Một số giải pháp cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO 90012000 tại Công ty cơ khí 25, Tổng cục CNQP - Pdf 17

LỜI MỞ ĐẦU
Thời điểm đã hơn một năm kể từ ngày Việt Nam chính thức gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn đang xoay
xở tìm cách thích ứng với những luật chơi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, vấn
đề nâng cao năng lực hoạt động, cải thiện khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiêp trong nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Câu hỏi đặt ra là yếu tố gì sẽ
giúp các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển được trong sức ép cạnh
tranh được tạo ra bởi WTO ?. Thực tế, câu trả lời không phải nằm ở vấn đề
của vốn hay công nghệ sản xuất mà chính là ở cung cách và triết lý quản lý
doanh nghiệp. Để hội nhập thành công, doanh nghiệp Việt Nam phải xây
dựng được cho mình một phương thức quản lý có tính hệ thống, khoa học, đạt
hiệu lực và hiệu quả, hệ thống quản lý đó phải luôn hướng tới mục tiêu phục
vụ khách hàng một cách tốt nhất.
Có một thực tế là khi công nghệ sản xuất càng hiện đại, quy mô sản
xuất càng lớn thì hậu quả của việc quản lý kém càng tai hại. Từ đó, yêu cầu
nâng cao chất lượng quản lý hay nói cách khác là quản lý có chất lượng, trở
nên cấp thiết. Đáp ứng yêu cầu đó, ISO 9001:2000 được truyền bá và áp dụng
rộng rãi trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó có Công ty cơ khí 25,
tổng cục CNQP. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 đã thực sự
mang đến một sự thay đổi lớn về phương thức quản lý tại các doanh nghiệp
áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả lớn mang lại từ việc áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 thì cũng có không ít những thiếu sót
cần được nghiên cứu làm rõ và đề xuất các biện pháp cải tiến cần thiết.
Ý thức được vai trò quan trọng của hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2000 đối với hiệu quả hoạt động đơn vị thực tập là Công ty cơ khí 25,
tổng cục CNQP, trong luận văn tốt nghiệp của mình, tôi đã chọn đề tài :
Website: Email : Tel : 0918.775.368
“Một số giải pháp cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2000 tại Công ty cơ khí 25, Tổng cục CNQP ”. Nội dung luận văn tốt
nghiệp được kết cấu theo ba phần chính là :
Chương một: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng và hệ thống quản

một khâu của quá trình sản xuất. Từ cuối thế kỷ 18, những người tiên phong
như F.W Taylor và Henry Ford đã nhận thấy sự giới hạn của phương pháp
được sử dụng trong sản xuất hàng loạt tại thời điểm đó mà hậu quả của việc
biến động trong chất lượng sản phẩm đầu ra. F.W Taylor đã thành lập phòng
chất lượng để giám sát chất lượng của quá trình sản xuất và chỉnh sửa các lỗi.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Henry Ford đã nhấn mạnh đến việc tiêu chuẩn hóa thiết kế và các tiêu chuẩn
cấu thành để đảm bảo cho một sản phẩm đạt tiêu chuẩn.
Có nhiều quan điểm khác nhau xuất phát từ các giác độ tiếp cận khác
nhau từ đó hình thành nên các khái niệm về chất lượng khác nhau.
- Cách tiếp cận từ phẩm cho rằng: Chất lượng sản phẩm là tập hợp
những tính chất của sản phẩm có thể được xác định bằng thông số, có thể đo
được hoặc so sánh được. Quan niệm này nhận thức chất lượng sản phẩm như
sự hữu ích của sản phẩm.
- Cách tiếp cận từ các nhà sản xuất cho rằng: Chất lượng là sự hoàn hảo
và phù hợp của sản phẩm yêu cầu hay tiêu chuẩn được xác định. Quan niệm
này đáp ứng nhu cầu của người sản xuất đến việc đạt được các yêu cầu chất
lượng đặt ra, nó không chỉ ra ý nghĩa của chất lượng sản phẩm với khách
hàng, người tiêu dùng.
