luận văn thạc sĩ quản trị tài chính Một số giải pháp hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại Trường Đại học Y tế công cộng. - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thanh Lâm
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 2 4
MỤC LỤC 2 2 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3 2 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NCKH Nghiên cứu khoa học
ĐHCL Đại học công lập
NS Ngân sách
NN Nhà nước
NSNN Ngân sách nhà nước
KBNN Kho bạc nhà nước
YTCC Y tế công cộng
KTX Ký túc xá
ĐVSN Đơn vị sự nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 2 4
MỤC LỤC 2 2 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3 2 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3 4

- Trình bày cơ sở lý luận cơ bản về quản lý tài chính trong các đơn vị hành
chính sự nghiệp có thu
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trường Đại
học Y tế công cộng để chỉ ra những mặt đạt được và những điểm còn hạn chế của
quản lý tài chính tại Trường Đại học Y tế công cộng trong thời gian qua.
- Khuyến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế quản lý tài chính
tại Trường Đại học Y tế công cộng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
• Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy chế quản lý tài chính
• Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: tại Trường Đại học Y tế công cộng
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quy chế quản lý tài chính trong thời
gian từ 2009 – 2011 từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy chế quản lý tài
chính tại Trường Đại học Y tế công cộng đến năm 2015.
4. Các phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu luận văn là:
- Phương pháp thu thập số liệu: Các số liệu thống kê được thu thập thông qua
các tài liệu, các báo cáo đã được công bố trong Trường Đại học Y tế công cộng
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Thông qua các số liệu thu thập được từ
các báo cáo của Trường tổng hợp để phân tích đánh giá thực trạng quản lý tài chính
tại Trường Đại học Y tế công cộng
- Phân tích so sánh định tính và định lượng. Trên cơ sở các số liệu đã được
phân tích đánh giá để so sánh và đưa ra nhận xét.
- Phương pháp chuyên gia (Phỏng vấn sâu). Tiến hành phỏng vấn sâu một số
chuyên gia về lĩnh lực quản lý tài chính (Đang công tác tại một số trường đại học
công lập) để có nhận thức rộng, khách quan từ đó đưa ra những biện pháp hoàn
thiện công tác quản lý tài chính.
2
5. Kết cấu của luận văn

- Trong phần thực trạng về cơ chế quản lý tài chính tại Trường Đại học Công
đoàn. Tác giả đã nhận xét việc thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP đã tạo được
những thay đổi đáng kể trong nhận thức của nhà trường, qua đó tính tự chủ của nhà
trường trong việc ra các quyết định, trong đó có các quyết định tài chính mang tính
chủ động và sát với thực tiễn hơn, do đó cũng thu được hiệu quả cao hơn. Trường
Đại học Công đoàn đã chủ động nghiên cứu và xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
phù hợp với đặc điểm và nhiệm vụ của trường. Việc sử dụng nguồn tài chính cũng
4
ngày càng hợp lý hơn theo hướng tăng tỷ trọng chi cho công tác chuyên môn giảng
dạy và học tập cũng như tăng cường đầu tư cho mua sắm sửa chữa trang thiết bị cơ
sở vật chất. Nhờ đó, quy mô và chất lượng đào tạo của nhà trường ngày càng được
nâng cao, số lượng học sinh đăng ký thi tuyển sinh vào trường ngày càng đông và
mở rộng ra phạm vi cả nước. Nhà trường cũng đã thực hiện công tác kiểm tra tài
chính nội bộ hàng năm, Ban thanh tra đã thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát, giúp Ban
Giám hiệu phát hiện những thiếu sót trong hoạt động cụ thể của nhà trường
- Từ những đánh giá về thực trạng tác giả đã đưa ra một số giải pháp hoàn
thiện quản lý tài chính của trường Đại học Công đoàn như:
+ Đa dạng hóa các nguồn tài chính của trường bằng cách mở rộng quy mô và
chất lượng đào tạo đại học và sau đại học, tạo điều kiện để tăng cường công tác
nghiên cứu khoa học và hợp tác kinh tế.
+ Huy động nguồn thu từ học phí, đóng góp của cộng đồng, của các cơ sở liên
kết đào tạo với trường.
+ Tăng nguồn thu từ các dịch vụ đào tạo, các hợp đồng nghiên cứu khoa học,
từ các dự án, các hoạt động hợp tác quốc tế, các hình thức liên kết, liên doanh với
các tổ chức trong nước và quốc tế.
+ Tranh thủ nguồn thu từ ngân sách nhà nước
+ Đổi mới cơ cấu chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
thu của nhà trường
+ Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất cho trường
+ Tăng chi cho các hoạt động giảng dạy

