào nhu cầu của khách hàng. (Nội dung
do tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế ISO cung cấp trên website chính thức
):
Nguyên tắc 1: Hướng vào khách hàng (Customer focus):
Tổ chức phụ thuộc vào khách hàng do đó cần hiểu rõ các nhu cầu hiện
tại và tương lai của khách hàng, cần đáp ứng nhu cầu khách hàng và cố gắng
vượt mức kỳ vọng của khách hàng. Thực hiện nguyên tắc Hướng vào khách
hàng là để tăng doanh thu và thị phần thông qua phản ứng nhanh và mềm dẻo
trước cơ hội thị trường, tăng cường hiệu lực của việc sử dụng nguồn lực tổ
chức để gia tăng mức độ hài lòng của khách hàng, cải thiện sự trung thành của
khách hàng dẫn đến ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tổ chức phải
nghiên cứu và hiểu các nhu cầu, kỳ vọng của khách hàng, đảm bảo rằng mục
tiêu của tổ chức được liên kết với nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng, truyền
đạt nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng trong toàn bộ tổ chức; Đo lường sự
hài lòng của khách hàng và thực hiện theo kết quả đó; Quản lý một cách hệ

Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
19
Khoá luận tốt nghiệp
chức và xác định được sự ràng buộc trong việc thực thi công việc của họ. Các
thành viên thừa nhận vấn đề tồn tại là của họ và trách nhiệm của họ trong việc
giải quyết chúng. Các thành viên đánh giá sự thực hiện công việc của họ theo
mục tiêu của chính họ, chủ động tìm kiếm cơ hội để tăng cường sức cạnh
tranh, tri thức, kinh nghiệm của họ, đồng thời sẵn sàng chia sẻ kiến thức và
kinh nghiệm, thảo luận cởi mở về những vấn đề, sự việc tồn tại.
Nguyên tắc 4: Tiếp cận theo quá trình (Process Approach):
Một kết quả mong muốn đạt được một cách hiệu quả hơn khi các hành
động và nguồn lực liên quan được quản lý như một quá trình. Theo đó đầu ra
của một quá trình này sẽ trực tiếp tạo thành đầu vào của quá trình tiếp theo.
Thực thi nguyên tắc giúp giảm chi phí, rút ngắn chu kỳ sản xuất nhờ sử dụng
hiệu quả nguồn lực.Kết quả được cải tiến, ổn định và dự đoán được. Tổ chức
có thể tập trung và ưu tiên các cơ hội cải tiến. Để thực thiện nguyên tắc cần
xác định một cách hệ thống các hoạt động cần thiết để đạt được kết quả mong
muốn, thiết lập sự chịu trách nhiệm rõ ràng và trách nhiệm báo cáo cho việc
quản lý các hoạt động cơ bản, phân tích và đo lường năng lực các hoạt động
cơ bản, xác định ranh giới giữa các hoạt động chính trong và giữa các chức
năng của tổ chức. Tập trung vào các yếu tố như nguồn lực, phương pháp,
nguyên liệu những thứ sẽ cải tiến những hoạt động cốt lõi của tổ chức. Đánh
giá rủi ro, hậu quả và ảnh hưởng của các hành động tới khách hàng, người
cung ứng và các bên có lợi ích liên quan.
Nguyên tắc 5: Tiếp cận hệ thống trong quản lý ( System approach
to management )
Xác định, hiểu rõ và quản lý các quá trình tương quan với nhau như
một hệ thống có đóng góp và hiệu lực của tổ chức và hiệu quả trong việc đạt
được mục tiêu. Thực hiện nguyên tắc giúp phối hợp và liên kết các quá trình
sẽ đạt được tốt nhất các kết quả kỳ vọng, tạo khả năng tập trung nỗ lực vào

Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
21
Khoá luận tốt nghiệp
phân tích thông tin đúng đắn. Việc ra quyết định và hành động phải dựa trên
phân tích dữ kiện kết hợp với kinh nghiệm và trực giác.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng
(Mutually Beneficial supplier relationships)
Một tổ chức và người cung ứng của nó phụ thuộc lẫn nhau và mối quan
hệ lợi ích tương hỗ thúc đẩy năng lực của cả hai trong việc tạo ra giá trị. Lợi
ích của việc thực thi nguyên tắc là : tăng cường khả năng tạo giá trị cả hai
phía, tạo sự linh hoạt và tốc độ của liên kết phản ứng lại thay đổi của thị
trường, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực. Tổ chức cần thiết lập các mối quan
hệ cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn với sự cân nhắc trong dài hạn, chia sẻ thông
tin và kế hoạch cho đối tác, xác định và lựa chọn những nhà cung cấp chính.
trao đổi thẳng thắn và cởi mở với đối tác từ đó thiết lập các hoạt động phát
triển và cải tiến chung. Khuyến khích và thừa nhận các cải tiến và thành tựu
của người cung ứng.
1.2.2.3 Các yêu cầu cơ bản của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
Nội dung của tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2000 được đưa ra trong một văn bản dài xấp xỉ 30 trang, trong đó đưa ra
các yêu cầu về hệ thống quản lý chất lượng được thiết lập cho các tổ chức
( Được nêu từ chương 4 đến chương 8 ):
Nhóm các yêu cầu về hệ thống quản lý chất lượng (Các yêu cầu chung,
các yêu cầu về hệ thống tài liệu như yêu cầu về lập và duy trì sổ tay chất
lượng, kiểm soát tài liệu, kiểm soát hồ sơ)
Nhóm các yêu cầu về trách nhiệm của lãnh đạo với hệ thống quản lý
chất lượng (Cam kết của lãnh đạo, hướng vào khách hàng, chính sách chất
lượng, hoạch định mục tiêu chất lượng, hoạch định hệ thống quản lý chất
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B
22

chứng chỉ
23
Khoá luận tốt nghiệp
Bước 1: Tìm hiểu hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 và xác
định phạm vi áp dụng trong doanh nghiệp.
Bước 2: Thiết lập ban chỉ đạo xây dựng hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9001 : 2000.
Bước 3: Rà soát lại hệ thống chất lượng của doanh nghiệp, các quy
trình, thủ tục chất lượng hiện có.
Bước 4: Xây dựng hệ thống văn bản chi tiết hóa các thủ tục, quy trình
hướng dẫn hoạt động theo ISO 9001 : 2000.
Bước 5: Đưa hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 vào vận
hành.
Bước 6: Tiến hành đánh giá nội bộ về hiệu lực, hiệu quả của hệ thống,
tìm ra điểm chưa phù hợp, đưa ra các biện pháp khắc phục.
Bước 7: Lựa chọn tổ chức chứng nhận, tiến hành đánh giá chứng nhận
cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 tại doanh nghiệp.
Bước 8: Duy trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 : 2000
tại doanh nghiệp.
1.2.3.2 Tác dụng của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
Năm 1995, bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng ISO 9000 được đưa
vào Việt Nam. Sau hơn 10 năm áp dụng, ISO 9000 đã góp phần không nhỏ
làm thay đổi tư duy quản lý ở nhiều doanh nghiệp, họ đã có tầm nhìn chiến
lược trong kinh doanh, làm ăn có bài bản. Những lợi ích mà các doanh nghiệp
thu được từ việc áp dụng ISO 9000 là rất lớn, thể hiện ở : (Nội dung do trung
tâm Năng suất Việt Nam cung cấp)
Thứ nhất: Tạo nền móng cho chất lượng sản phẩm. ISO 9000 quan
niệm rằng “Một hệ thống quản lý tốt sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt”.
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 giúp doanh nghiệp định hướng
Sinh viên: Phạm Văn Đại Lớp: QLKT 46B

Trích đoạn Tiến hành công tác nghiên cứu thị trường Tăng cường sự hiểu biết của cán bộ, công nhân viên về công tác chất lượng Tăng cường tính độc lập cho đoàn kiểm tra nội bộ Kết hợp nhiều chỉ tiêu, cách tiếp cận trong quá trình kiểm tra, đánh giá nội bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status