BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRIỆU THỊ NHUNG
LKT 12-02
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY–
MỘT SỐ VẤ ĐỀ LY LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 52380107
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội, 6/2016
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRIỆU THỊ NHUNG
LKT 12-02
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY– MỘT SỐ VẤ ĐỀ LY LUẬN VÀ
TS. Nguyễn Thị Thu Hiền
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thu
Hiền – Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận
lợi cho em hoàn thành tốt đề tài này. Trong quá trình thực hiện khóa luận, em học
hỏi được rất nhiều điều từ cô.
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo giảng
dạy ở Khoa Luật – Viện Đại học mở Hà Nội, những người đã cung cấp cho em
những kiến thức quý báu trong thời gian học tập, rèn luyện tại khoa.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong
suốt thời gian qua.
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên do thời
gian và kiến thức còn hạn chế, chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót về mặt nội dung và hình thức. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn
của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện
Triệu Thị Nhung
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài .............. 19
1.2.3.
Tố tụng trọng tài thương mại ................................................................ 21
1.2.4. Ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài .................................................................................. 23
1.3 Khái quát về tòa án và vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài
thương mại
25
1.3.1.
Khái quát về tòa án ............................................................................... 25
1.3.2.
Vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài thương mại ......................... 26
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VAI
TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI.................................................................................................. 29
2.1. Chỉ định thay đổi trọng tài viên đối với trọng tài vụ việc
29
2.2. Xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
trọng tài
31
2.3. Sự hỗ trợ của tòa án trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập người
3.1.1.
Về quy định Tòa án có thẩm quyền chỉ định, thay đổi Trọng tài viên . 42
3.1.2. Về xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp
của Hội đồng trọng tài ......................................... Error! Bookmark not defined.
3.1.3.
Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ...................................... 43
3.1.4.
Về quy định hủy phán quyết Trọng tài .................................................. 44
3.2.Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện vai trò của
tòa án đối với tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam
45
3.2.1. Cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà nước đối với các tổ chức
phi Chính phủ, trong đó có trọng tài thương mại ............................................... 45
3.2.3.Nâng cao năng lực của Thẩm phán trong quá trình thực hiện vai trò của
tòa án đối với tố tụng trọng tài
47
3.2.4.
Lựa chọn Trung tâm trọng tài phù hợp ................................................ 47
3.2.5.
Về chỉ định, thay đổi Trọng tài viên...................................................... 48
Viện kiểm sát nhân dân
VKSND
Ủy ban nhân dân
UBND
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế đã đem lại những thành quả to lớn
về kinh tế xã hội. Nền kinh tế nước ta sau gần ba mươi năm đổi mới đã có những
chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển. Cũng
trong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp.
Vì vậy, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại là điều không
thể tránh khỏi. Do tính chất cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham
gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng
đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức
giải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật.
Pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều phương thức giải quyết tranh chấp như:
thương lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài thương mại. Đối với từng phương thức
đều có những ưu điểm, hạn chế, không có phương thức nào chiếm vị thế tuyệt đôi.
tài thương mại năm 2010 được thông qua, ở Việt Nam đã một số công trình nghiên
cứu liên quan đến trọng tài thương mại. Sau khi Luật trọng tài thương mại 2010 ra
đời, vấn đề nghiên cứu pháp luật về trọng tài thương mại đã nhận được sự quan tâm
của nhiều nhà khoa học và đã có một số đề tài nghiên cứu về vai trò của tòa án đối
với hoạt động tố tụng trọng tài.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, Luật trọng tài thương mại năm 2010 thay
thế cho pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 bị đánh giá là còn nhiều điểm
chưa hợp lý, chưa hấp dẫn các doanh nghiệp tìm đến con đường giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại, một phương thức tỏ ra có ưu thế hơn hẳn tòa án
được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới. Trong đó, vai trò của tòa án đối với
hoạt động của trọng tài thương mại là một trong những vấn đề cần phải bàn tới
nhiều nhất. Vì vậy, em chọn đề tài này cũng là để tìm hiểu sâu sắc hơn về các quy
định pháp luật về vấn đề này để có thể đưa ra được nhận xét chính xác nhất, qua đó
nêu lên một số đề xuất để việc thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thương mại được thuận lợi hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu, làm sáng tỏ những quy định pháp luật về
TTTM, giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM và những quy định pháp luật
về sự hỗ trợ của tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại để làm rõ các vấn đề
về vai trò của tòa án trong tố tụng TTTM. Qua đó, phân tích làm rõ thực trạng pháp
luật về vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn
áp dụng pháp luật của vấn đề này. Từ thực tiễn áp dụng, khóa luận đưa ra một số
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tố
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
3
cứu một cách có hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ
hiểu; phương pháp thống kê đem đến một cách nhìn cụ thể hơn thông qua những
con số.
5. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương, cụ thể như sau:
Chương I: Lý luận chung về trọng tài thương mại và vai trò của tòa án trong tố
tụng trọng tài thương mại.
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
4
Chương II: Nội dung quy định pháp luật Việt Nam về vai trò của tòa án đối
với hoạt động tố tụng trọng tài thương mại.
Chương III: Thực trạng thi hành pháp luật về vai trò của tòa án đối với tố tụng
trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị.
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh
doanh.
-
Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường.
-
Kinh tế nhất.
Căn cứ vào nhu cầu điều chỉnh pháp luật có sự phân hóa đối với các hoạt động
kinh doanh thì cho tới thời điểm hiện tại, các phương thức giải quyết tranh chấp chủ
yếu được áp dụng rộng rãi bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
6
và giải quyết thông qua tòa án. Cùng với sự phát triển kinh tế, TTTM đã trở thành
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến nhất và được các chủ thể
kinh tế ưu tiên lựa chọn.
Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa
giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại
đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về
trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất
tại La – Hay, Hà Lan năm 1899 và năm 1907. Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn
thảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp
ước trọng tài. Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “trọng tài”
đã được đề cập nhiều trong luật quốc tế. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu
trong công ước La – Hay năm 1899, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết
những bất đồng của các bên, thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa
chọn và đặt trên cơ sở tôn trọng luật pháp”. Công ước La-Hay năm 1907 qui định:
“Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia
qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp lựa chọn và
đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp”. (Theo: Trần Thị Tường Vân, Hội nghị
khoa học trẻ Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh lần 1 “Pháp luật hiện hành về trọng tài
thương mại trên hành trình hội nhập và phát triển”).
Trong khoa học pháp lý, TTTM được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác
nhau và do đó, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về trọng tài. Tuy nhiên, có
hai cách tiếp cận phổ biến nhất, đó là:
Thứ nhất, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại. Theo cuốn đại từ điển kinh tế thị trường, Trọng tài được hiểu là
phương pháp giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp. Ở đó, chỉ đôi bên đương sự tự
nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư
cách công bằng, chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực
ràng buộc với hai bên tranh chấp (Theo: đại từ điển kinh tế thị trường (1998), Nhà
xuất bản bách khoa, Hà Nội). Bên cạnh đó, theo Hội đồng trọng tài Mỹ AAA
(American Arbitration Association) thì: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh
chấp bằng cách đệ trình tranh chấp đó cho một số người khách quan xem xét giải
quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành”.
Ở Việt Nam, chế định về TTTM được du nhập vào hệ thống pháp luật từ cuối
thế kỷ XIX. Tuy nhiên trong giai đoạn sơ khai (giai đoạn trước năm 2003), không
có một luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng
tài quốc tế. Thêm vào đó, quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài không được
các vụ tranh chấp. Nói cách khác, trọng tài là cơ quan xét xử mang tính chất “tư” do
các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại của chính họ.
1.1.2.
Đặc điểm trọng tài thương mại
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại, TTTM có
những đặc điểm sau:
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
9
Thứ nhất, Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia
của bên thứ ba – một TTV duy nhất hoặc HĐTT. Trọng tài do các bên tranh chấp
thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp sẽ hoàn toàn độc lập với
các bên, đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc để bảo vệ quyền lợi của các bên.
Thứ hai, Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ
tục tố tụng chặt chẽ. Tuy các quy tắc tố tụng trọng tài ở các quốc gia rất khác nhau
nhưng nhìn chung quy tắc lựa chọn TTV và thủ tục của hầu hết các Trung tâm trọng
tài trên thế giới đều dựa theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL.
Khi giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, các TTV và các đương sự phải tuân thủ
đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức
trọng tài đó quy định.
Thứ ba, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa yếu tố
thỏa thuận và tài phán. Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên mà xuất phát từ
“1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng
pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.
2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật
do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng
trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.
3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy
định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng
tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.
