Giải pháp hoàn thiện việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001- 2000 tại công ty cổ phần xây dựng công nghiệp - Pdf 37

MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm kể từ ngày kể từ khi Đại hội Đảng lần VI năm 1986 đề
ra đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước – chuyển đổi nền kinh tế
đất nước ta từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung,quan lieu bao cấp sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa thì nền
kinh tế đất nước đã từng bước dành được những thành tựu vô cùng to lớn trên
tất cả các mặt như tốc độ tăng trưởng GDP, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Đất nước đang từng ngày đổi mới và phát triển theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, cơ chế thị trường đã tạo ra sự phân cực giữa các doanh
nghiệp và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Để tồn tại và phát triển các
doanh nghiệp chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là phải sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng tốt và có giá cả phù hợp. Nhưng bên cạnh đó thì khó khăn
lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là vấn đề vốn cho đầu
tư cơ sở vật chất và cải tiên hệ thống quản lý của mình.
Công ty cổ phần xây dựng công nghiệp bước vào thị trường xây dựng
từ năm 1960. Từ những ngày đầu thành lập Công ty đã coi việc liên tục cải
tiến và nâng cao chất lượng các công trình thi công là tôn chỉ hàng đầu của
mình.Với chủ trương “Chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng là tấm giấy
thông hành để sản phẩm và dịch vụ của công ty có thể cạnh tranh trên thị
trường” một trong những chiến lược của công ty là áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng ISO 9001-2000 vào hệ thống quản lý của công ty. Từ năm 2003
cho đến nay hệ thống đã vận hành tốt nhưng luôn luôn cần phải được cải tiến
để nâng cao hiệu quả áp dụng..
Trong thời gian thực tập tại Công ty, qua khảo sát và tìm hiểu em đã có
được nhiều nhận thức mới về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001- 2000 trên
thực tế đã được áp dụng tại công ty. Cùng với những kiến thức đã tích lũy ở nhà
1
trường Đại học Kinh tế Quốc dân đồng thời dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS
Đỗ Hải Hà cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú,anh chị trong công ty
em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện việc áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng ISO 9001- 2000 tại công ty cổ phần xây dựng công nghiệp” để

ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản xuất, người tiêu
dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường.
Quan niệm siêu việt cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất
của sản phẩm. Khi nói đến sản phẩm có chất lượng, ví dụ nói về ô tô người
ta nghĩ đến ngay tới những hãng xe nổi tiếng như Roll Roice, Mecxedec…
Quan niệm này mang tính triết học, trừu tượng, chất lượng không thể xác
định một cách chinh xác nên nó chỉ có ý nghĩa đơn thuần trong nghiên
cứu.
Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được
phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Chẳng hạn, theo
quan niệm của Liên Xô (cũ) thì: “Chất lượng là tập hợp những tính chất
của sản phẩm chế định tính thích hợp của sản phẩm để thỏa mãn những
nhu cầu xác định phụ hợp với công dụng của nó”. Quan niệm này đã đồng
nghĩa chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản
phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng
không được người tiêu dùng đánh giá cao.
Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù
hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy
cách đã xác định trước. Định nghĩa này cụ thể, mang tính thực tế cao, đảm
bảo nhằm mục đích sản xuất ra những sản phẩm đạt yêu cầu đã đề ra từ
trước, tạo cơ sở thực tiễn cho các hoạt động điều chỉnh các chỉ tiêu chất
3
lượng. Chẳng hạn, chất lượng được định nghĩa là tổng hợp những tính chất
đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn những yêu cầu định
trước cho nó trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác
nhau về chất lượng sản phẩm. Những khái niệm chất lượng này gắn bó
chặt chẽ với những yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh,
giá cả…Có thể gọi chúng dưới một nhóm chung là quan niệm “chất lượng
hướng theo thị trường”.

