BIỂU HIỆN CỦA TÍNH QUY PHẠM VÀ TÍNH
BẤT QUY PHẠM TRONG TÁC PHẨM
“Cảnh ngày hè” - Nguyễn Trãi
(SGK lớp 10 – Nâng cao)
♫ ♥ ♫
A. PHẦN LÍ THUYẾT
I) KHÁI NIỆM QUY PHẠM - BẤT QUY PHẠM
Quy phạm là tính chất mẫu mực, khuôn sáo được thể hiện qua một số
hệ thống phức tạp và phương pháp các quy ước về nội dung và hình thức của
tác phẩm, các cách thức miêu tả, biểu hiện mà người viết phải tuân thủ
nghiêm ngặt trong quá trình sáng tác. Hay nói một cách nôm na rằng tính chất
quy phạm chính là biểu hiện của chữ “Lễ”, là những khuôn phép mang tính
chất quy ước.
Tính quy phạm văn học trung đại có nguồn gốc sâu xa từ ý thức sùng
cổ, tập cổ, tôn trọng các chuẩn mực mà xã hội đã quy định. Điều này còn
được thể hiện qua ý thức phục tùng các nguyên tắc, luật lệ nghiêm ngặt của xã
hội trọng lễ. Không chỉ dừng lại ở đó, tính quy phạm trong văn học trung đại
còn bắt nguồn từ ý thức tuân thủ những quy định chặt chẽ trong nội dung và
hình thức thi cử.
Bất quy phạm là việc phá vỡ các tính chất quy phạm đã được quy ước
do tư tưởng phóng túng và năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ. Nguyên nhân
sâu sa dẫn đến việc bứt phá những chuẩn mực này là do xã hội phong kiến
suy thoái, mỗi một nho sĩ có một cách nhìn khác nhau dưới những góc độ
khác nhau. Nhưng điểm chung nhất là họ muốn thoát khỏi những gì ràng buộc
mang tính lỗi thời. Con người có nhu cầu giải phóng. Điều này rất phù hợp
với quá trình vận động và quan điểm của con người.
II) NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÍNH QUY PHẠM - BẤT
QUY PHẠM TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
1. Quy phạm - bất quy phạm về đề tài
Tính chất cao quý từ nguồn gốc, quan niệm sáng tác và sinh hoạt thơ
văn xưa cũng sinh ra tính quy phạm. Đề tài phải phù hợp với tính chất cao
tác ngâm vịnh chủ yếu là vua quan, mai, lan, cúc, trúc hay ngư, tiều,
canh mục…thì đến giai đoạn hạ kì, đề tại được mở rộng thêm nhiều
theo hướng tự do, phóng khoáng, dần phá vỡ những gì quy định từ
trước. Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái là những tác giả có biểu
hiện phá cách rõ nhất. Những con người tầm thường, những sự vật tầm
thường được đưa vào văn học. Thiên nhiên không còn mang tính quy
phạm, hạn chế tính ước lệ khuôn mẫu mà thay vào đó là những gì gần
gũi với đời sống hàng ngày của người bình dân như mùng tơi, cà,
mướp, rau muống…Điều này được chứng minh trong “Hồng Đức quốc
âm thi tập”. Đề tài ngâm vịnh chẳng có gì là cao quý, ngược lại thơ
dùng ngâm vịnh đủ thứ đồ vật trong nàh từ cái hũ, cái vò, cái đầu rau,
cái cối xay, cái điếu…Phú Hán thanh nhã, cao sang còn phú Nôm lấy
đề tài thông tục: tổ tôm, cờ bạ, thầy đồ ngông…Kinh nghĩa là thể văn
trường thi, yêu cầu bình luận lời thánh hiền trong kinh điển thì Lê Quý
Đôn, một con người tưởng là nghiêm trang bậc nhất lại viết hai bài kinh
nghĩa lấy tựa đề là “Mẹ ơi, con muốn lấy chồng”, và “Ai ơi, chớ lấy
học trò” với giọng đầy hóm hỉnh, đùa cợt. Hồ Xuân Hương lại có
những nhận xét rất sắc về những vị quân vương, những kẻ tự cho mình
là kẻ quân tử. Bà đã đập thẳng vào những bộ mặt giả nhân giả nghĩa
của chúng “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt. Đi thì cũng dở ở không
xong”. Con người càng ngày càng chủ động hơn trong tình yêu đặc biệt
là tâm tư tình cảm thầm kín của người phụ nữ dần bộc lộ. Điều này
đáng được trân trọng biết bao!
