LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay vấn đề môi trường là vấn đề tập trung sự quan tâm của nhiều
nước trên thế giới trong đó mục tiêu là tiến tới quá trình phát triển bền
vững. Môi trường nước là một trong những thành phần môi trường quan
trọng đối với cuộc sống của mọi sinh vật nói chung cũng như của loài
người nói riêng trên trái đất này.Chính vì vậy có nhiều nội dung trong
việc bảo vệ và phòng chống ô nhiễm môi trường nước, nhưng trước hết là
phải xử lý những nguồn nước thải của các quá trình sản xuất công
nghiệp.
Cùng với sự gia tăng nhanh của các ngành công nghiệp một mặt nó cũng
nâng cao đời sống kinh tế văn hóa của xã hội, mặt khác nó cũng là
nguyên nhân chính gây tác hại nghiêm trọng tới môi trường.Việc hình
thành các KCN, KCX,CCN tập trung là 1 hướng đi đúng đắn mà Thế
Giới và việt nam đã và đang tiến hành và gia tăng nhanh chóng bởi nó tạo
điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý các hoạt động công nghiệp
thành 1 khối góp phần tăng trưởng kinh tế và giảm được rất nhiều chi phí
về vận chuyển các nguyên vật liệu và sản phẩm giữa các nhà máy có liên
quan. Tuy nhiên việc tập trung các ngành công nghiệp lại sẽ tạo ra những
điểm có nguồn thải lớn đặc biệt phát sinh 1 lượng nước thải vào môi
trường sẽ làm ô nhiễm các nguồn nước ngầm nước mặt tại các ao hồ,
kênh mương và các con sông, con suối làm tăng số lượng các vi trùng gây
bệnh thậm chí xuất hiện các mầm bệnh nguy hiểm cho cả con người và
các vi sinh vật. Do đó vấn đề cần được quan tâm hiện nay là sớm có biện
pháp hạn chế, khắc phục kịp thời. Sự hình thành và phát triển của CCN
Bình Đông cũng đặt ra thách thức về môi trường. Xuất phát từ mục tiêu
giảm thiểu tốc độ gia tăng ô nhiễm chất thải, giảm tác động của chất thải
đến môi trường và sức khỏe cộng đồng nâng cao chất lượng môi trường
[1]
sống, góp phần vào chiến lược phát triển bền vững cũng như chấp hành
những yêu cầu ngày càng cao của luật bảo vệ môi trường. Mà đặc trưng ô
nhiễm ở CCN Bình Đông hiện nay đó là vấn đề nước thải do đó việc
KCN, hầu hết các khu công nghiệp vẫn chưa được lấp đầy. Nguyên nhân
dẫn tới thực trạng trên có nhiều, nhưng tập trung chủ yếu vào một số
nguyên nhân như: Giá thuê đất còn đắt, cơ sở hạ tầng còn kém, cơ chế
chính sách còn chưa thông thoáng, và một trong những lực cản lớn nhất
hiện nay chính là vẫn chưa có cách nhìn nhận tổng quát và đầy đủ về các
KCN như là một bộ phận không thể tách rời trong nền kinh tế đất nước .
Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010, hoạt động của các
KCN trong nước đã đạt những thành tựu quan trọng sau:
Khu công nghiệp đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của thành phần
kinh tế trong nước trong và ngoài nước, phục vụ cho công cuộc CNH,
HĐH đất nước.
Việc áp dụng các chính sách ưu đãi và những điều kiện thuận lợi về hạ
tầng kinh tế kĩ thuật, các KCN ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Số dự
án ĐTNN và tổng vốn đăng ký vào KCN ngày càng được mở rộng. Giai
đoạn 5 năm 1991-1995, số dự án ĐTNN có 155 dự án, đến năm 2001-
2005 là 1377 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 8080 dự án và 12%
về tổng vốn đầu tư so với kế hoạch 5 năm 1996-2001. Tính đến
31/12/2008, các KCN trong cả nước thu hút được 3.564 dự án có vốn đầu
tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 42,667 tỷ USD; trong năm 2008, các
[4]
KKT cả nước thu hút 18,23 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó cấp
mới 18 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 15,78 tỷ USD và 12 dự án
tăng vốn với tổng vốn đầu tư là 2,45 tỷ USD.
