Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Chứng khoán Hòa Bình - Pdf 27

1

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TRONG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm về công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Hoạt động của công
ty chứng khoán khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thông thường.
Sản phẩm của công ty chứng khoán thường là các dịch vụ tài chính.
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ
trên thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng
khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo
lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể
tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian.
(Trích nguồn “Công ty chứng khoán là gì?”, />chung-khoan-la-gi/, ngày truy cập 18/12/2014)
1.1.2. Phân loại công ty chứng khoán
Hiện nay ở nước ta theo quyết định số 03/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10
năm 1998 của UBCK, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCK Nhà nước cấp giấy phép thực
hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán. Theo cách phân loại dựa vào
các nghiệp vụ thực hiện của công ty chứng khoán thì công ty chứng khoán có thể chia
thành các loại như sau:
 Công ty môi giới chứng khoán: là công ty chỉ thực hiện việc trung gian, mua
bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
 Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: là công ty chứng khoán có lĩnh vực
hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh
lệch giá.
 Công ty kinh doanh chứng khoán: là công ty chứng khoán chủ yếu thực hiện
nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh.

trung tại thị trường giao dịch và trên cơ sở đó giá chứng khoán được xác định trên quy luật
cung cầu.
Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền
mặt và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng). Trên thị trường thứ
cấp, công ty chứng khoán là cầu nối các nhà đầu tư, trung gian chuyển các chứng
khoán đầu tư thành tiền mặt và ngược lại môt cách dễ dàng, thuận tiện. Tiền thu được
ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán chứng khoán, nhượng
lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà đầu tư khác. Trong môi trường đầu tư ổn định,
các nhà đầu tư luôn lựa chọn các loại chứng khoán có thanh khoản cao để thu về được
lợi nhuận nhiều nhất. Công ty chứng khoán cũng giúp nhà đầu tư giảm thiểu thiệt hại
về khoản đầu tư của mình thông qua việc môi giới, tư vấn đầu tư.
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai
trò nhà tạo lập thị trường. Theo quy định của các nước thì các công ty chứng khoán có
nghiệp vụ tự doanh phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng
khoán vào khi giá giảm và bán chứng khoán dự trữ khi giá lên quá cao để điều tiết và
3

bình ổn giá thị trường. Điều này có ý nghĩa nhất định, ảnh hưởng tới tâm lý các nhà
đầu tư trên thị trường.
Với những đặc điểm trên, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với
những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán.
 Đối với các tổ chức phát hành. Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng
khoán của các tổ chức chứng khoán là huy động vốn thông qua việc phát hành các
chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các
công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc
trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không
được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các
công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát
hành. Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động

do thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư
chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm
tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
 Đối với các cơ quan quản lý thị trƣờng: Công ty chứng khoán có vai trò cung
cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực
hiện mục tiêu đó. Các công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là
người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng
khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của thị
trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của
các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống
luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty
chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin công ty
chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị
trường, thông tin về các cổ phiếu. Trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các
nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và
chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.
(“Vai trò và chức năng của công ty chứng khoán”, />tro-va-chuc-nang-cua-cong-ty-chung-khoan/, 18/12/2014)
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng
khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối
với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung.
Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng
khoán.
1.1.4. Các hoạt động chủ yếu của công ty chứng khoán
1.1.4.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng
khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho
khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường
OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách hàng
các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với

Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực hiện
lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công ty chứng
khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy, công ty chứng khoán đòi
hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng
phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai
trò là các nhà tạo lập thị trường.
(“Nghiệp vụ công ty chứng khoán”, />cong-ty-chung-khoan/55179663/91/, 18/12/2014)
1.1.4.3. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán và tài chính doanh nghiệp
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty
chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các
Thang Long University Library
6

tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành,
đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng.
Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
 Theo hình thức của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gỡ khách
hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp (thông qua
các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng.
 Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý cho khách hàng
về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của khách hàng) và tư vấn
uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ quyền thực hiện của
khách hàng).
 Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn cho người phát hành (tư
vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành, xây dựng hồ
sơ, bản cáo bạch…và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn tổ chức bảo
lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho khách hàng đầu tư
chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian, định hướng đầu tư vào
các loại chứng khoán…).
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn:

ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thị trường chứng
khoán, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có công ty chứng khoán mà còn bao gồm
các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thông thường việc công ty
chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán,
còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ
hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phân phối chứng khoán cho các công ty chứng
khoán tự doanh hoặc các thành viên khác.
Sơ đồ 1.1. Quy trình chào bán chứng khoán lần đầu tiên
→ IPO
IPO
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầu bảo lãnh
phát hành đến công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán có thể sẽ ký một hợp đồng
tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát hành, số
lượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phương thức phân phối
chứng khoán đến các nhà đầu tư thích hợp. Để được phép bảo lãnh phát hành, công ty
chứng khoán phải đệ trình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên uỷ ban chứng
khoán. Khi các nội dung cơ bản của phương án phát hành được uỷ ban chứng khoán
thông qua. Công ty chứng khoán có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh hoặc thành lập
nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đổng bảo lãnh giữa nghiệp đoàn và tổ chức phát hành.
Các cổ
đông
quyết
định niêm
yết

chức phát hành.
 Bán rộng rãi ra công chúng
 Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán
chứng khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị chứng
khoán phát hành trừ đi phí bảo lãnh.
(“Nghiệp vụ công ty chứng khoán”, />cong-ty-chung-khoan/55179663/91/, 18/12/2014)
1.1.4.5. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là việc nhận tiền uỷ thác của khách hàng, xây dựng danh
mục chứng khoán (mua, bán) với mục tiêu làm cho tài sản của khách hàng sinh lời tối
ưu nhất. Theo quy định mới thì quỹ thành viên chỉ dành cho các nhà đầu tư là tổ chức.
Vì vậy, nghiệp vụ này ra đời nhằm quản lý vốn uỷ thác của các nhà đầu tư là cá nhân
trong và ngoài nước. Ngoài ra, các nhà đầu tư là tổ chức không muốn góp vốn lập quỹ
thành viên vẫn có thể tham gia loại hình dịch vụ này.
Mỗi nhà đầu tư đều có những mục tiêu, kỳ vọng, thời hạn và mức độ chấp nhận rủi
ro khác nhau khi đầu tư. Chuyên viên sẽ làm việc với từng nhà đầu tư để tìm hiểu và
xác định mục tiêu, kỳ hạn đầu tư và khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư đó. Trên
cơ sở đó, sẽ xây dựng danh mục đầu tư phù hợp nhằm tối đa hoá lợi ích của từng
khách hàng. Cuối mỗi quý, sẽ tiến hành tính toán giá trị danh mục của từng nhà đầu tư
và sẽ gửi các báo cáo giá trị danh mục đó cho các nhà đầu tư liên quan. Nếu có những
thay đổi bất thường trong nền kinh tế, về thị trường, về ngành nghề các công ty, ảnh
hưởng đến mục tiêu ban đầu của các nhà đầu tư thì sẽ thông báo đến các nhà đầu tư và
cùng các nhà đầu tư bàn bạc lại nhằm tìm ra giải pháp đầu tư tối ưu.
Lợi ích của Quản lý danh mục đầu tư: Quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ
quan trọng trong kinh doanh chứng khoán, là công cụ hữu hiệu để hạn chế rủi ro và tối
đa hóa lợi nhuận. Đặc biệt là đối với khách hàng:Tối ưu lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro,
tiết kiệm thời gian
Quy trình Quản lý danh mục đầu tư
 Bước 1: Tư vấn về các loại hình đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ được tư vấn và cung
cấp thông tin tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam, các công cụ đầu
tư chứng khoán, xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán. Bước đầu

www.anphucinvestment.vn/vi-vn/quanlydanhmucdautu/gioithieunghiepvu, ngày truy
cập 18/12/2014).
1.2. Phân tích tài chính của công ty chứng khoán
1.2.1. Khái niệm
Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nói chung và đặc
biệt là công ty chứng khoán nói riêng đều nằm trong thể tác động liên hoàn với nhau.
Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ
và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng. Trên cơ sở đó, nêu
lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu biểu hiện bằng hệ thống
Thang Long University Library
10

chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tài chính của công ty chứng khoán. Trong điều kiện kinh
doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều
bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh. Mỗi công ty chứng khoán đều có rất nhiều
đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà cho vay,
nhà cung cấp Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
trên những góc độ khác nhau. Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra
dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa.
(Khái niệm và ý nghĩa của việc phân tích tài chính trong doanh nghiệp,
/>nghiep/5f00dc06, 18/12/2014)
Phân tích tình hình tài chính công ty chứng khoán là một tập hợp các khái niệm,
phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông
tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và
tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài
chính, quyết định quản lý phù hợp.
1.2.2. Quy trình phân tích tài chính của công ty chứng khoán
Quy trình phân tích tài chính của công ty chứng khoán được thực hiện rõ ràng và
mạch lạc như sau:
Sơ đồ 1.2. Quy trình phân tích tài chính của công ty chứng khoán