+ Chủ động khai thác nguồn thu để đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động thường
xuyên, tăng tính tự chủ về tài chính của trường trong thời gian tới
+ Phân bổ các nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ chi một cách hợp lý, đảm bảo
các khoản chi được thực hiện một cách tiết kiệm, hiệu quả
+ Có phương án phân bổ kết quả hoạt động tài chính trong năm đúng quy
định, đúng mục đích, đảm bảo tăng thu nhập của người lao động theo hướng công
bằng giữa cống hiến và hưởng thụ
6
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai kế hoạch tài chính theo hướng xã
hội hoá từng khâu đào tạo, mở rộng giao quyền tự chủ cho các đơn vị trong trường
+ Thường xuyên tiến hành tự kiểm tra công tác quản lý tài chính tại trường
• Các giải pháp bổ trợ:
+ Bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ thường xuyên cho đội ngũ cán bộ làm công
tác tài chính kế toán ở trường
+ Nâng cao chất lượng công tác quản lý nói chung của bộ máy quản lý
nhà trường
+ Đổi mới hình thức tổ chức công tác kế toán
+ Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý đơn vị về quản lý lao động, cơ
sở vật chất và tài chính
1.2 Xác định lỗ hổng cần tiếp tục nghiên cứu.
Từ những nội dung đã đề cập ở trên, chúng ta nhận thấy vấn quản lý tài chính
tại các trường đại học công lập được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.Tuy
nhiên từ quá trình tìm hiểu của bản thân, tác giả nhận thấy có một số khía cạnh mà
các nghiên cứu ở trên chưa đề cập tới hoạc đề cập chưa đầy đủ như:
- Thứ nhất, quản lý tài chính tại trường đại học công lập không chỉ đơn thuần
là việc quản lý thu, quản lý chi, trích lập và sử dụng các quỹ mà khi bàn về vấn đề
quản lý tài chính cần phải nhận thức rằng nhiệm vụ chủ đạo của các trường là nhằm
thu lại những giá trị phi tài chính, những giá trị về trí tuệ và sự đóng góp vô hình
vào sự phát triển chứ không phải là doanh thu.
- Thứ hai, trước đây, quan hệ giữa các trường đại học rất hạn chế, các trường

Từ những nhận định trên tác giả xác định hướng nghiên cứu luận văn của
mình như sau:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về công tác quản lý tài chính tại các trường đại
học công lập như các khái niệm, bản chất của quản lý tài chính, các nhân tố ảnh
hưởng đến công tác quản lý tài chính; đặc biệt luận văn đi sâu vào phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính; đồng thời luận văn cũng đưa ra kinh
quản lý tài chính tại một số trường đại học công lập trong và ngoài nước.
8
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại
Trường đại học Y tế công cộng.
Trên cơ sở những lý luận ở trên, tác giả sử dụng phương pháp thu thập số liệu:
Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các tài liệu, các báo cáo đã được công
bố trong Trường Đại học Y tế công cộng. Thông qua các số liệu thu thập được từ
các báo cáo của Trường tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để phân
tích đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Trường Đại học Y tế công cộng kết
hợp với phương pháp phân tích so sánh định tính và định lượng để phân tích đánh
giá để so sánh và đưa ra nhận xét. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu một số chuyên
gia về lĩnh lực quản lý tài chính (Đang công tác tại một số trường đại học công lập)
để có nhận thức rộng, khách quan từ đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện công tác
quản lý tài chính
Thứ ba, nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp về công quản lý tài chính…
nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại trường đại học Y tế công cộng.
9
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
2.1 Đặc điểm hoạt động của các trường đại học công lập Việt Nam
2.1.1 Khái niệm về trường đại học công lập
** Khái niệm về trường đại học công lập
Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm 4 cấp học và trình độ đào tạo, trong đó,