- Theo cách tiệp cận theo hướng thị trường cho rằng: Chất lượng sản
phẩm là sự phù hợp của sản phẩm với nhu cầu của người tiêu dùng, với mục
đích sử dụng. Đây là quan điểm được đa số tán thành vì nó giúp doanh nghiệp
thỏa mãn được khách hàng, cũng cố thì trường, nó cũng phù hợp với quản
điểm hướng tới thị trường của marketing hiện đại.
Phổ quát lại, tổ chức tiêu chuẩn thế giới International Standard
Organization ( ISO ) đưa ra định nghĩa chung về chất lượng được chấp nhận
rộng rãi: Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa mãn của tập hợp các thuộc tính
đối với các yêu cầu. Như vậy thỏa mãn nhu cầu là chỉ tiêu cơ bản nhất để
đánh giá chất lượng sản phẩm. Người ta thông thường cho rằng cải tiến và
nâng cao chất lượng sản phẩm là tập trung cải tiến và nâng cao đặc tính kỹ

duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp, là chiến lược phát triển lâu
dài của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được nâng cao còn giúp cho người tiêu dùng
giảm thiểu thời gian, công sức khi sử dụng sản phẩm, từ đó làm tăng lợi ích
người tiêu dùng, đảm bảo kết hợp lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng
tăng tổng phúc lợi toàn xã hội. Suy cho cùng việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của xã hội là mục đích tối hậu của mọi nền sản xuất.
1.1.2 Khái niệm và vai trò của hoạt động quản lý chất lượng
1.1.2.1 Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một khái niệm rộng được xem xét từ khái niệm
“quản lý” và “chất lượng”. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý chất
lượng. Trích dẫn từ định nghĩa của từ điển bách khoa mở Wikipedia: Quản lý
chất lượng là phương pháp đảm bảo rằng mọi hoạt động cần thiết trong thiết
kế, phát triển và triển khai sản phẩm hay dịch vụ được thực hiện một cách hiệu
lực và hiệu quả với sự quan tâm tới hệ thống và quá trình thực hiện.
( ).
Theo tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ( ISO ): “Quản lý chất
lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích để ra
chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm
và thực hiện chúng bằng các biện pháp như
hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng,
đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng
trong khuôn khổ hệ thống chất lượng”.
Như vậy quản lý chất lượng không đặt
trọng tâm vào quá trình quản lý con người mà
liên quan nhiều hơn đến việc nâng cao chất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình 1.1: Sơ đồ vòng tròn chất lượng Deming
Nguồn:
lượng sản phẩm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Nội dung của công tác

- Tiến hành các hoạt động khắc phục sai lệch.
- Kết luận về việc: thực hiện kế hoạch chất lượng, và tính khả thi của kế
hoạch chất lượng.
d. Hoạt động điều chỉnh và cải tiến (Action): Quyết định sự thay đổi
cần thiết để cải tiến quá trình. Hoạt động điểu chỉnh và cải tiến giúp hệ thống
duy trì, nâng cao không ngừng chất lượng sản phẩm, giảm dần khoảng cách
giữa mong muốn của khách hàng và sự đáp ứng của sản phẩm. Hoạt động
điều chỉnh và cải tiến có thể tiến hành theo hai hướng: phát triển sản phẩm
mới, đổi mới công nghệ. Nội dung cơ bản của hoạt động điều chỉnh và cải
tiến:
- Xây dựng các dự án cải tiến chất lượng dựa trên kết luận phân tích từ
giai đoạn trước.
- Cung cấp các nguồn lực tài chính, kỹ thuật, nhân lực cho việc cải tiến
chất lượng.