Bƣớc 3: Dự đoán và quyết định
Người phân tích tổng hợp các số liệu kế toán và các thông tin quản lý doanh
nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, tiềm lực doanh nghiệp, mức độ rủi ro cũng
như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định
đúng đắn để quản lý doanh nghiệp. Từ đó, giúp cho những đối tượng quan tâm đi tới
những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp để có những bước đi
chính xác phù hợp với lợi ích của họ.
(“Phân tích cơ bản”, 19/12/2014)
1.2.3. Đặc điểm phân tích tài chính công ty chứng khoán
Hoạt động của công ty chứng khoán có nhiều điểm khác biệt so với hoạt động
của những loại hình doanh nghiệp khác. Trước tiên, với mỗi hoạt động khác nhau,công
ty chứng khoán cần đáp ứng những điệu kiện khắt khe của pháp luật về vốn pháp định,
cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân sự,… Đặc biệt, các thông tin do công ty chứng khoán
cung cấp phải có độ tin cậy cao, được cập nhật thường xuyên, liên tục; chốt theo từng
ngày, từng giờ bởi hoạt động giao dịch của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
diễn ra liên tục, nếu có chút sai sót sẽ gây thiệt hại cho nhà đầu tư và cả công ty chứng
khoán. Ngoài ra, hàng hóa mà công ty thực hiện hoạt động kinh doanh mua bán là một
thứ hàng vô hình, chỉ là những giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản nhưng lại
mang giá trị rất lớn. Giá cả hàng hóa thường xuyên thay đổi bất ngờ, khó dự đoán,
nghiệp vụ phát sinh đa dạng và phức tạp. Bên cạnh hoạt động tự doanh chứng khoán,
công ty chứng khoán còn thực hiện các hoạt động khác như môi giới chứng khoán, tư
vấn chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, lưu ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành
chứng khoán,… Đặc thù của những hoạt động này là giao dịch những tài sản, hàng hóa
không phải của chính công ty chứng khoán, vì vậy tài sản ngoài bảng cân đối kế toán
khá nhiều. Từ đó dẫn tới nội dung phân tích tình hình tài chính của công ty chứng
khoán. Tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán mà mình phân
tích để có thể lựa chọn phương pháp phân tích và những chỉ tiêu phân tích sao cho phù
hợp. Cụ thể:
 Đặc điểm về nội dung phân tích: Bên cạnh các bản báo cáo tài chính thường
sử dụng phân tích như bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quản hoạt động kinh

sẽ giúp cho các nhà quản lý tài chính ở tầm vĩ mô thấy được thực trạng của nền kinh tế
quốc gia, xây dựng kế hoạch và các chính sách phù hợp nhằm làm cho tình hình tài
chính công ty chứng khoán nói riêng và tình hình tài chính quốc gia nói chung ngày
càng có sự tăng trưởng.
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của
công ty chứng khoán. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc
đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình
hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ công ty chứng khoán và các
đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của công ty.
 Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong công ty chứng khoán được gọi là phân
tích tài chính nội bộ. Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài
13

doanh nghiệp tiến hành. Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về công ty, các nhà phân
tích tài chính trong công ty có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất. Vì
vậy nhà quản trị công ty chứng khoán còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác
nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường. Công ty chứng khoán
chỉ có thể đạt được mục tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán
được nợ.
Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị công ty chứng khoán cần có đủ thông tin
nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến
hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính
của doanh nghiệp. Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính,
quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần.
 Đối với các nhà đầu tư
Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng
thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình

Qua đó thấy được ý nghĩa của việc phân tích tài chính công ty chứng khoán mà
công việc này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp kinh doanh
chứng khoán, các cơ quan quản lý, các tổ chức công cộng. Nhất là, thị trường vốn
ngày càng phát triển đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính thực sự có ích và cần
thiết trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
 Đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán
Với những chức năng và nghiệp vụ của mình, các công ty chứng khoán cung cấp
các dịch vụ cần thiết cho thị trường chứng khoán hoạt động ổn định và phát triển.Việc
phân tích tình hình tài chính, phản ánh sức khỏe tài chính của công ty chứng khoán sẽ
cho thấy sức khỏe của cả thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán hoạt động yếu
kém, các thông tin cung cấp cho những đối tượng quan tâm không xác thực sẽ có ảnh
hưởng lớn tới hoạt động đầu tư của nhà đầu tư cũng như những giao dịch thực hiện
trên thị trường chứng khoán.
(“Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp và thông tin sử dụng
trong phân tích tài chính”, />tai-chinh-doanh-nghiep-va-thong-tin-su-dung-trong-phan-tich-tai-chinh/, 19/12/2014).
1.2.5. Các tài liệu dùng để phân tích tài chính công ty chứng khoán
Muốn phân tích được tình hình tài chính của doanh nghiệp người phân tích cần
đọc và hiểu rõ được các báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là các thông tin kinh tế
được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu, cung cấp các thông tin về tình hình
tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứng các cầu
cho những người sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế.
1.2.5.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán còn được gọi là bảng tổng kết tài sản, bởi vì thực chất nó là
bảng cân đối giữa tài sản và nguồn vốn của một đơn vị vào một thời điểm cụ thể, hay
nói cách khác, nó thể hiện sự cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn trong đơn vị.
Nó cho chúng ta biết về hiện trạng nguồn lực kinh tế của đơn vị vào một thời điểm
cũng như cơ cấu tài trợ vốn của đơn vị.
Bảng cân đối kế toán luôn đảm bảo nguyên tắc cân bằng theo phương trình kế
toán:
Tài sản = nguồn vốn

kinh doanh của từng hoạt động, sự lãi, lỗ của doanh nghiệp có tác dụng quan trọng
trong việc ra các quyết định quản trị, cũng như quyết định đầu tư cho vay của những
người liên quan. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giúp cho việc quyết định xây
dựng các kế hoạch cho tương lai phù hợp.
(Bài 13: Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”,

19/12/2014)
Thang Long University Library
16

1.2.5.3. Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là bộ phận hợp thành của hệ thống báo cáo tài
chinh của đơn vị. Thuyết minh báo cáo tài chính được lập để giải thích và bổ sung
thông tin về tình hình hoạt động sản xuất-kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không
thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình
hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái
quát đặc điểm hoạt động của tổ chức tín dụng bao gồm: Giấy phép thành lập và hoạt
động, hình thức sở hữu vốn, thành phần Ban Giám Đốc, Hội Đồng Quản Trị, nội dung
một số chế độ kế toán được lựa chọn để áp dụng.
(“Bài 25: Khái niệm, vai trò và ý nghĩa thuyết minh tài chính trong doanh
nghiệp”,
/>dung-thuyet-minh-bao-cao-tai-chinh, 19/12/2014)
Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung những thông tin chi
tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động kinh doanh trong kỳ của
doanh nghiệp.
1.2.5.4. Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Những thông tin bên ngoài doanh nghiệp có thể được hiểu là tình hình chung của
nền kinh tế tại một thời điểm cho trước. Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế
có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, sự biến động của giá cả, các yếu tố đầu

 Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu
 Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính, các chỉ tiêu về cả số lượng, thời gian
và giá trị.
Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh:
 Xác định mức độ biến động tuyệt đối và mức độ biến động tương đối cùng
xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích.
 Mức biến động tuyệt đối: được xác định trên cơ sở so sánh trị số của chỉ tiêu
giữa hai kỳ: kỳ phân tích và kỳ gốc.
 Mức độ biến động tương đối: là kết quả so sánh giữa số thực tế với số gốc đã
được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quy mô
của chỉ tiêu phân tích.
So sánh tuyệt đối: số tuyệt đối là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng giá trị về
một chỉ tiêu kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể. Đơn vị tính là hiện vật,
giá trị, giờ công. Mức giá trị tuyệt đối được xác định trên cơ sở so sánh trị số chỉ tiêu
giữa hai kỳ.
So sánh tương đối: Mức độ biến động tương đối là kết quả so sánh giữa thực tế với
số gốc đã được điều chỉnh theo một hệ số chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định
quy mô của chỉ tiêu phân tích. Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện có thể sử dụng
dưới chỉ số hay tỷ lệ được tính như sau:
Chỉ số (tỷ lệ %) thực hiện so
với gốc của chỉ tiêu nghiên cứu
=
Trị số thực hiện trong kỳ
× 100
Trị số chỉ tiêu gốc

So sánh con số bình quân: Số bình quân là số biểu hiện mức độ về mặt lượng của
các đơn vị bằng cách sau: Bằng mọi chênh lệch trị số giữa các đơn vị đó, nhằm phản
Thang Long University Library
18

nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng
tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Hay, ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:
19

Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
x
Doanh thu
x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Doanh thu
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Hay, ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn bẩy tài
chính
Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện
pháp làm tăng ROE như sau:
 Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ


Nếu TSDH lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở
hữu thì đó là điều hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ dài
hạn là cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt được bù đắp từ nợ ngắn hạn là
điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Nếu phần tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn điều này chứng tỏ một phần nợ dài hạn
đã chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn. Hiện tượng này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay
nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn. Điều này có thể dẫn đến lợi
nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn tài chính doanh nghiệp. Ngoài ra, khi phân
tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn chúng ta cần chú trọng đến nguồn vốn lưu
động thường xuyên. Nguồn vốn lưu động thường xuyên không những biểu hiện quan hệ giữa
cân đối giữa tài sản với nguồn vốn mà nó còn có thể cho chúng ta nhận thức được những dấu
hiệu tình hình tài chính trong sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp phải hình thành nên phần dư ra giữa
tài sản ngắn hạn so với nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn phải lớn hơn tài sản
dài hạn mới đảm bảo cho hoạt động thường xuyên, phù hợp với sự hình thành, phát
triển và mục đích sử dụng vốn. Phần chênh lệch này gọi là vốn lưu động thường
xuyên. Căn cứ vào mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, ta có các mối quan
hệ cân đối sau:
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

+ = + - = - Vốn lƣu động thƣờng xuyên = -
Tài sản dài
hạn
21

nghiệp rối loạn nghiêm trọng hơn, doanh nghiệp mất dần đến toàn bộ vốn sở hữu và
đến bờ vực phá sản.
(“Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp”,
/>tai-san-voi-nguon-von, 19/12/2014)
1.3.2. Phân tích tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận
Doanh thu: Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu
thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh
nghiệp. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản
lượng. Trong quá trình hoạt động cũng như hoạt động phân tích tài chính, mẫu báo cáo
kết quả kinh doanh theo quy định của Nhà nước thường chia doanh thu thành nhiều phần
khác nhau.
Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: đây là phần doanh thu mà
doanh nghiệp có được nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đối với những
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, giải trí là doanh thu thu được từ hoạt động cung cấp
dịch vụ. Thông thường, phần doanh thu này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu
của toàn doanh nghiệp.
Các khoản giảm trừ doanh thu: bao gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT tính
theo phương pháp trực tiếp.
Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: là một chỉ tiêu
trung gian. Khoản mục này được xác định dựa trên hiệu số giữa doanh thu từ hoạt
động bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu.
Doanh thu hoạt động tài chính: là doanh thu có được từ các khoản tiền lãi (lãi
cho vay; lãi gửi ngân hàng; lãi bán hàng trả góp, trả chậm; lãi đầu tư trái phiếu, cổ
phiếu), cổ tức, thu nhập từ hoạt động đầu tư khác, lãi tỷ giá hối đoái, các khoản chênh
lệch lãi do bán ngoại tệ, chuyển nhượng vốn,…

giúp doanh nghiệp có thể giảm được khoản thuế phải nộp cho Nhà nước. Nhưng mặt
trái, đó là sử dụng quá nhiều vốn vay dẫn đến tình trạng mất tự chủ về tài chính, sức ép
về khả năng trả lãi vay và khả năng thanh toán luôn là bài toán rất khó có thể hài hòa
trong doanh nghiệp.
Lợi nhuận: Lợi nhuận luôn là một yếu tố mà mỗi doanh nghiệp đều muốn hướng
đến. Nó là thước đo giúp doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư vào công ty. Đứng trên góc
độ nhà đầu tư muốn đầu tư lâu dài vào công ty và muốn có cơ hội quản lý công ty thì
con số lợi nhuận được chia hàng năm là điều mà họ xem xét tới. Còn đứng trên góc độ
là một người cho công ty vay vốn thì học sẽ xem xét và đánh giá thẩm định tình hình
tài chính của công ty dựa chủ yếu vào nguồn lợi nhuận được tạo ra. Lợi nhuận của
công ty được tính toán dựa trên doanh thu trừ đi chi phí, nó là các chỉ tiêu trung gian
phản ánh các giá trị doanh thu, chi phí có mối quan hệ đối ứng với nhau.
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung ứng dịch vụ: được tính toán dựa trên các
khaonr doanh thu từ bán hàng và cung ứng dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh
thu mà công ty ưu đãi cho khách hàng của mình sau đó trừ đi chi phí giá vốn hàng bán
hình thành nên nguồn doanh thu đó.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh: được tính toán dựa trên công
thức lấy lợi nhuận gộp cộng thêm các khoản thu nhập từ hoạt động tài chính và trừ đi
các khoản chi phí tương đương với nó, chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
23

