Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng - Pdf 27

Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex
Hải Phòng
Information
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.1.2. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm và quy trình công tác phân tích tài chính
1.1.2.2. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2. Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Mục tiêu phân tích
1.2.2. Thu thập dữ liệu
1.2.2.1. Các dữ liệu bên ngoài doanh nghiệp
1.2.2.2. Các dữ liệu nội bộ doanh nghiệp
1.2.3. Phương pháp phân tích
1.2.3.1. Phân tích tỷ số
1.2.3.2. Phân tích xu hướng
1.2.3.3. Phân tích cơ cấu
1.2.3.3. Phân tích Dupont
1.2.4. Thực hiện phân tích
1.2.4.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.4.2. Phân tích các tỷ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp
1.2.5. Đánh giá công tác phân tích tài chính và đưa ra các quyết định tài chính
1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Nhân tố chủ quan
1.3.2. Nhân tố khách quan
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

3.2.1.1. Thu thp thụng tin v ngnh vn ti xng du
3.2.1.2. Tng cng s dng cụng c tin hc trong thu thp, lu tr v x lý thụng tin
3.2.2. Hon thin phng phỏp phõn tớch ti chớnh
3.2.2.1. S dng phng phỏp phõn tớch xu hng
3.2.2.2. p dng phng phỏp phõn tớch ti chớnh Dupont
3.2.3. Hon thin ni dung phõn tớch
3.2.3.1. Hon thin h thng ch tiờu phõn tớch
3.2.3.2. Phõn tớch din bin ngun vn v s dng vn trong doanh nghip
3.3. Kin ngh
3.3.1. i vi Tng Cụng ty xng du Vit Nam
3.3.2. i vi Nh nc
KT LUN
TI LIU THAM KHO
M U
1. Tớnh cp thit ca ti:
Trong bi cnh Vit Nam gia nhp WTO, quỏ trỡnh sng lc v cnh tranh ln nhau
gia cỏc doanh nghip l tt yu xy ra. thng trong cnh tranh, doanh nghip phi hot
ng sn xut kinh doanh hiu qu. Mun vy, cỏc nh lónh o doanh nghip phi a ra
c cỏc quyt nh ti u trờn c s cỏc thụng tin ti chớnh c phõn tớch y v kp
thi.
2
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải
Phòng luôn quan tâm tới công tác phân tích tài chính. Nhờ đó, công ty đã đạt được những
kết quả nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, những vướng mắc về nội
dung công tác phân tích đang làm hạn chế hiệu quả phân tích tài chính, dẫn đến những đánh
giá thiếu chuẩn xác và kịp thời về tình hình tài chính của công ty.
Trong bối cảnh đó, hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần vận
tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng là một yêu cầu bức thiết. Đề tài “Hoàn thiện công tác
phân tích tài chính tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng” được
lựa chọn nghiên cứu nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn.

TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp
Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh
trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Theo luật doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp bao gồm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc
một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều
lệ của công ty.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó:
• Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm
mươi;
4
• Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp
Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ
phần
Công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
• Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
• Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa
• Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh

nghiệp có thể mua và bán các loại hàng hoá của thị trường tài chính như cổ phiếu, trái
phiếu,... để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, dài hạn hoặc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử
dụng đến.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường đầu vào và đầu ra về hàng hoá, dịch vụ:
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị
trường hàng hóa, dịch vụ. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua
sắm vật tư, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động,…Điều quan trọng là thông qua
thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung
ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị
nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường.
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh
doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và
quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của
doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về
cơ cấu vốn, chi phí,…
1.1.2. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm và quy trình công tác phân tích tài chính
Phân tích tài chính là quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu và sự kiện tài chính
thông qua các kỹ thuật và công cụ thích hợp để tạo ra thông tin tài chính có giá trị nhằm rút
ra các kết luận hoặc ra các quyết định tài chính. Nói ngắn gọn, phân tích tài chính là một quá
trình bao gồm năm khâu cơ bản:
(1) Xác định mục tiêu phân tích tài chính
(2) Thu thập dữ liệu
(3) Xác định phương pháp phân tích
(4) Thực hiện phân tích
6
(5) Đánh giá công tác phân tích tài chính và đưa ra quyết định tài chính
1.1.2.2. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính
doanh nghiệp, nó giúp các đối tượng quan tâm nắm bắt được tình hình tài chính doanh

thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như thế nào.
Phân tích tài chính đối với người lao động
Người lao động trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của
doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng sinh lời. Bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có
tác động trực tiếp tới tiền lương của người lao động. Ngoài ra trong những doanh nghiệp cổ
phần người lao động tham gia góp vốn mua cổ phần, như vậy họ cũng là những người chủ
doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
Như vậy ta thấy được tầm quan trọng của phân tích tài chính đối với các thành phần
khác nhau có liên quan đến doanh nghiệp. Phân tích tài chính giúp người sử dụng thông tin
từ các góc độ khác nhau vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát lại vừa xem xét một
cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh điểm yếu về hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra
những quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
1.2. Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Mục tiêu phân tích
Phân tích tài chính nhằm hai mục tiêu cơ bản:
Thứ nhất, rút ra được kết luận về một thực trạng hay một tình hình tài chính. Chẳng
hạn, mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính là rút ra được kết luận rằng tình hình tài chính
của doanh nghiệp như thế nào (tốt hay không tốt), hoạt động của doanh nghiệp ra sao (hoạt
động hiệu quả hay không hiệu quả).
Thứ hai, tạo ra thông tin phục vụ cho việc ra quyết định tài chính. Chẳng hạn, phân
tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn trong bảng cân đối kế toán doanh nghiệp, xem xét tỷ trọng
của từng loại tài sản trong tổng tài sản, nguồn tài trợ cho từng loại tài sản như vậy là hợp lý
chưa và cần phải điều chỉnh như thế nào để đảm bảo sự phù hợp khi phân bổ nguồn cho các
loại tài sản và tăng hiệu quả sử dụng của từng loại.
1.2.2. Thu thập dữ liệu
Dữ liệu (data) là những số liệu hay sự kiện chúng ta có thể thu thập để đưa vào xử lý
và phân tích nhằm tạo ra thông tin (infomation) tài chính.
8
Nhà phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn dữ liệu có khả năng lý giải và thuyết

9
Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại
những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời
kỳ nhất định; đồng thời được giải trình, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính
hiểu rõ bản chất kinh tế các hoạt động của công ty và đưa ra các quyết định đúng đắn liên
quan.
Hệ thống báo cáo tài chính ở nước ta bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán. Mẫu số B01-DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Mẫu số B02-DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Mẫu số B03-DN
- Bản thuyết minh các báo cáo tài chính. Mẫu số B09-DN
Bảng cân đối kế toán
Khái niệm
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá
trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất
định.
(Bảng cân đối kế toán là một tóm tắt định lượng (bằng số) tình trạng tài chính của
một doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định mà chúng bao gồm các tài sản, các khoản nợ
và vốn chủ sở hữu,…)
Ý nghĩa
Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể đánh giá sự phân bổ nguồn tài chính ngắn
hạn, dài hạn của công ty có phù hợp với cơ cấu tài sản của công ty hay không? Tính thanh
khoản của công ty ra sao? Từ đó đưa ra các quyết định tài chính như thế nào?
Kết cấu
Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 vế: một vế là tài sản và một vế là nguồn vốn.
Hai vế của bảng cân đối kế toán phải luôn cân bằng.
- Vế tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn: Tài sản ngắn hạn phản ánh
các khoản mục được sắp xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần. Chúng bao gồm: tiền,
các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho. Tài sản dài hạn
thường ít có tính thanh khoản như: tài sản cố định, đầu tư dài hạn, tài sản dài hạn khác.

Lợi nhuận sau thuế (EAT) → Thuộc về chủ sở hữu
Cổ tức ưu đãi (Thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu ưu đãi)
Lợi nhuận ròng sau khi trả cổ tức ưu đãi
Cổ tức cho cổ phiếu thường (Thuộc chủ sở hữu cổ phiếu thường)
Lợi nhuận giữ lại
11
Đặc điểm cần lưu ý của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh xét dưới góc độ tài
chính
- Không thể hiện được dòng tiền thực thu và thực chi
- Doanh thu, chi phí bị tác động nhiều bởi phương pháp hạch toán do đó lợi nhuận
hoạt động ghi trong báo cáo chưa thực sự phản ánh bản chất kinh tế lợi nhuận của công ty so
với các doanh nghiệp khác.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Khái niệm
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính cung cấp những thông tin về những
luồng tiền vào, ra của tiền và coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính chất lưu
động cao, có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành tiền.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo trình bày tình hình số dư tiền đầu kỳ, tình hình
các dòng tiền thu vào, chi ra và tình hình số dư tiền cuối kỳ của công ty.
Ý nghĩa
- Cho thấy sự lưu chuyển tiền mặt cho 3 hoạt động chính của một doanh nghiệp, đó
là hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
- Cho thấy khả năng tạo ra tiền mặt hiện nay và trong tương lai của doanh nghiệp.
- Cho thấy khả năng trả nợ và khả năng chi trả cổ tức bằng tiền mặt của doanh
nghiệp.
- Cho thấy sự thay đổi tài sản ròng của công ty.
- Cho thấy nhu cầu tài trợ từ nguồn tài chính bên ngoài công ty
Kết cấu
Những luồng tiền vào, ra và các khoản coi như tiền được tổng hợp và chia thành 3
nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động