1.1.2.2 Vai trò của hoạt động quản lý chất lượng:
Quản lý chất lượng là bộ phận hợp thành của quản trị kinh doanh ở
doanh nghiệp. Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì hoạt động quản lý chất
lượng trở thành nhiệm vụ cơ bản trong hoạt động doanh nghiệp. Vai trò quan
trọng của quản lý chất lượng xuất phát từ vị trí của công tác quản lý trong
việc vận hành doanh nghiệp và tầm quan trọng của chất lượng hàng hóa, sản
phẩm trong sản xuất kinh doanh.
Quản lý chất lượng với cách hiểu theo quan điểm hiện đại là quản lý
có chất lượng, là quản lý toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh từ cung ứng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguyên vật liệu đầu vào, thiết kế, sản xuất, cung ứng, dịch vụ hậu mãi …
nhằm đảm bảo đáp ứng mục tiêu đề ra. Một doanh nghiệp thành công hay thất
bại trước hết ở hiệu quả của phương thức quản lý. Hoạt động quản lý chất
lượng mà một trong những chức năng của nó là cải tiến hiệu quả của quá trình
quản lý, do vậy nó là mối quan tâm hàng đầu của một doanh nghiệp.
Hoạt động quản lý chất lượng quyết định đến chất lượng sản phẩm của

như hệ thống quản trị tài chính, hệ thống quản trị marketing, hệ thống quản trị
công nghệ, hệ thống quản trị nhân sự… có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với
nhau. Hệ thống quản lý chất lượng được hoạt động tốt có tác dụng lớn đối với
thành công trong hoạt động của các hệ thống khác, cũng như hoạt động bản
thân của hệ thống quản lý chất lượng chịu ảnh hưởng từ hiệu quả của các hệ
thống khác.
Tổ chức hệ thống quản lý chất lượng một cách khoa học, phù hợp với
thực tiễn của từng doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trên nhiền mặt :
- Đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của khách hàng thông qua chất lượng
hàng hóa và dịch vụ.
- Duy trì được các tiêu chuẩn mà doanh nghiệp đặt ra.
- Nâng cao được các tiêu chuẩn trong doanh nghiêp.
- Phối hợp được hoạt động của các phòng ban trong doanh nghiệp.
- Tạo ra được sự ổn định và giảm bớt sự biến động trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
- Giảm thiểu chi phí hoạt động nhờ tính khoa học của hệ thống.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.3.3 Phân loại các hệ thống quản lý chất lượng (Cuốn [4], trang 135 – 137)
Có nhiều hệ thống quản lý chất lượng khác nhau hiện đang tồn tại phổ
biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Mỗi loại hệ thống có những nét đặc
thù riêng biệt tuy theo mục tiêu chất lượng, đặc thù kinh tế - kỹ thuật của
ngành, mức độ công nghệ, trình độ quản lý của của từng doanh nghiệp mà
được chọn lựa để áp dụng. Về mặt nội dung có thể phân biệt một số hệ thống
quản lý chất lượng như sau:
- Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 : Của tổ chức tiêu chuẩn
thế giới (International Organization for standarization).
- Hệ thống TQM (Total Quality Management): Hệ thống quản lý chất
lượng toàn diện với các modun của hệ thống như 5S, QCC, SS, IE, JIT, TPM
…TQM đòi hỏi sự tham gia của mọi thành viên trong công ty vào hoạt động
quản lý chất lượng từ tất cả các bộ phận như thiết kế, sản xuất, cung ứng.

Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế, tên gọi viết tắt là ISO có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp “isos” có nghĩa là “tương đương” (ISO), là một tổ chức phi
chính phủ được thành lập vào ngày 23/02/1947 đặt trụ sở chính tại Geneve,
Thụy Sĩ, đóng vai trò là cơ quan thiết lập nên các tiêu chuẩn quốc tế về
thương mại và công nghiệp, bao gồm các đại diện từ các tổ chức tiêu chuẩn
thành viên ở 157 quốc gia (bao gồm tổ chức tiêu chuẩn Việt Nam: Trung tâm
Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam tham gia năm 1987).