Do tác dụng thực tế của nó, nên định nghĩa này được chấp nhận một cách
rộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế ngày nay. Định nghĩa chất
lượng trong ISO 900 là thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại
khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng.
2. Quản lý chất lượng
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động hàng loạt
yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn
cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Quản lý chất lượng là
một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất
lượng. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là hoạt động
quản lý chất lượng.
Hiện nay đang tồn tại quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng
Theo GOST , quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất
lượng tất yếu của sàn phẩm thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng. Điều này
được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như những
tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng
sản phẩm.
5
A.G.Roberton, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng:
Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây
dựng chương trình và phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để
duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho
đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đổng thời cho phép thỏa mãn đầy đủ
các yêu cầu của người tiêu dùng.
A.V.Feigenbaum, nhà khoa học người Mỹ cho rằng:
Quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của
những bộ phận khác nhau trong một tổ chức ( một đơn vị kinh tế) chịu trách
nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được
và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách kinh tế
nhất, thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng.

theo vào những năm 50 của thế kỷ XX: Phạm vi nội dung chức năng quản lý
chất lượng được mở rộng hơn nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào giai đoạn sản
xuất. Ngày nay, quản lý chất lượng đã được mở rộng bao gồm cả lĩnh vực sản
xuất, dịch vụ và quản lý chất lượng ngày nay phải hướng vào phục vụ khách
hàng một cách tốt nhất, phải tập trung vào nâng cao chất lượng của quá trinh
và của toàn bộ hệ thống. Đó chính là quản lý chất lượng toàn diện.
Theo TCVN 5914 – 1994: “Quản lý chất lượng toàn diện là cách quản lý một
tổ chức tập chung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành
viên của nó, nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách
hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội”.
Tóm lại: (Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO 9000): Quản lý chất
lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra
7
chính sách , mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như
hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến
chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng.
3. Vai trò của quản lý chất lượng:
Quản lý chất lượng không chỉ là một bộ phận hữu cơ của quản lý kinh tế mà
quan trọng hơn nó là bộ phận hợp thành của quản trị kinh doanh. Khi nền
kinh tế và sản xuất - kinh doanh phát triển thì quản trị chất lượng càng đóng
vai trò quan trọng và trở thành nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được của
doanh nghiệp và xã hội.
Tầm quan trọng của quản lý chất lượng được quyết định bởi:
- Vị trí của công tác quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh. Bởi vì
theo quan điểm hiện đại thì quản lý chất lượng chính là quản lý
có chất lượng, là quản lý toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
- Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm đối với phát triển kinh
tế, đời sống của người dân và sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Với nền kinh tế quốc dân, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản

là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh.
Sản phẩm có khả năng cạnh tranh mới bán được, doanh nghiệp mới có lợi
nhuận và mới tiếp tục sản xuất - kinh doanh.
Do vậy, chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Tầm quan
trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng lên, do đó phải không
ngừng nâng cao trình độ quản lý chất lượng và đổi mới không ngừng công tác
quản lý chất lượng. Nó là trách nhiệm của các cấp quản lý, trước hết là của
doanh nghiệp, mà người chịu trách nhiệm chính là giám đốc doanh nghiệp.
9
4. Nội dung của quản lý chất lượng
4.1. Những nguyên tắc của quản lý chất lượng
*Nguyên tắc 1: Hướng vào khách hàng
Trong cơ chế thị trường, khách hàng là người chấp nhận và tiêu thụ sản phẩm.
Khách hàng đề ra các yêu cầu về sản phẩm, chất lượng và giá cả sản phẩm.
Để tồn tại và phát triển thì sảm phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra phải tiêu
thụ được và phải có lãi.
Do đó, quản lý chất lượng hướng vào khách hàng và nhằm đáp ứng tốt nhất
nhu cầu của khách hàng. Các hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường, nhu
cầu khách hàng, xây dựng và thực hiện chính sách chất lượng, thiết kế sản
phẩm, sản xuất, kiểm tra, dịch vụ sau khi bán hàng đều phải lấy việc phục vụ,
đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng làm mục tiêu.
Chất lượng định hướng bởi khách hàng là một yếu tố chiến lược, dẫn tới khả
năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, duy trì và thu hút khách hàng. Nó đòi
hỏi phải luôn nhạy cảm đối với khách hàng mới, những yêu cầu thị trường và
đánh giá những yếu tố dẫn tới sự thỏa mãn khách hàng. Nó cũng đòi hỏi ý
thức phát triển công nghệ, khả năng đáp ứng mau lẹ và linh hoạt các yêu cầu
của thị trường, giảm sai lỗi và những khuyết tật của khiếu nại của khách hàng.
*Nguyên tắc 2: Coi trọng con người trong quản lý chất lượng
Con người giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành, đảm bảo,
nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì vậy, trong công tác quản lý chất lượng cần