Ngoài ra, một trong những nguyên tắc khi giải quyết tranh chấp thương mại
bằng TTTM đó là phiên họp giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM không
diễn ra công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nguyên tắc này đã thể
hiện được sự tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn,
Trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần thiết.
Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, TTTM có những đặc điểm
như sau:
Thứ nhất, TTTM là một loại hình tổ chức phi Chính phủ (không hưởng ngân
sách nhà nước), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài. Thuật ngữ “Trọng tài
phi Chính phủ” không có nghĩa là cơ quan này sẽ không chịu sự quản lý, giám sát
của Nhà nước. Phi Chính phủ là để phân biệt với một cơ quan tài phán Nhà nước,
có quyền lực Nhà nước. Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ
quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các
quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế,
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
11
Trung tâm trọng tài. Nhà nước hỗ trợ các hoạt động tố tụng của trọng tài như: hỗ trợ
chỉ định, thay đổi TTV, cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài.
Thứ hai, phán quyết của TTTM có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước
bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào. Trong khi tòa án xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi
còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự
tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát...). Còn cách thức giải quyết
bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động. Tính chung thẩm của quyết định
trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến
các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét
xử. Khi tuyên phán quyết xong, HĐTT hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại
của mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương
mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết
định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài
và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Phán quyết
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
12
trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về
tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Phán quyết trọng tài là quyết định cuối
cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của tòa án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố
tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không
chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải
quyết các vụ án.
1.1.3. Phân loại trọng tài thương mại
trong hoạt động thương mại.
Hai là, các bên cũng có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng như cách
thiết lập HĐTT và thủ tục giải quyết thích hợp với từng vụ tranh chấp. Các bên sẽ
tự tổ chức HĐTT, tự thỏa thuận quá trình tố tụng. Hoạt động trọng tài không lệ
thuộc vào bất cứ quy tắc xét xử nào miễn là bảo đảm được nguyên tắc xét xử khách
quan, vô tư và đúng pháp luật.
Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo về
phương thức hoạt động nên nói chung phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết
phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến
thức và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng. Nhưng, trên thực tế,
đây là một quá trình tốn thời gian nhằm thảo ra những quy định đặc biệt dành riêng
cho trọng tài vụ việc. Thông thường hình thức này được áp dụng với TTTM quốc
tế, phù hợp với những trường hợp mà thiệt hại lớn, đặc biệt trong những vụ việc có
liên quan tới chủ thể là một quốc gia hay một tổ chức quốc gia có liên quan và các
vấn đề thuộc chính sách và quyền lực công có thể phát sinh. Thông qua trọng tài vụ
việc, có thể tạo ra thủ tục về tố tụng có lợi cho cả hai bên, mà vẫn đạt được những
yêu cầu đặt ra trong những vụ việc nhạy cảm có liên quan đến một bên chủ thể là
quốc gia. Trước khi Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời, ở Việt Nam, trọng tài vụ việc chỉ
được thừa nhận để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Điều này được quy định trong
nhiều văn bản pháp lý khác nhau như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật
hàng không dân dụng, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ…Pháp lệnh TTTM 2003
lần đầu tiên quy định tương đối cụ thể về Trọng tài vụ việc, cho phép Trọng tài vụ
việc giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh kể cả tranh chấp quốc tế và trong
nước miễn là các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn. Pháp lệnh quy định về việc
chọn TTV để thành lập HĐTT, thủ tục tố tụng, việc hủy quyết định trọng tài, việc
thi hành quyết định của trọng tài vụ việc tương tự như trọng tài quy chế. Hiện nay,
Luật TTTM 2010 được ban hành trên cơ sở kế thừa những quy định của Pháp lệnh
TTTM 2003 và bổ sung thêm một số quy định mới về trọng tài vụ việc như việc
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội
đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải. Đồng thời với việc
ban hành nghị định
116/NĐ-CP ngày 05/09/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế cũng
cho ra đời các trung tâm trọng tài là những tổ chức trọng tài thường trực. Các Trung
tâm trọng tài kinh tế đã mang dáng dấp của một tổ chức phi chính phủ, có Điều lệ
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
15
và con dấu nhưng vẫn chưa có tư cách pháp nhân. Điều lệ của các Trung tâm trọng
tài kinh tế cần được sự chuẩn y của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các TTV trong danh
sách TTV phải do Hội đồng xét chọn TTV do Bộ Tư pháp thành lập, xét duyệt và
được Bộ trưởng Bộ tư pháp công nhận và cấp thẻ TTV có thời hạn hai năm. Đến
Pháp lệnh TTTM 2003, TTTM được chính thức thừa nhận là tổ chức phi Chính phủ,
có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, danh sách TTV do tổ chức
trọng tài tự lựa chọn. Quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Luật TTTM năm
2010.