Dẫn đầu trong thu hút đầu tư nước ngoài năm 2008 là tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu với tổng vốn đầu tư thu hút là 4,5 tỷ USD. Ngoài ra có 3 tỉnh thu hút
được trên 1 tỷ USD là Bắc Ninh (1,14 tỷ USD), Bình Dương (1,08 tỷ
USD), Đồng Nai (1,01 tỷ USD).
Cơ cấu vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm cho thấy trong năm 2008, tại các
KCN có nhiều nhà đầu tư mới, lần đầu đầu tư vào Việt Nam triển khai
các dự án làm cho vốn đầu tư cấp mới tăng 4,45 lần so với vốn đầu tư mở
các KCN đã thu hút trên 1 triệu lao động trực tiếp. Các doanh nghiệp
KCN năm 2008 đã nộp Ngân sách khoảng 1,3 tỷ USD.
[6]
KCN đã tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu
dài không chỉ đối với địa phương có KCN mà còn góp phần hiện đại hóa
hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước.
Tại các KCN hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế hạ tầng nói chung khi hoàn
chỉnh, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế nhất là đường sá , kho bãi, điện, giao
thông, thông tin liên lạc và các cơ sở hạ tầng thuộc các hình thức với các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế: đơn vị sự nghiệp nhà nước
doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Trong đó, các KCN do doanh nghiệp
ngoài quốc doanh làm chủ đầu tư chiếm số lượng lớn nhất: 45 KCN với
tổng số vốn đầu tư 15673 tỷ đồng; 33 KCN được đầu tư theo cơ chế đơn
vị sự nghiệp có thu hút vốn đầu tư hạ tầng đạt trên 7424 tỷ đồng các KCN
còn lại do doanh nghiệp nhà nước làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn
9835 tỷ đồng (34KCN). Đã hình thành một đội ngũ doanh nghiệp phát
triển hạ tầng có kinh nghiệm và năng lực quản lý, điển hình là công ty
phát triển KCN Thăng Long, Công ty phát triển KCN Biên Hòa
(sonadezi), công ty cổ phần KCN Tân Tạo
Các KCN, KKT tiếp tục tăng trưởng nhanh và ổn định về sản xuất kinh
doanh và thực hiện vốn đầu tư .
Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn do sự biến động tiêu cực của thị trường
thế giới, song các dự án trong KCN, KKT vẫn triển khai với tốc độ khá
cao. Trong năm 2008, các dự án đầu tư nước ngoài trong KCN, KKT đã
thực hiện thêm được 2,5 tỷ USD, bằng 22% tổng số vốn đầu tư nước
[7]
ngoài giải ngân được trong năm. Tỷ trọng vốn giải ngân này cho thấy các
KCN, KKT đã đóng góp đáng kể vào hiệu quả thực hiện vốn đầu tư nước
ngoài trên cả nước.
Tính đến cuối tháng 12/2008, các KCN cả nước đã có 2.250 dự án FDI và
a) Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu phát triển các khu công nghiệp tại Việt Nam đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020 là hình thành hệ thống các khu công
nghiệp chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia,
đồng thời hình thành các khu công nghiệp có quy mô hợp lý để tạo điều
kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những
địa phương có tỷ trọng công nghiệp GDP thấp.
Đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất
công nghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39 - 40% vào năm 2010 và
tới trên 60% vào giai đoạn tiếp theo. Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công
nghiệp của các khu công nghiệp từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc
[9]
hiện nay lên khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơn vào các giai đoạn tiếp
theo.
b) Mục tiêu cụ thể:
Giai đoạn đến năm 2010:
Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản lấp đầy các khu công nghiệp đã
được thành lập; thành lập mới một cách có chọn lọc các khu công nghiệp
với diện tích tăng thêm khoảng 15.000 ha - 20.000 ha, nâng tổng diện tích
các khu công nghiệp đến năm 2010 lên khoảng 45.000 ha - 50.000 ha.