doanh. Đây là khoản lợi nhuận cho thấy được khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh
nghiệp khi tính toán đến các chi phí liên quan đến quản lý, bán hàng.
Lợi nhuận khác được tính toán dựa trên công thức thu nhập khác trừ chi phí khác.
Khoản mục này thể hiện lợi nhuận bất thường mà doanh nghiệp không tính toán và
lường trước được nó sẽ phát sinh với giá trị và thời điểm cụ thể.
Lợi nhuận kế toán trước thuế: là lợi nhuận được tính toán sau khi lấy lợi nhuận
thuần cộng với lợi nhuận khác. Nó là con số để cơ quan thuế dựa vào đó để tính toán
khoản thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty có nghĩa vụ phải nộp Nhà nước.
Lợi nhuận sau thuế: là lợi nhuận mà doanh nghiệp có được sau khi trừ đi các

Thang Long University Library
24

 Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh
toán nhanh

=
Giá trị tài sản lưu động – Giá trị hàng tồn kho
Giá trị nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc
tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn. Tiền
ở đây có thể là tiền gửi, tiền mặt, tiền đang chuyển, tài sản có thể chuyển đổi thành
tiền là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (cổ phiếu, trái phiếu). Nợ đến hạn và quá
hạn phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn phải trả, nợ khác kể cả những
khoản trong thời hạn cam kết doanh nghiệp còn được nợ.
Nhìn chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất. Tuy nhiên giống như hệ số thanh
toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ
hạn thanh toán các món nợ trong kỳ. Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao
hay thấp, tình hình tài chính được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào lượng tiền và các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn lớn hay bé, nợ ngắn hạn nhỏ hay lớn. Các ngành dịch
vụ như kinh doanh chứng khoán thì cần tiêu thụ nhiều tiền mặt, các khoản cần thu lại
tương đối ít, do đó cho phép duy trì tỷ số này thấp hơn 1.
Trong ngành kinh doanh dịch vụ chứng khoán nói riêng không tồn tại khoản mục
hàng tồn kho, do vậy khả năng thanh toán nhanh cũng có kết quả giống với khả năng
thanh toán hiện thời.
 Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức
thời


quản lý và nhà đầu tư đều nghiên cứu kỹ về xu hướng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu.
Nếu tỷ lệ này tăng chứng tỏ khách hàng chấp nhận mua giá cao, hoặc cấp quản lý kiểm
soát chi phí tốt, hoặc cả hai. Chỉ tiêu này dương chứng tỏ doanh nghiệp đanh hoạt
động kinh doanh có lãi và ngược lại. Khi phân tích chỉ số này, người ta thường hay so
sánh với chỉ số bình quân ngành để có thể đánh giá chính xác nhất về tình hình sinh lời
của doanh nghiệp. Trái lại, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu giảm có thể báo hiệu chi phí
đang vượt tầm kiểm soát của cấp quản lý, hoặc công ty đó đang phải chiết khấu để bán
sản phẩm hay dịch vụ. Đối với ngành kinh doanh dịch vụ chứng khoán nói riêng, tỷ
suất sinh lời trên doanh thu này dương và tăng là điều đáng mừng cho công ty chứng
khoán đó vì khách hàng đã chấp nhận mua chứng khoán với giá cao, cùng với đó sự
báo hiệu hoạt động kinh doanh đang phát triển.
(“Phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp”,
/>nghiep/91f5433b, 20/12/2014)
 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên
tổng tài sản
=
Lợi nhuận sau thuế
Giá trị tổng tài sản
Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho biết khả năng sinh lời của tổng
tài sản sử dụng trong doanh nghiệp, liên quan đến lợi nhuận sau thuế và vốn đầu tư
trong tất cả các nguồn tài chính nằm trong tay cấp quản lý. Công cụ này tỏ ra hữu ích
nhất khi được sử dụng để đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn tài chính này
- không quan tâm đến xuất xứ nguồn tài chính. Các nhà phân tích và đầu tư thường so
sánh tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản của một công ty với tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài
sản của những đối thủ cạnh tranh cùng ngành nhằm đánh giá tính hiệu quả của cấp
lãnh đạo. Thông thường tỷ suất càng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài
sản có hiệu quả. Tuy nhiên cũng tùy ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tỷ
suất sinh lời ROA cao hay thấp. ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất
Thang Long University Library


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status