Theo TCVN thì đảm bảo chất lượng là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và
hệ thống, được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ
mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng, rằng thực tế sẽ đáp ứng các yêu
cầu về chất lượng và cải tiến chất lượng; là nhưng hoạt động được tiến hành
11
trong toàn bộ tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động
và quá trình để tạo thêm lợi ích cho cả tổ chức và khách hàng của tổ chức đó.
Như vậy, cải tiến chất lượng có nghĩa là nỗ lực không ngừng nhằm không
những duy trì mà còn nâng cao hơn nữa chất lượng.
Đảm bào và nâng cao chất lượng là hai vấn đề có liên quan mật thiết với
nhau. Đảm bảo chất lượng bao hàm việc duy trì và cải tiến để đáp ứng nhu
cầu khách hàng. Cải tiến chất lượng bao hàm việc đảm bảo chất lượng và
nâng cao hiệu quả, hiệu suất của chất lượng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu
khách hàng.
Đảm bảo và cải tiến chất lượng là sự phát triển liên tục, không ngừng của
công tác quản lý chất lượng. Muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh,
doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng không ngừng.
*Nguyên tắc 5: Tiếp cận theo quá trình
Trên thực tế đang diễn ra 2 cách quản trị liên quan đến quản lý chất lượng
Một là, quản trị theo quá trình, theo cách này cần quản trị chất lượng ở mọi
khâu kiên quan tới việc hình thành chất lượng đó là các khâu từ nghiên cứu
nhu cầu khách hàng, thiết kế sản xuất, dịch vụ sau bán hàng. Hai là, quản trị
theo mục tiêu tài chính, theo cách này, doanh nghiệp chỉ chú ý tới lợi nhuận,
coi nó là mục tiêu cuối cùng và trong quản trị chất lượng thì quá chú trọng
đến khâu kiểm tra kết quả cuối cùng đó là kiểm tra chất lượng sản phẩm
Để phòng ngừa là chính, ngăn chặn kịp thời các nguyên nhân gây ra chất
lượng kém, giảm đáng kể chi phí kiểm tra và sai sót trong khâu kiểm tra va
phát huy nội lực, cần thực hiện quản lý chất lượng theo quá trình.
*Nguyên tắc 6: Nguyên tắc kiểm tra
Kiểm tra là một khâu rất quan trọng trong bất kỳ một hệ thống quản lý nào.

13
- Hồ sơ đảm bảo chất lượng
- Đánh giá
Những yêu cầu này liên quan đến các hoạt động quản lý và không liên quan
đến các yêu cầu kỹ thuật cụ thể của thiết kế và chế tạo. Các khía cạnh kỹ thuật
sẽ được đề cập tương ứng trong các tiêu chuẩn hay quy định kỹ thuật có liên
quan.
5. Một số hệ thống quản lý chất lượng
5.1. Quản lý chất lượng toàn diện TQM
Hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM được nảy sinh từ các nước
phương Tây với tên tuổi của Deming, Crosby và Juran.
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở
mức tốt nhất cho phép. Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp
quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn dienj cho công
tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động
sự tham gia của mọi bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng
đã đề ra.
Các đặc điểm của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay tại các
công tuy có thể được tóm tắt như sau:
- Chất lượng định hướng bởi khách hàng
- Vai trò lãnh đạo trong công ty
- Cải tiến chất lượng liên tục
- Tính nhất thể và tính hệ thống
- Sự tham gia của mọi cấp, mọi bộ phận, mọi nhân viên
- Coi trọng con người
- Sử dụng các phương pháp tư duy khoa học
5.2. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
14
ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế được Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế ban
hành năm 1987