Sứ mệnh của ISO là thúc đẩy sự phát triển của việc tiêu chuẩn hóa và
các hoạt động liên quan để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dịch vụ trên toàn thế giới, qua đó tăng cướng sự hợp tác về khoa học công
nghệ, kinh tế, tri thức. ISO cùng với tổ chức IEC (Ban Kỹ thuật điện Quốc tế)
và ITU (Liên đoàn Viễn thông quốc tế) có mối quan hệ khăng khít với tổ chức
WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) hướng tới mục tiêu là thúc đẩy hệ
thống thương mại toàn cầu tự do và công bằng. ISO tạo ra các sản phẩm chính
là các bộ tiêu chuẩn quốc tế, báo cáo kỹ thuật, chi tiết kỹ thuật, bản sửa lỗi kỹ
thuật và hướng dẫn sử dụng. ISO có khoảng hơn 200 ban kỹ thuật (TC) có
nhiệm vụ biên soạn và đã ban hành 17000 tiêu chuẩn quốc tế và trung bình
1100 tiêu chuẩn ISO mới được biên xoạn hàng năm ISO đã phát triển trên
được về nhiều lĩnh vực lĩnh vực kỹ thuật và quản lý khác nhau.
Các tiêu chuẩn ISO ký hiệu dưới dạng số, có định dạng “ISO
nnnnn[:yyyy]: Tiêu đề’’ trong đó “nnnnn” là số tiêu chuẩn, “yyyy” là năm
công bố tiêu chuẩn, “Tiêu đề” miêu tả đối tượng điều chỉnh của tiêu chuẩn, ví
dụ : ISO 9001 : 2000 (Bộ tiêu chẩn về quản lý chất lượng), ISO 6385:2004
(Các nguyên tắc công thái học trong việc thiết kế tổng thể nơi làm việc), ISO
14971 : 2007 (Tiêu chuẩn về thiết bị y tế) …
Các bộ tiêu chuẩn ISO trên thực tế không có ràng buộc với một quốc
gia hay một ngành công nghiệp nào, nó đơn thuần được đưa ra chỉ với tư cách
là các bộ tiêu chuẩn quốc tế. Điều này phản ánh một thực tế là một số tiêu
chuẩn nào đó có thể mâu thuẫn với các yêu cầu và dự tính xã hội, văn hóa hay

cùng và tiếp tục yêu cầu bằng chứng về việc thực thi theo thủ tục trong văn
bản. Cũng như phiên bản đâu tiên, mặt hạn chế của ISO 9000:9004 là các
công ty có xu hướng thi hành các yêu cầu của ISO bằng cách tạo ra một khối
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lượng lớn hồ sơ thủ tục và bị đè nặng bởi bộ máy hành chính thực hiện ISO.
Ở một số công ty quá trình thích nghi và cải tiền bị cản trở bởi hệ thống ISO
9000:1994. Điều đó dẫn đến sự cải tiến cho ra đời ISO 9001:2000.
ISO 9001:2000 là kết hợp của ba tiêu chuẩn 9001, 9002, 9003 vào làm
một và lấy tên gọi là 9001. Thủ tục thiết kế và triển khai được yêu cầu chỉ khi
công ty liên quan đến việc tạo ra sản phẩm mới. Phiên bản 2000 theo đuổi
việc tạo ra một sự thay đổi căn bản trong suy nghĩa bằng cách đưa ra các khái
niệm về quản lý quá trình, chú trọng đến giám sát và tối ưu hóa hoạt động của
tổ chức thay vì kiểm tra sản phẩm cuối cùng. Phiên bản 2000 cũng yêu cầu sự
tham gia của lãnh đạo cấp cao để kết hợp hoạt động chất lượng vào trong hệ
thống kinh doanh và tránh ủy quyền công tác chất lượng cho các nhà quản lý
cấp. Một mục đích khác là cải tiến hiệu lực thông qua đo lường số học về sự
thực thi các nhiệm vụ trong tổ chức. Mục tiêu mong muốn về quá trình cải
tiến liên tục và sự định hướng theo sự thảo mãn của khách hàng được thể hiện
rõ.