Đầu tư đồng bộ, hoàn thiện các công trình kết cấu hạ tầng các khu công
nghiệp hiện có, đặc biệt là các công trình xử lý nước thải và đảm bảo diện
tích trồng cây xanh trong các khu công nghiệp theo quy hoạch xây dựng
được duyệt nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Giai đoạn đến năm 2015:
Đầu tư đồng bộ để hoàn thiện các khu công nghiệp hiện có, thành lập
mới một cách có chọn lọc các khu công nghiệp với tổng diện tích tăng
thêm khoảng 20.000 ha - 25.000 ha; nâng tổng diện tích các khu công
nghiệp đến năm 2015 khoảng 65.000 ha - 70.000 ha. Phấn đấu đạt tỷ lệ
lấp đầy các khu công nghiệp bình quân trên toàn quốc khoảng trên 60%.
- Có quỹ đất dự trữ để phát triển và có điều kiện liên kết thành cụm các khu
công nghiệp; riêng đối với các địa phương thuần tuý đất nông nghiệp, khi
phát triển các khu công nghiệp để thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu
kinh tế cần tiến hành phân kỳ đầu tư chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng đất có
hiệu quả.
- Có khả năng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài.
- Có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động.
- Đảm bảo các yêu cầu về an ninh, quốc phòng.
- Đối với các địa phương đã phát triển khu công nghiệp, việc thành lập
mới các khu công nghiệp chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất công
nghiệp của các khu công nghiệp hiện có đã được cho thuê ít nhất là 60%.
- Việc mở rộng các khu công nghiệp hiện có chỉ được thực hiện khi tổng
diện tích đất công nghiệp của khu công nghiệp đó đã được cho thuê ít
nhất là 60% và đã xây dựng xong công trình xử lý nước thải tập trung.
- Đối với khu công nghiệp có quy mô diện tích trên 500 ha và có nhiều
chủ đầu tư tham gia đầu tư xây dựng - kinh doanh kết cấu hạ tầng, phải
tiến hành lập quy hoạch chung xây dựng khu công nghiệp theo hướng dẫn
của Bộ Xây dựng trước khi lập quy hoạch chi tiết khu công nghiệp để
[12]
đảm bảo tính thống nhất và tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật
khu công nghiệp.
- Trong khu công nghiệp, khu chế xuất không có khu dân cư. Trong khu
công nghiệp có thể có khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất.
III. Vấn đề môi trường ở các khu công nghiệp:
III.1 Hiện trạng về ô nhiễm môi trường:
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, các khu công nghiệp ngày càng nhiều, tốc độ đô thị hóa phát triển,
một vấn đề cũng được đặt ra là ô nhiễm môi trường đã ở mức báo động.
Làm sao vừa đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội, vừa ngăn ngừa ô
lần. Kênh Bàu Lăng (Quảng Ngãi) vốn là nơi cung cấp nước cho sản xuất
nông nghiệp, sau nhiều năm tiếp nhận nước thải của KCN Quảng Phú đã
biến thành kênh nước thải ô nhiễm nghiêm trọng.
Khu vực TP Hồ Chí Minh -Biên Hòa là một trung tâm công nghiệp và
kinh tế lớn nhất nước ta. Mỗi năm khu công nghiệp này thải ra môi
trường 795,8 tấn dầu mỡ, 45691 tấn chất lơ lửng, 323,2 tấn dung môi,
103 tấn phenol; 68,5 tấn lignin, 99.600 tấn chất hữu cơ, 65 tấn H
2
S, 80
[14]
tấn axit, 4715 tấn kiềm, hàng chục tấn kim loại nặng và các chất độc hại
khác.