động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, mang tính
chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập
trong quá trình hoạt động đã được Ngân sách Nhà nước cấp hoặc hỗ trợ kinh phí để
thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, nhưng vẫn có tổ chức sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ nhằm tận dụng cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật hiện có để tạo
thêm thu nhập, hỗ trợ đời sống cán bộ công chức viên chức và bổ xung kinh phí
hoạt động thường xuyên.
Theo Quyết định số 90/2007/QĐ-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính về
việc ban hành “Quy định về mã số các đơn vị có quan hệ ngân sách” thì đơn vị dự
toán, đơn vị sử dụng NSNN được hiểu như sau:
- Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán NS hàng năm do Thủ
tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao, thực hiện phân bổ, giao dự toán NS
cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc.
- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị
dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III
(trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I).
- Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách (đơn vị sử dụng
NSNN), được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán NS.
- Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện
phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán
11
theo quy định (đơn vị sử dụng NSNN).
Về nhiệm vụ:
Về nhiệm vụ: Được quyền tự chủ, chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các
nhiệm vụ mà nhà nước giao hoặc đặt hàng. Đối với các hoạt động khác, còn có
quyền tự bổ sung những chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi được pháp luật quy
định, phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, khả năng của đơn vị.
Về tổ chức bộ máy
Về tổ chức bộ máy

trả nhiều hơn.
Về thanh toán
Về thanh toán
:
: Được yêu cầu các chủ thể khác phải có những ứng xử nhất
định như yêu cầu Kho bạc nhà nước cấp phát, thanh toán đầy đủ, kịp thời khi đơn vị
đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện cấp phát, thanh toán theo quy định.
Về lợi ích:
Về lợi ích: Được quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ lợi ích hợp
12
pháp của mình.
Về nghĩa vụ phải tiến hành các xử sự bắt buộc
Về nghĩa vụ phải tiến hành các xử sự bắt buộc: Xử sự bắt buộc có thể phải tiến
hành các hành động nhất định như phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
khi thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Phải lập dự toán thu chi ngân sách nhà
nước năm kế hoạch gửi cơ quan quản lý cấp trên; phải thực hiện chế độ công khai
tài chính. Nghĩa vụ pháp lý của đơn vị sự nghiệp có thu thường xuất hiện trên cơ sở
quy phạm pháp luật bắt buộc và quy phạm pháp luật ngăn cấm.
2.1.2 Đặc điểm hoạt động của các trường đại học công lập
2.1.2.1 Các trường đại học công lập là các đơn vị sự nghiệp có thu
Theo điều 9 của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của
Chính phủ “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập” quy định:
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường
xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm
một phần chi phí hoạt động);

- Thứ sáu, Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp
luật; sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của
nhà trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo dục theo
quy định của pháp luật.
- Thứ bẩy, Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
- Thứ tám, Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt
động giáo dục và đào tạo.
- Thứ chin, Tổ chức cho công chức, viên chức và người học tham gia các hoạt
động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội.
- Thứ mười, Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng
giáo dục của cơ quan có thẩm quyền; xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất
14
lượng của nhà trường; tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng và không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
- Thứ mười một, Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ; ứng dụng, phát
triển và chuyển giao công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã
hội của địa phương và đất nước; thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
- Thứ mười hai, Liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục,
thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo
với sử dụng, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bổ sung nguồn tài chính
cho nhà trường.
- Thứ mười ba, Xây dựng, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về đội ngũ công
chức, viên chức, các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ và hợp tác quốc tế
của nhà trường, về quá trình học tập và phát triển sau tốt nghiệp của người học;
tham gia dự báo nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo của trường.
- Thứ mười bốn, Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao, chuyển
nhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, công bố kết quả hoạt động khoa
học và công nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của nhà trường.