1.2.1.3 Cấu tạo bộ tiêu chuẩn ISO 9000
Tiêu chuẩn ISO 9001:2000 là một trong những thành phần chính cấu
thành nên bộ tiêu chuẩn ISO 9000, trong đó gồm có:
- ISO 9000:2000 Cơ sở và từ vựng: Bao gồm những khái niệm cơ bản
về hệ thống quản lý chất lượng và đồng thời bao gồm những từ vựng thiết yếu
được sử dụng trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000. Đây là một tài liệu để hướng dẫn
nhưng không được sử dụng cho việc cấp chứng chỉ ISO.
- ISO 9001:2000 Hệ thống quản lý chất lượng: Đưa ra các yêu cầu
đối với hệ thống quản lý chất lượng mà tổ chức cần phải đáp ứng, làm cơ sở
đánh giá, chứng nhận.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

cùng là để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao, duy trì ổn
định, đáp ứng yêu cầu khách hàng. Như vậy, không có nghĩa là áp dụng ISO
9001:2000 thì doanh nghiệp chắc chắn sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng cao,
vấn đề được ISO 9000 tập trung giải quyết là hạn chế thấp nhất những khuyết
tật, hư hỏng của sản phẩm.
Triết lý thứ hai: Làm đúng ngay từ đầu. ISO khuyến cáo các tổ chức
không nên làm việc theo phương châm hỏng đâu sửa đó mà cho rằng sản
phẩm đạt chất lượng bắt nguồn từ các yếu tố đầu vào không có lỗi. Đây là
triết lý cơ bản bắt nguồn từ ý tưởng sản xuất không có khuyết tật (Zero
defect) của người Nhật, nó đóng vai trò nền tảng của ISO 9000. Thực hiện
làm đúng ngay từ đầu giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho sửa sai, làm lại,
giúp giảm thiểu khâu kiểm tra. Triết lý làm đúng ngay từ đầu phủ định quan
điểm vận hành hoạt động hệ thống theo phương pháp thử-sai-sửa mà yêu cầu
làm đúng ngay từ đầu phải được thực hiện ngay từ khâu thiết kế.
Triết lý thứ ba: Phòng ngừa hơn khắc phục. ISO 9000 cho rằng việc
tập trung phong ngừa các sai sot trong các quy trình có thể tăng hiệu quả cảu
quá trình sản xuất , giảm thiểu việc khắc phục các lỗi về chất lượng, tiết kiệm
được nguồn lực. ISO 9000 yêu cầu các tổ chức phải xây dựng chính sách chất
lượng, sổ tay chất lượng, thủ tục, quy trình, hướng dẫn công việc để ngăn
ngừa những quan điểm sai lệch. ISO thiết kế một điều khoản riêng ràng cho
việc phòng ngừa khắc phục (điều khoản 8.52, 8.53). Phòng ngừa được lồng
ghép trong quá trình hoạch định. Hoạch định tốt chính là một phương thức
phòng ngừa hữu hiệu.
Triết lý thứ tư: Quản lý theo quá trình. Trái ngược với mô hình quản
lý truyền thống là quản lý theo mục tiêu MBO (Management by objectives),
ISO 9000 chú trọng vào quản lý theo quá trình MBP (Management by
process). Nếu như MBO luôn đề ra mục tiêu phấn đấu cho mỗi cá nhân, bộ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phận mình và cam kết thực hiện các mục tiêu đã đề ra thì với MBP mục tiêu
được đặt ra cho toàn bộ quá trình chứ không phải đạt ra cho từng bộ phận.