Như vậy, Luật TTTM năm 2010 cũng phân loại TTTM thành hai hình thức, đó là
trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế. Đây cũng là một điểm mới của Luật TTTM
năm 2010 khi không gọi trọng tài thường trực như trong Pháp lệnh TTTM năm
2003 mà thay bằng trọng tài quy chế. Nhìn chung, sự thay đổi này chủ yếu là thay
đổi về tên, còn về bản chất thì loại hình trọng tài này không khác biệt đáng kể.
1.2. Tổng quan về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài
1.2.1.
28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ.
Bước vào thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nước ta có sự thay đổi. Lúc
này tồn tại song song hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế
là trung tâm trọng tài kinh tế và tòa án kinh tế. Ngoài ra, tồn tại hai mô hình trọng
tài phi Chính phủ khác nhau. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố
tụng riêng. Trong khi đó, có 5 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định
116/CP ngày 05/09/1994 với hoạt động thực tiễn rất hạn chế. Do đó, thành công của
Nghị định 116/CP khá khiêm tốn do yếu tố quản lý nhà nước được đề cao mà chưa
chú ý đúng mức yếu tố thực tiễn. Hơn nữa, các văn bản pháp luật trên đều có hiệu
lực pháp lý thấp. Do vậy, yêu cầu phải sớm ban hành văn bản thống nhất, có hiệu
lực pháp lý cao nhằm ổn định mặt bằng pháp lý cho mô hình trọng tài trở nên bức
thiết. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động tích cực đến việc xây dựng
hành lang pháp lý, đặc biệt thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1988 và
các văn bản luật sửa đổi, bổ sung sau đó. Năm 1995, Việt Nam gia nhập Công ước
New York, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợi
trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Trong thời kỳ này, không có một luật về trọng
tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế. Thêm
vào đó, quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài không được bảo đảm thi hành.
Vì thế, mô hình TTTM trong giai đoạn này chưa thực sự đạt được những thành tựu
đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của TTTM hiện đại.
Nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật thời kỳ trước, sau sáu năm
chuẩn bị, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh
TTTM gồm 8 chương và 37 điều, thể hiện nỗ lực to lớn của Việt Nam hoà cùng xu
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
Pháp lệnh TTTM 2003 cũng bộc lộ không ít bất cập và cần được khắc phục kịp thời
như: thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc
triệu tập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của HĐTT,
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
SVTH: Triệu Thị Nhung
18
việc hủy quyết định trọng tài mà đặc biệt là cơ chế hỗ trợ của tòa án, cơ quan thi
hành án đối với quyết định trọng tài. Do đó, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp
nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật TTTM
2010 được hội thông qua ngày 17/06/2010 và chính thức có hiệu lực ngày
01/01/2011 với mục tiêu ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thức giải quyết
tranh chấp trong hoạt động thương mại và một số quan hệ dân sự khác, đáp ứng nhu
cầu và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức trọng tài, góp phần giảm
tải hoạt động xét xử của hệ thống toà án hiện nay.
Luật TTTM năm 2010 đã khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi
thẩm quyền của trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm
sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành thông qua việc mở rộng phạm
vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích
của các bên (Điều 2). Đồng thời, Luật đã giới hạn lại các tình huống làm thoả thuận
trọng tài vô hiệu (Điều 18) và quy định hướng giải quyết khi thỏa thuận trọng tài
không rõ ràng nhằm nâng cao khả năng tính khả thi trong thực tế. Luật TTTM 2010
đã kế thừa Pháp lệnh TTTM 2003 trong quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với
TTV nhằm hình thành đội ngũ TTV có năng lực, chuyên nghiệp và uy tín xã hội.
Tuy nhiên, Luật TTTM 2010 không yêu cầu TTV phải có quốc tịch Việt Nam như
Pháp lệnh TTTM 2003, quy định mới của Luật đã đáp ứng nhu cầu thực tế trong
giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, Luật TTTM