** Khái niệm về tài chính
Tài chính có thể được xem như là một khoa học và nghệ thuật về quản lý tiền.
Tài chính có liên quan đến quy trình, thể chế, tình hình thị trường và các công cụ
chuyển đổi tiền giữa các cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ. Mặc dù chỉ là một
nhánh riêng biệt trong quan hệ phân phối xã hội, nhưng tài chính có tác động mạnh
và có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế xã hội. Những hiểu biết về tài chính sẽ
giúp cho nhà quản lý ra quyết định tài chính đúng đắn, để ra được các thủ tục, quy
trình và giải quyết vấn đề tài chính hiệu quả.
Hiện nay, trong khi các trường đang đối mặt với bài toán khó về tài chính vì
khoản ngân sách có giới hạn, thì họ lại đang đối mặt với những thách thức khác lớn
hơn bao giờ hết: nhận được nhiều sự mong đợi hơn từ sinh viên, phụ huynh, giảng
16
viên… Tuy khoản ngân sách thì hạn hẹp nhưng đòi hỏi các trường phải đào tạo cho
xã hội những sinh viên có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo PGS-TS Thái Bá Cần, Hiệu trưởng Trường
đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh: “Đừng lầm tưởng đưa vào các
tiêu chí một cách chặt chẽ là chất lượng sẽ được nâng lên. Xã hội giao trọng trách
nâng cao chất lượng cho các trường nhưng nguồn lực lại hữu hạn và bị chặn”.
Tài chính trong các trường đại học phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của
các quỹ tiền tệ trong các trường đại học. Thể hiện dưới hình thái vật chất của các
quỹ bằng tiền này như: chất xám nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, máy móc thiết bị,
vốn bằng tiền khác…
Về bản chất, tài chính các trường đại học công lập Việt Nam là những mối
quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình
thành và sử dụng các quỹ bằng tiền của các trường đại học nhằm phục vụ sự nghiệp
đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Các quan hệ tài chính đó là:
- Quan hệ tài chính giữa trường với NSNN
NSNN cấp kinh phí chi thường xuyên, chương trình mục tiêu, khoa học công
nghệ… cho các trường. Các trường phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với NN:
nộp thuế…(nếu có) theo luật định.

sinh viên, phụ huynh đối với nhà trường, sự tận tụy của giảng viên đối với nhà
trường, khả năng thích ứng với tình hình mới và sang tạo của giảng viên, số lượng
bài báo và công trình NCKH, chuyển giao công nghệ, các mối quan hệ hợp tác giữa
nhà trường với các trường đại học trong và ngoài nước, với các tổ chức quốc tế và
đặc biệt là uy tín và hình ảnh của trường đối với các doanh nghiệp.
Do giáo dục nhằm để phát triển con người và đó là một trong những công cụ
để trang bị, truyền bá và phổ biến tri thức, qua đó hình thành nên những tư tưởng
tiến bộ, có thể vượt trước thực trạng kinh tế - xã hội, nên quản lý tài chính tại các cơ
sở đào tạo, đặc biệt hệ thống đào tạo công lập, nhằm sử dụng có hiệu quả, đúng
định hướng phần kinh phí ngân sách giáo dục được giao và các nguồn thu khác theo
quy định của pháp luật.
18
Tài chính nói chung là sự vận động của vốn tiền tệ trong quá trình hình thành
và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội nhằm đạt tới những mục tiêu
nhất định. Tài chính trong trường đại học là sự vận động của đồng tiền nhằm đạt tới
các mục tiêu đào tạo con người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ
nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ
đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, quản lý
tài chính tại các trường đại học là sự tác động có mục đích thông qua các cách thức,
công cụ và phương pháp nhất định đối với sự vận động của đồng tiền (bao gồm cả
quá trình thu và chi) nhằm đạt được những mục tiêu của giáo dục đại học và được
thực hiện thông qua quá trình lập, chấp hành và quyết toán thu, chi tài chính của
trường đại học.
Quản lý tài chính tại các trường đại học nói chung và các trường ĐHCL nói
riêng, tuân thủ một hệ thống các nguyên tắc, quy định, quy chế, chế độ của nhà
nước được thể hiện trong các văn bản pháp luật như: luật, pháp lệnh, nghị định,
thông tư…. Ngoài ra, còn được thể hiện trong các quy định, quy chế của trường đại
học trên cơ sở các quy định của nhà nước.
Như vậy, các trường đại học nói chung và các trường ĐHCL nói riêng đều
tuân thủ theo một cơ chế quản lý tài chính nhất định. Đó là việc sử dụng một hệ

- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương tr.nh mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt
hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước
quy định (nếu có);
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn
tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền
phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có
thẩm quyền phê duyệt;
20
* Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp
- Phần được để lại từ số thu học phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo
quy định của pháp luật;
- Thu từ hoạt động dịch vụ;
- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng.
* Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.
* Nguồn khác
- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên
chức trong đơn vị;
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước theo quy định của pháp luật.
* Các quỹ tài chính trong đơn vị.
- Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản
chi phí và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước. Chênh lệch thu,
chi trong năm được xác định như sau:
Chênh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status