Những nhà lãnh đạo thiết lập sự thống nhất về mục tiêu và phương
hướng của tổ chức. Họ cần phải tạo nên và duy trì môi trường nội bộ trong đó
mọi người có thể tham gia đầy đủ vào việc đạt được mục tiêu chung của tổ
chức. Theo đó mọi thành viên sẽ cùng nắm bắt và thúc đẩy hành động theo
mục tiêu của tổ chức, các hoạt động được đánh giá, sắp xếp và thực thi một
cách thống nhất, giảm thiểu sự bất đồng giữa các cấp trong tổ chức. Trong
quá trình thực hiện cần cân nhắc đến nhu cầu của tất cả các bên như khách
hàng, chủ sở hữu, nhà cung cấp, người cấp vốn, cộng đồng địa phương hay
toàn xã hội; Thiết lập một tầm nhìn rõ ràng về tương lai của tổ chức; Đưa ra
các mục tiêu khuyên khích các thành viên của tổ chức; Tạo ra và giữ vững giá
trị được chia sẻ, sự công bằng, tấm gương đạo đức ở các cấp của tổ chức;
Thiết lập nên lòng tin và loại trừ sự sợ hãi giữa các thanh viên trong tổ chức;
Cung cấp cho mọi thành viên nguồn lực, sự đào tạo và quyền hạn để hành
động một với sự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình; truyền cảm hứng,
khuyến khích và công nhận đóng góp của mỗi thành viên.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người (Involvement of people)
Con người ở mọi cấp bậc là cốt yếu của một tổ chức và sự tham gia đầy
giúp cho khả năng của họ được sử dụng cho lợi ích của tổ chức. Thực hiện
nguyên tắc giúp khích lệ, liên kết, lôi cuốn mọi thành viên trong tổ chức, tạo
sự cải tiến và sáng tạo trong thúc đẩy mục tiêu của tổ chức, giúp cho mọi
thành viên có trách nhiệm với công việc của họ và mong muốn tham gia,
đóng góp và quá trình cải tiến liên tục. Để thực hiện nguyên tắc các thành
viên hiểu được tầm quan trong của sự đóng góp và vai trò của họ trong tổ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chức và xác định được sự ràng buộc trong việc thực thi công việc của họ. Các
thành viên thừa nhận vấn đề tồn tại là của họ và trách nhiệm của họ trong việc
giải quyết chúng. Các thành viên đánh giá sự thực hiện công việc của họ theo
mục tiêu của chính họ, chủ động tìm kiếm cơ hội để tăng cường sức cạnh
tranh, tri thức, kinh nghiệm của họ, đồng thời sẵn sàng chia sẻ kiến thức và
kinh nghiệm, thảo luận cởi mở về những vấn đề, sự việc tồn tại.

liên tục hệ thống thông qua đo lường và đánh giá.
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục (Continual Improvement)
Cải tiến liên tục toàn bộ hoạt động của tổ chức phải là một mục tiêu lâu
dài, thường xuyên. Thực hiện nguyên tắc giúp cho sự sắp xếp các hoạt động
cải tiến tại mọi cấp theo một định hướng chiến lược của tổ chức, tổ chức được
linh hoạt để phản ứng trước các cơ hội thị trường. Tổ chức cần sử dụng cách
tiếp cận nhất quán trong toàn bộ tổ chức để cải tiến liên tục sự vận hành của
tổ chức, đào tạo các thành viên theo phương pháp và công cụ của cải tiến liên
tục. Sự cải tiến liên tục sản phẩm, quá trình hay hệ thống phải trở thành mục
tiêu của mỗi cá nhân trong tổ chức. Thiết lập mục tiêu hướng dẫn, đo lường
sự cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên dữ kiện ( Factual approach to
decision making)
Nhứng quyết định hiệu lực đuợc dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông
tin. Việc ra quyết định dựa trên dữ kiện sẽ giúp ra quyết định hợp lý, tạo khả
năng chứng minh tính hiệu quả của các quyết định trong quá khứ thông qua
dữ kiện lưu giữa, khả năng xem xét, thử thách và thay đổi quan điểm hay