Như vậy, sau tiêu chuẩn của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã được cơ cấu lại ISO
9001:2000. ISO 8402 về thuật ngữ và định nghĩa nay được đề cập cùng với
các nguyên tắc cơ bản trong ISO 9000:2000. ISO 9004 cũng được điều chỉnh
lại và trở thành cặp đồng nhất với ISO 9001 nhằm hướng dẫn tổ chức cải tiến
để vượt qua những yêu cầu cơ bản của ISO 9001.
Về cấu trúc, từ 20 yêu cầu theo phiên bản cũ nay được tổ chức lại theo cách
tiếp cận quá trình và phân nhóm theo các hoạt động của tổ chức thành 5 phần
chính:
- Các yêu cầu chung của hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL)
gồm các yêu cầu về hệ thống văn bản, tài liệu và hồ sơ.
- Trách nhiệm lãnh đạo – trách nhiệm của lãnh đạo cao cấp đối với
HTQLCL, gồm cam kết của lãnh đạo, định hướng vào khách
hàng, hoạch định chất lượng và thông tin nội bộ.
- Quản lý nguồn lực – gồm các yêu cầu về cung cấp nguồn lực cẩn
thiết cho HTQLCL, trong đó có các yêu cầu về đào tạo.
- Tạo sản phẩm – gồm các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ trong
đó có việc xem xét hợp đồng. mua hàng, thiết kế, sản xuất, đo
lường và hiệu chuẩn.
- Đo lường, phân tích và cải tiến – gồm các yêu cầu cho hoạt động
đo lường, trong đó có việc đo lường sự thỏa mãn khách hàng,
phân tích dữ liệu và cải tiến liên tục.
Nhìn chung, các yêu cầu theo tiêu chuẩn mới đi theo chiều hướng tích cực
hơn cho các tổ chức/ doanh nghiệp. Thay vì phải xây dựng một hệ thống văn
16
bản cho cả 20 yêu cầu của tiêu chuẩn cũ mà đôi khi trở nên quan liêu và phức
tạp cho các hoạt động thì theo tiêu chuẩn mới, chỉ còn 6 quy trình cần được
văn bản hóa ( Kiểm tra tài liệu; kiểm soát hồ sơ chất lượng; đánh giá chất
lượng nội bộ; kiểm soát sản phẩm không phù hợp; hành động khắc phục; hành
động phòng ngừa) và 21 hồ sơ chất lượng. Ngoài ra, tổ chức có thể xác định
những văn bản khác cần thiết cho tổ chức hoạt động hiệu quả. Việc xác định

giới và đã được công nhận là một trong các yếu tố vô cùng quan trọng để duy
trì khă năng cạnh tranh của mỗi nước. Vì thế, số lượng công ty áp dụng tiêu
chuẩn ISO 9000 trên thế giới ngày càng nhiều.
Các cuộc điều tra cho thấy, trong năm 2005, số chứng nhận ISO 9000 tăng
mạnh so với các năm trước. Đến nay, số lượng chứng nhận ISO 9000 trên thế
giới là gần 1 triệu; số lượng quốc gia có tổ chức/ công ty được chứng nhận
ISO 9000 tăng lên 160 nước.
So sánh về khu vực thì Châu Âu dẫn đầu về số lượng chứng nhận ISO 9000.
Năm 2005 có hơn 30.000 chứng chỉ mới cho các nước Châu Âu, trong đó có
3 quốc gia Italia, Tây Ban Nha, CH Sec đã chiếm tới 20.000. Tổng cộng đến
năm 2005 Châu Âu đã có 310.212 chứng nhận, chiếm tỷ trọng 53,87% tổng
số chứng nhận toàn cầu. Tuy nhiên, so với tỷ trọng 83,07% mà Châu Âu
chiếm lĩnh được trong mấy năm trước đó thì thấy rằng khoảng cách giữa
Châu Âu và các nước khu vực ngày càng thu hẹp. Điển hình là khu vực Viễn
Đông, hiện nay đang đứng vị trí thứ 2 với tỷ trọng 50,05% ( Năm 2002 chỉ là
10,46%) và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia đóng góp
nhiều nhất trong số lượng chứng chỉ này.
18
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đến Việt Nam từ năm 1990, tuy nhiên do nhiều yếu
tố chủ quan và khách quan như nền kinh tế đang chuyển đổi, công nghệ còn
thấp, trình độ còn hạn chế…, nên việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO
9000 tại các doanh nghiệp chỉ thực sự trở thành một phong trào mạnh mẽ bắt
đầu từ năm 1996 sau hội nghị chất lượng Việt Nam năm 1995 và những thách
thức, đòi hỏi của sự hội nhập thực sự với khu vực và thế giới.
Nước ta chấp nhận hoàn toàn tiêu chuẩn ISO 9000 thành tiêu chuẩn Việt
Nam. Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã biên soạn và phổ biến các
tài liệu về ISO 9000, hướng dẫn, giáo trình các phiên bản phần mềm ứng
dụng, các quy định về chứng nhận sự phù hợp, chương trình chứng nhận.
Theo các đánh giá của chuyên gia Tổng cục Tiêu chuẩn Đo Lường – Chất
lượng thì phần lớn các doanh nghiệp đã ý thức hiệu quả từ việc áp dụng hệ