- Cả 3 báo cáo tài chính này được lập dựa trên cùng một thông tin liên quan đến các
giao dịch trong hoạt động của một doanh nghiệp, tuy nhiên chúng được trình bày dưới các
góc độ khác nhau, chúng là một thể thống nhất, không thể thay thế nhau được, mỗi báo cáo
có ý nghĩa riêng của nó.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện hoạt
động của một doanh nghiệp trong một thời đoạn, kết quả của các hoạt động này sẽ làm thay
đổi báo cáo cân đối kế toán giữa đầu kỳ và cuối kỳ.
Tuy vậy, các thông tin có được từ các báo cáo tài chính vẫn chưa đủ để các đối
tượng quan tâm đưa ra quyết định vì Báo cáo tài chính chưa phản ánh đúng thực trạng
kinh tế của một doanh nghiệp, bởi:
13
- Báo cáo tài chính chỉ thể hiện các giá trị đo được bằng tiền (lý do để cần thuyết
minh tài chính đi kèm) những chưa đề cập đến đội ngũ quản trị và chuyên gia giỏi, nền tảng
khách hàng,…
- Nhiều giá trị là giá trị sổ sách không phải giá thực tế như hàng tồn kho là một ví dụ
điển hình.
- Nhiều giá trị có tính ước lượng như: giảm giá trị tài sản do hư hại, chi phí tái cấu
trúc doanh nghiệp, phương pháp khấu hao,…
- Nhiều giá trị có thể thay đổi một cách cố ý như: ghi nhận doanh thu, chọn hoặc
thay đổi phương pháp kế toán (LIFO hay FIFO), chọn thời điểm thanh lý tài sản hay đóng
cửa một bộ phận
Do đó, bộ phận phân tích tài chính phải kết hợp nhiều nguồn thông tin:
- Hệ thống báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính
- Báo kiểm toán độc lập
- Thông tin từ hệ thống kiểm soát nội bộ
- Các thông tin về quản lý, định hướng phát triển của doanh nghiệp, thị phần mà
doanh nghiệp đang chiếm lĩnh, việc đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, hoạt động
nghiên cứu phát triển, triển vọng kinh tế ngắn, trung, dài hạn,…
- Thông tin từ báo chí và tạp chí chuyên ngành

thu qua các năm để thấy được khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục. Tương tự trong
phân tích cơ cấu bảng cân đối kế toán chúng ta cũng tính toán và so sánh tỷ trọng của từng
khoản mục tài sản với tổng tài sản và từng khoản mục của nguồn vốn so với tổng nguồn
vốn.
Ưu điểm của phân tích cơ cấu là cung cấp cơ sở so sánh từng khoản mục của từng
báo cáo hoặc so sánh giữa các công ty với nhau, đặc biệt là khi so sánh giữa các công ty có
quy mô khác nhau.
1.2.3.3. Phân tích Dupont
Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ
giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến
số.
Theo phương pháp này, người phân tích có thể tách riêng, phân tích tác động của
từng yếu tố (biến số) tới chỉ tiêu tài chính tổng hợp như thế nào là có lợi hay bất lợi, từ đó có
15
thể đưa ra quyết định tài chính phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Vì vậy,
phương pháp này còn gọi là phương pháp tách đoạn.
Các tỷ số tài chính được trình bày ở trên đều ở dạng một phân số. Điều đó có nghĩa
là mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm thuộc vào hai nhân tố: là mẫu số và tử số của phân số
đó. Mặt khác, các tỷ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau. Hay nói cách khác, một tỷ số tài
chính lúc này được trình bày bằng tích một vài tỷ số khác.
Cụ thể, phân tích Dupont là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA và ROE
thành những bộ phận có liên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả
sau cùng. Kỹ thuật này thường được sử dụng bởi các nhà quản lý trong nội bộ công ty để có
cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính công ty bằng cách nào.
Ví dụ với chỉ tiêu doanh lợi trên vốn chủ sở hữu như sau:
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế
ROE =

doanh nghiệp.
Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên, người ta trình
bày Bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo (trình bày 1 phía) từ tài sản đến
nguồn vốn. Sau đó so sánh số liệu cuối kỳ so với đầu kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối
để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc:
+ Sử dụng vốn là tăng tài sản, giảm nguồn vốn
+ Nguồn vốn là giảm tài sản, tăng nguồn vốn
+ Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau
Cuối cùng tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn theo những
trình tự nhất định tùy theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào một bảng biểu theo mẫu sau:
Biểu 1.1: Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng
1. Sử dụng vốn