quyết định. Theo đó tổ chức cần đảm bảo dữ liệu và thông tin đúng, đủ và
đáng tin cậy, thông tin có thể tiếp cận được với người sử dụng, phương pháp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phân tích thông tin đúng đắn. Việc ra quyết định và hành động phải dựa trên
phân tích dữ kiện kết hợp với kinh nghiệm và trực giác.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng
(Mutually Beneficial supplier relationships)
Một tổ chức và người cung ứng của nó phụ thuộc lẫn nhau và mối quan
hệ lợi ích tương hỗ thúc đẩy năng lực của cả hai trong việc tạo ra giá trị. Lợi
ích của việc thực thi nguyên tắc là : tăng cường khả năng tạo giá trị cả hai
phía, tạo sự linh hoạt và tốc độ của liên kết phản ứng lại thay đổi của thị
trường, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực. Tổ chức cần thiết lập các mối quan
hệ cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn với sự cân nhắc trong dài hạn, chia sẻ thông

dung do Trung tâm tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam cung cấp)
Quá trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ở một doanh nghiệp
tuân thủ theo nguyên tắc chung của bộ ISO 9000, nói ngắn gọn là: "Ghi
những điều sẽ làm, làm những điều đã ghi, và xét lại những điều đã làm".
Theo đó :
Các bước tiến hành cụ thể:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Công tác Nội dung
1.Viết những gì cần làm. Mô tả hệ thống quản lý chất lượng qua sơ
đồ, tài liệu.
2.Làm những gì đã viết,
viết những gì đã làm
Thực hiện theo đúng nội dung đã soạn thảo
và ghi nhận lại dữ liệu.
3. Chứng minh Mời tổ chức chứng nhận đánh giá và cấp
chứng chỉ
Bước 1: Tìm hiểu hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 và xác
định phạm vi áp dụng trong doanh nghiệp.
Bước 2: Thiết lập ban chỉ đạo xây dựng hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9001 : 2000.
Bước 3: Rà soát lại hệ thống chất lượng của doanh nghiệp, các quy
trình, thủ tục chất lượng hiện có.
Bước 4: Xây dựng hệ thống văn bản chi tiết hóa các thủ tục, quy trình
hướng dẫn hoạt động theo ISO 9001 : 2000.
Bước 5: Đưa hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 vào vận
hành.
Bước 6: Tiến hành đánh giá nội bộ về hiệu lực, hiệu quả của hệ thống,
tìm ra điểm chưa phù hợp, đưa ra các biện pháp khắc phục.
Bước 7: Lựa chọn tổ chức chứng nhận, tiến hành đánh giá chứng nhận
cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 tại doanh nghiệp.

sự thoả mãn khách hàng thông qua những dữ liệu có ý nghĩa.
Tuy nhiên trên thực tế áp dụng tại Việt Nam, trong số hơn 4500 doanh
nghiêp áp dụng ISO 9001:2000 có một tỷ lệ lớn không có hiệu quả cao (Ước
tính khoảng 70% số doanh nghiệp áp dụng ISO 9001:2000 không hiệu quả -
Tài liệu tham khảo số [12], các doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở hình thức
đánh bóng công ty. Hệ thống ISO 9001:2000 không tồn tại gắn liền với hệ
thống điều hành của doanh nghiệp mà vận hành song song như là một hệ
thống riêng của các cán bộ phụ trách công tác quản lý chất lượng, trong nhiều
trường hợp thậm chí còn làm giảm hiệu suất lao động.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Đặc điểm về lao động và quản lý nguồn nhân lực Đánh giá sản phẩm đầu ra của hệ thống Đánh giá về tổ chức thực hiện Đánh giá về hoạt động điều chỉnh và cải tiến Mục tiêu chất lượng và phương hướng cải tiến hệ thống quản lý chất lượng của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status