3 2002 561747 159
4 2003 612880 186
5 2004 685121 157
6 2005 736252 189
(Nguồn: Tạp chí đo lường chất lượng)
Bảng 9: Tình hình áp dụng ISO 9000 tại Việt Nam
TT Năm Số chứng chỉ TT Năm Số chứng chỉ
1 2000 315 4 2003 1108
2 2001 600 5 2004 1500
3 2002 979 6 2005 1.680
(Nguồn: Tạp chí đo lường chất lượng)
20
Nhỡn chung cỏc doanh nghip Vit Nam ó nhn thc rừ kt qu do ỏp dng
b tiờu chun ISO mang li, nhng do nhiu lý do khỏc nhau lm cn tr s ra
nhp ca chỳng ta vo tro lu th gii. ú cú th l nhn thc, quan im
ca nh lónh o cỏc doanh nghip, khú khn trong thay i tp quỏn qun tr,
quỏ trỡnh hiu v xõy dng ISO 9000Cỏi ú chỳng ta khụng bn bc õy
m chỳng ta phi nhn thy rng ỏp dng h thng qun lý cht lng theo
tiờu chun ISO 9000 l rt quan trng ti s thnh cụng hay tht bi ca
doanh nghip hay ca quc gia trong quỏ trỡnh hi nhp th gii. Chỳng ta
phi nhỡn thy tng lai v khc phc nhng hn ch ca chớnh mỡnh.
Chng II: Thc trng vic ỏp dng h thng qun lý cht lng ISO
9001:2000 ti cụng ty C phn Xõy dng Cụng nghip
1.Quỏ trỡnh hỡnh thnh v phỏt trin ca Cụng ty C phn Xõy dng Cụng
nghip
1.1. Gii thiu v cụng ty
Tờn giao dch: Cụng ty C phn Xõy dng Cụng nghip
n v qun lý: S xõy dng H Ni
Tng s cỏn b cụng nhõn viờn: 450 ngi
Tr s chớnh: 166 ph Hng Mai Qun Hai B Trng H Ni