2. Quy phạm - bất quy phạm trong việc xây dựng
hình tượng nghệ thuật
Một loạt đề tài quy thành công thức, những cảm tác, cảm hoài, tự thuật,
thuật hoài …đều nhằm vào đối tượng cụ thể nhất định trước mắt, ở ngoại giới
hay trong lòng thuộc nội tâm mà ngòi bút của nhà thơ đã dệt nên đoạn nên
gấm thì đối tượng đó đã trở thành hình tượng nghệ thuật.Thơ đứng đầu trong
các loại văn chương theo quy phạm trung đại, đáng được văn nhân ngâm,
Tông còn táo tợn hơn nũa, bất quy phạm thể hiện cao độ. Dường như không
vật gì trong nhà, quanh xóm, dưới tay mà không thành đối tượng cho thơ. Tuy
đối tượng tầm thường, quê kệch nhưng hình tượng thơ lại ít nhiều, xa gần
được nâng lên thành sang trọng. Vào thời mất nước đen tối, những cay bút
nho sĩ nhân dân đã ra sức đả kích, chửi bới, phỉ nhổ lũ người theo giặc giết
hại đồng bào rồi trèo lên chức nọ tước kia, giàu sang nổi tiếng:
“Dám hỏi: hàm ân người lớp trước
Hay là một lũ những hoang quân?”
Hay: “Hăm hở trẻ con múa lại hát
Đứa thì làm tướng đứa làm yêu”
Những viên quan khâm sai, đề đốc Lê Văn Trinh, quan án, quan đề…
đều là những con người lòng dạ chúng có khác gì con rận, con cóc, con muỗi,
con chó chết trôi…Tất cả những hình tượng trên đều đã bỏ xa những gì được
gọi là quy phạm.
Con người thẩm mĩ trong văn học trung đại xét từ cảm thức chung của
con người trung đại phương Đông cũng như phương Tây, từ thẩm mĩ Việt
Nam đến tính cao nhã, tính vô ngã và hữu ngã đã nêu lên những loại hình con
người thẩm mĩ như “con người vũ trụ”, “con người - tôn giáo, đạo lí” rồi quy
lại “con người – công dân” (cuối thế kỉ 15), tiếp theo là “con người – cá
nhân” với nhiều xu hướng khác nhau và cuối cùng lại trở về là “con người –
công dân” đầy hoài niệm cá nhân. Vậy con người thẩm mĩ trước tự nhiên xã
hội đã xuất hiện thành ngôn ngữ từ trong văn chương cổ của ta như thế nào?
Tượng trưng, kí hiệu là những hình tượng ngôn ngữ mà ta bắt gặp rất
nhiều trong văn học trung đại. Nó thường đi cùng ước lệ, điển cố, điển tích,
cách điệu, và cao hơn là nghệ thuật nắm bắt cái thần của phương thức cảm
nhận trực giác theo tư duy và tinh thần tổng hợp phương Đông. Thực vậy, tả
người, tả vật mà nhằm nắm bắt cái thần của đối tượng thì không thể tả thực
được. Phải dùng biện pháp ước lệ. Lấy chi tiết thay thế cho toàn bộ, chọn
trong đối tượng cần miêu tả một nét có tính chất tiêu biểu để hình dung cả đối
tượng mà cộng đồng chỉ nhìn nét ấy là có thể hình dung được đối tượng bằng
nhiều đến phương thức cách diệu hoá quy phạm rồi bất quy phạm, đến mối
quan hệ giữa con người và cảnh vật, cũng từ quy phạm đến bất quy phạm, bao
trùm cả thời gian, không gian vốn không tách rời được các mặt kia.. Dưới
đây, kết hợp các mặt lại, thử xem ngòi bút tác giả “truyện Kiều” ở mấy câu
sau:
Có khi vắng vẻ thư phòng
Đốt lò hương, giở phím đồng ngày xưa.
Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ,
Trăm hay nhạt khói, gió đưa lay rèm
Dường như bên nóc bên thềm
Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng
Bởi lòng tạc đá ghi vàng
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.”
Bấy giờ Kim Trọng đã lấy Thuý Vân, nhưng tâm trạng vẫn là “Càng ân
duyên mới càng dào tình xưa”. Đây là một phút “dào tình xưa” ấy. Cảnh: lò
hương đốt lên, phím đồng giở ra, cảnh cũ bày ra trở lại, trước có hai người
nay chỉ còn một. Thời gian: thời gian khép kín, hiện tại và hồi tưởng quá khứ.