Hầu hết các kênh rạch bị ô nhiễm trầm trọng. Có thể lấy ví dụ hệ thống
sông Hồng, nơi có khu công nghiệp Việt Trì, nước sông ô nhiễm nặng do
lượng nước thải có nhiều chất gây ô nhiễm của các nhà máy giấy, đường,
hóa chất, mì chính, dệt, nhuộm Trung bình mỗi ngày đêm tổng lượng
nước thải ra sông Hồng của các nhà máy đó là 45.000 m
3
. Hàng năm các
cơ sở công nghiệp thải ra khoảng 100 tấn axit sunfuric, 4000 tấn HCl,
300 tấn NaOH, 300 tấn benzen, 25 tấn thuốc bảo vệ thực vật và nhiều
chất thải khác.
ô nhiễm chất thải rắn:
Song song với vấn đề ô nhiễm nước, ô nhiễm do các chất thải rắn, và việc
xử lý, tiêu huỷ các chất thải độc hại đang trở thành những vấn đề quan
trọng. Hiện tại và trong tương lai, các ngành liên quan đến hoá chất sử
dụng và sản xuất các chất thải độc hại ngày càng nhiều, sự phát triển công
nghệ đó sẽ phát sinh các chất thải độc hại. Nếu không có sự quản lý
đúng đắn các loại chất thải nói trên, sự ô nhiễm môi trường đặc biệt
nhiễm đất, nước sẽ xảy ra nghiêm trọng.
[16]
(điển hình là khí SO
2
) trong không khí, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-5
lần.
III.2 Hiện trạng về quản lý môi trường:
Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình CNH, HĐH hiện nay là
yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành,
các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công dân. Nhận thức rõ tầm quan
trọng của vấn đề này, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là Nghị
định 80/2006/NĐ-CP (Về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ môi trường); Nghị định 81/2006/NĐ-CP (Về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường); Thông tư
08/2006/TT-BTNMT (Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường).
Quá trình quản lý môi trường đối với các KCN trong thời gian qua, đã
cho thấy một số khó khăn, vướng mắc như sau:
Việc thu hút dự án đầu tư vào KCN bộc lộ một số bất cập. Cụ thể, nhiều
dự án đầu tư được thu hút, hay thậm chí đã triển khai hoạt động nhưng
không phù hợp với ngành nghề và các nội dung có liên quan (đặc biệt về
phương án xử lý chất thải) theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường
được duyệt.
Trong quá trình hoạt động, nhìn chung cơ sở hạ tầng KCN (đặc biệt là
mạng lưới thu gom, thoát nước, trạm xử lý nước thải) chưa được đầu tư
[17]
đồng bộ, kịp thời, chưa đầy đủ theo yêu cầu quy định về bảo vệ môi
trường. Trên thực tế, trạm xử lý nước thải tập trung của các KCN thường
được bắt đầu triển khai xây dựng, vận hành khi diện tích đất cho thuê đã
có hoạt động đầu tư lấp đầy khoảng 70%. Thực trạng này là một trong
hại; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đăng ký về chủ nguồn thải đối với
chất thải nguy hại theo quy định.
Các doanh nghiệp có ký hợp đồng kinh tế về thu gom, vận chuyển chất
thải nguy hại nhưng lại giao dịch với các đơn vị dịch vụ không có chức
năng đúng quy định bảo vệ môi trường.
Về thu gom và xử lý nước thải và tiêu thoát nước: hiện tại
nhiều doanh nghiệp kinh doanh, phát triển hạ tầng KCN chưa thực hiện
đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung cho KCN một cách đồng bộ, kịp
thời. Nhiều doanh nghiệp trong KCN chưa tự giác đầu tư công trình xử lý
nước thải cục bộ hay ký hợp đồng phối hợp các đơn vị chức năng về xử
[19]
lý nước thải để thực hiện trách nhiệm xử lý chất thải, bảo vệ môi trường
đã cam kết thông qua thủ tục đánh giá tác động môi trường ban đầu.