ngành xây dựng, thể dục thể thao và vui chơi giải trí.
- T vấn cho các chủ đầu t trong và ngoài nớc về lĩnh vực : Lập dự án, quản
lý và tổ chức thực hiện dự án.
- Kinh doanh kho bãi ( Trong phạm vi đất của Công ty đang quản lý ), đại
lý kinh doanh vật liệu xây dựng.
1.2. Quỏ trỡnh hỡnh thnh v phỏt trin ca cụng ty
Công ty cổ phần xây dựng công nghiệp đã khởi đầu từ công trờng 105 trực
thuộc Cục xây dựng Hà nội theo quyết định ngày 15 tháng 01 năm 1960 với số
CBCNV chỉ có 300 ngời. Nhng với sự quyết tâm vợt bậc của toàn thể CBCNV
trong đơn vị, công trờng đã từng bớc đi lên cùng năm tháng oanh liệt nhng cũng
đầy tự hào của đất nớc Việt nam nói chung và của thủ đô Hà nội nói riêng.
22
Đợc sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Cục xây dựng Hà nội và với sự
phấn đấu hết mình của toàn thể anh chị ém trong đơn vị, công trờng 105 đã
thành lập công ty xây dựng số 2 vào năm 1970, và sau đó là công ty xây dựng
số 5 theo quyết định số 25UB/XDCN vào ngày 06 tháng 02 năm 1970 của Uỷ
ban hành chính Hà nội. Và đến năm 1972 đã sát nhập cùng với công trờng 108
và 1 bộ phận của công trờng 5 thuộc công ty 104 thành lập lên công ty xây lắp
công nghiệp theo quyết định số 127/TCCQ ngày 21 tháng 01 năm 1972 của Uỷ
ban hành chính Thành phố Hà nội. Và để làm tốt công tác chuyên môn trong
ngành xây dựng, vào tháng 10 năm 1972 Công ty xây lắp công ngiệp đã đợc
tách bộ phận lắp máy và điện nớc của công ty để thành lập công ty điện nớc lắp
máy và chính thức đổi tên là Công ty xây dựng công nghiệp theo quyết định số
1016/QĐ-TCCQ vào ngày 28 tháng 10 năm 1972 của uỷ ban hành chính Hà
nội.
Căn cứ quyết định số 617/QĐUB ngày 13 tháng 02 năm 1993 của UBND
Thành phố Hà nội cho phép đợc thành lập Công ty xây dựng công nghiệp thực
thuộc Sở xây dựng Hà nội. Và nó đợc giữ nguyên tên gọi cho đến ngày
1/8/2007. Trụ sở công ty đóng tại số 166 Phố Hồng Mai Quận Hai Bà Trng
Hà nội.

XN
XD5
XN
XD6
XN
XD7
i
TCCG
& XD
i
iờn
Nc
Đại hội đồng
cổ đông
Hội đồng
quản trị
Ban kiểm soát
2. Quá trình triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2000 tại Công ty
Lãnh đạo Công ty cổ phần xây dựng Công nghiệp đã quyết tâm theo
đuổi đến cùng xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001: 2000 là mô hình phù hợp với đơn vị thi công xây lắp vì xây dựng một
hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến nhất trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế
gia tăng là để tất cả các thành viên trong Công ty đều nhận thức được rằng ở
bất kỳ công trình xây dựng nào cũng làm theo các quy trình, hướng dẫn theo
một chuẩn mực bắt buộc.
Đối với Công ty thì việc đánh giá chất lượng chủ yếu dựa vào các hồ sơ
lưu trữ trong quá trình thi công như các biên bản nghiệm thu, công tác đất,
công tác cốp pha, bê tông, xây trát… dựa vào các chứng chỉ văn bản mẫu thí
nghiệm các tính chất cơ lý của vật liệu. Khi kiểm soát quá trình thi công để

cho nhân viên, khách hàng của Công ty, nó hoạt động như thế nào trong lĩnh
vực xây dựng, vai trò và trách nhiệm của các chương trình trong hệ thống đối
với các phòng ban. Bên cạnh đó các nhà cung cấp vật liệu cũng tham gia vào
chương trình này. Công ty có thể thuê chuyên gia tư vấn hay là do lực lượng
nhân viên để nói chuyện với các nhân viên ở các cấp điều hành.
Bước 3: Đào tạo
Vì Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nên chương trình đào tạo
phải được cấu trúc theo từng loại đối tượng nhân viên. Ban lãnh đạo của Công
ty phải chú ý đào tạo bao quát được các khái niệm cơ bản của hệ thống chất
lượng và ảnh hưởng chung của chúng đến mục đích chiến lược của tổ chức,
25

Trích đoạn Bắt đầu, khụng sớm hơn Kết thỳc khụng muộn hơn Những thuận lợi và khú khăn cũn tồn tại khi ỏp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000 ở Cụng ty Một số giải phỏp nhằm hoàn thiện việc ỏp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 tại Cụng ty Cổ phần Xõy dựng Cụng nghiệp Thành lập Phũng ISO.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status