Không gian: khách quan, hiện tại là thư phòng , một người, không gian tình
cảm, hồi tưởng quá khứ. Thời gian, không gian xáo trộn trong ảo giác. Con
người: hiện tại mà quá khứ, tỉnh mà như mê rồi như nhập vào cõi nào không
phải là trần gian.
Dàn cảnh ra như thế để nhẹ bớt lời bình, nhường phần cho những trái
tin đồng điệu với chàng Kim. Trước đoạn này có hai câu: “Nỗi nàng nhớ đến
bao giờ. Tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng”. Đó là nỗi đau trực tiếp bằng
nước mắt và qụăn lòng, thiệt mặt, thường tình. Bước vào mấy câu này là đi
vào một cõi khác: mượn cảnh mà nói tình và là một cấp độ khác của nỗi đau.
Phải chăng có một sự chuyển biến từ thực sang hư, từ thực tại sang ảo
giác, từ một nỗi đau nhớ tâm linh chuyển dần thành một nỗi đau hoá thân vào
sự biểu hiện con người mình nhớ thương có tiếng có hình. Không phải một
lần chỉ mình với mình vắng vẻ nơi chốn như chỗ gặp nhau ngày xưa. Mảnh
gốc Trung Quốc đem dùng vào nước ta vốn chứa chất biết bao quy phạm từ
số dòng, số chữ mỗi câu đến đối ngẫu, niêm luật và một loạt những điều cấm
kị khác. Tuy nhiên, những bản lĩnh thơ lớn đôi lúc cho phép mình vượt lên
trên những hạn định đó, tự hưởng đôi chút tự do nhưng vẫn nằm trong giới
hạn. Chẳng hạn câu kết trong bài thất ngôn bát cú, miễn sao đóng và mở hết
mà chưa hết tạo một không gian, thời gian nghệ thuật rộng rãi, ngân dài trong
lòng người đọc. Lại nói về Nguyễn Trãi, ngoài việc lấy đề tài là rau muống,
mùng tơi, con trâu, con lợn còn niêm luật có khi bất chấp. Đặc biệt ông đã xen
vào thể thất ngôn bát cú câu thơ lục ngôn hay toàn bài tám câu đều là những
câu lục ngôn cả: “Đạp áng mây, ôm bó củi. Ngồi bên suối gác cần câu.”
Bên cạnh việc phá cách của Nguyễn Trãi, chúng ta còn bắt gặp nhiều
trường hợp tương tự như Nguyễn Công Trứ chẳng hạn. Một bài hát nói
thường có 11 câu chia làm ba khổ gồm phần miễu và phần lời. Nhưng với
“Bài ca ngất ngưởng”, Nguyễn Công Trứ đã sáng tác dôi hai khổ tức là tám
câu thơ nữa. Văn tế là một thể loại thường dùng trong ma chay, phúng điếu ca
ngợi công đức của nguời đã chết và bày tỏ lòng tiếc thương của người còn
sống. “Văn tế Trương Định”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là nỗi niềm tiếc
thương của Nguyễn Đình Chiểu với những người có công với đất nước đồng
thời là bài ca ca ngợi sự hi sinh anh dũng của những con người. Nhưng với
Phạm Thái lại khác. Ông sử dụng thể loại văn tế vào một mục đích hoàn toàn
khác so với Nguyễn Đình Chiểu. Đơn giản chỉ là nỗi niềm tiếc thương cho
người yêu của mình phải chịu một cái chết oan uổng mà thôi. Không có cách
cắt nghĩa nào khác là coi đó như một biểu hiện của quy luật tiếp biến văn hoá
nói chung của dân tộc ta: mượn của người nhưng trên cơ sở vốn ngôn ngữ,
vốn âm điệu và nhu cầu diễn đạt tâm hồn mình mà biến đổi có lợi cho mình.
Chính theo tinh thần đó, thế kỉ 18 – 19 có nhiều nhà thơ nổi tiếng Việt Nam
như nữ sĩ họ Hồ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đã cởi bỏ hết vẻ trang
trọng của thể thơ cách luật để nó trở thành âm điệu Việt Nam.
Có một sự sáng tạo lớn trong thể thơ nói chung được xem là vượt bực,
mở đường thoát dần ra khỏi không gian nhiều giới hạn của Đường luật. Đó là