[20]
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỤM CÔNG NGHIỆP
BÌNH ĐÔNG-TỈNH TIỀN GIANG.
II.1 Giới thiệu chung về tỉnh Tiền Giang.
II.1.1 Vị trí địa lí
- Tiền Giang nằm trong tọa độ 105
0
50’-106
0
4’ đông và 10
0
35’-10
0
12’
bắc.
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp.
Tháng 8 272,9 266,6 221,0 284,7 222,3
Tháng 9 133,6 191,9 218,3 355,0 279,6
Tháng 10 358,0 206,3 381,9 191,1 184,6
Tháng 11 166,4 53,1 232,1 94,3 31,0
Tháng 12 135,4 16,9 204,0 48,3 4,9
( Nguồn: công ty cổ phần Xây dựng Thương mại dịch vụ Khang Thông
2008)
I.1.3.1 Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển hóa và
phát tán các chất ô nhiễm trong không khí. Nhiệt độ không khí càng cao
thì tốc độ phản ứng hóa học diễn ra càng nhanh, từ đó kéo theo thời gian
tồn lưu của chất ô nhiễm càng ngắn. Hơn nữa, sự biến thiên về nhiệt độ sẽ
ảnh hưởng đến sự phát tán bụi và khí thải, đến quá trình trao đổi nhiệt của
cơ thể và sức khỏe người lao động.
[22]
Với lương bức xạ dồi dào đã quyết định Tiền Giang là tỉnh có nền nhiệt
độ cao và ổn định. Do nền nhiệt độ cao nên một trong những đặc điểm
nổi bật của khí hậu ở Tiền Giang là tính chất nóng.
Bảng2.2 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm của tỉnh
Tiền Giang
Thời gian
Năm
2000 2001 2005 2006 2007
Cả năm 26,7 26,9 27,0 27,0 26,9
Tháng 1 25,9 26,0 24,8 25,9 25,9
Tháng 2 26,3 26,2 26,4 26,9 25,5
Tháng 3 27,4 27,5 26,9 27,4 27,5
Tháng 4 28,1 28,8 28,8 28,7 28,8
Tháng 5 27,8 28,2 28,9 28,3 27,7
Tháng 6 26,2 27,0 27,9 27,2 27,9
hành là hướng Đông Bắc.
II.2 Khái quát chung về cụm công nghiệp (CCN) Bình Đông:
II.2.1 Vị trí địa lí
[24]
Cụm công nghiệp Bình Đông sẽ được xây dựng trên địa bàn xã Bình
Đông thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Vị trí tiếp giáp của CCN Bình Đông;
+ Phía Bắc giáp sông Vàm Cỏ.
+ Phía Đông giáp sông Vàm Cỏ.
+ Phía Nam giáp Khu tái định cư Bình Đông.
+ Phía Tây giáp sông Vàm Cỏ và ấp Hồng Rạng.
Khoảng cách từ vị trí dự án đến các công trình xung quanh.
+ Cách Quốc lộ 50 khoảng 150m.
+ Cách thị xã Gò Công khoảng 11 km theo đường Quốc Lộ 50.
+ Khoảng cách nhỏ nhất từ dự án đến tỉnh Long An là 1,2 đến 1,5 km.
+ Cách trung tâm Tp.HCM khoảng 35 km theo hướng chim bay.
+ Cách sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 65 km theo đường bộ.
+ Cách cảng Hiệp Phước khoảng 45 km theo đường sông.
II.2.2 Quy hoạch tổng thể về cụm công nghiệp Bình Đông;
II.2.2.1 Phân khu chức năng:
CNN Bình Đông gồm các khu chức năng sau:
Bảng2.3 Quy hoạch sử dụng đất của CCN Bình Đông
TT Mục đích sử dụng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1
Khu sản xuất công nghiệp theo
các loại hình khác nhau.
139.2 65.6
2 Trung tâm điều hành, quản lí 3.76 1.8
[25]