Cộng sử dụng vốn
2. Nguồn vốn

Cộng nguồn vốn
Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng (giảm)
bao nhiêu? tình hình sử dụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng tới
sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ đó có giải pháp khai thác các
nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
17
Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp ngoài việc so sánh cuối kỳ
so với đầu kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, ta còn phải so sánh, đánh giá tỷ trọng từng loại tài
sản và nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng
Đầu tiên ta chuyển bảng cân đối kế toán dưới dạng 1 phía theo hình thức Bảng cân
đối báo cáo. Trên dòng ta liệt kê toàn bộ tài sản và nguồn vốn đã được chuẩn hóa. Trên cột
ta xác định số đầu năm, cuối kỳ theo lượng và tỷ trọng của từng loại so với tổng số và có

2. Giá vốn hàng bán

Trong đó KHTSCĐ

3. Lãi gộp

4. Chi phí bán hàng
và quản lý

Trong đó:

KHTSCĐ

Lãi vay

5. LNTT và lãi vay

18
Lãi vay

6. LNTT

Thuế TNDN

7. LNST

Phân phối lãi CP

8. LN không chia


trả nợ của công ty. Tỷ số này được chấp nhận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với tỷ số
thanh toán của các công ty cạnh tranh hoặc so với các năm trước để thấy được sự tiến bộ
hoặc giảm sút. Nếu tỷ số thanh toán hiện thời giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và
cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.
Nếu tỷ số thanh toán hiện thời cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh
toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện thời quá cao sẽ làm giảm hiệu quả
hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn hay nói cách khác việc quản
lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải đòi, hàng
tồn kho ứ đọng). Mặt khác, khi xác định tỷ số thanh toán hiện thời chúng ta đã tính cả giá trị
hàng tồn kho trong giá trị tài sản ngắn hạn đảm bảo cho nợ ngắn hạn. Tuy nhiện, trên thực tế
hàng tồn kho kém thanh khoản hơn vì phải mất nhiều thời gian và chi phí tiêu thụ mới có thể
chuyển thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất. Vì thế, trong nhiều trường
hợp, tỷ số thanh toán hiện thời không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty,
tỷ số thanh toán nhanh nên được sử dụng.
Tỷ số thanh toán nhanh: Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài
sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng được gọi là “tài sản
có tính thanh khoản”, “tài sản có tính thanh khoản” bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng
tồn kho.
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Tỷ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho thấy khả năng thanh toán thực sự của một công ty.
Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay: Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định
và chúng ta muốn biết công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào. Cụ thể hơn chúng ta muốn biết
rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại khoản lợi nhuận bao
nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không. Tỷ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh
do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay hàng năm như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt
này, các chủ nợ có thể đi đến kiện tụng và tuyên bố phá sản.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay =

Số vòng quay các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu hoặc kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc
vào chính sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém
do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu số vòng quay các khoản phải thu cao quá thì sẽ
giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu.
21
Khi phân tích tỷ số này, ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với các công ty
cùng ngành, công ty cần xem xét kỹ lưỡng từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ
đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý.
Số vòng quay hàng tồn kho – Inventory turnover ratio: Số vòng quay hàng tồn
kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế
nào. Tỷ số này có thể đo lường bằng chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho trong một năm hoặc
số ngày tồn kho.
Giá vốn hang bán
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Số vòng luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm ngành kinh
doanh.
Nếu liên hệ tỷ số này với tỷ số thanh toán hiện thời và tỷ số thanh toán nhanh chúng
ta có thể nhận thấy liệu có công ty giữ kho nhiều dưới dạng tài sản ứ đọng không tiêu thụ
được không? Việc giữ nhiều hàng tồn kho sẽ dẫn đến số ngày tồn kho của công ty sẽ cao.
Điều này phản ánh qua chỉ tiêu số ngày tồn kho.
Thời gian của kỳ phân tích
Số ngày tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động =
Tài sản lưu động bình quân
Chỉ tiêu này nhằm đo lường hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp.

khi chi trả cho chủ nợ, nợ vay được xem như là tạo ra đòn bẩy. Trong thời kỳ khó khăn, các
công ty có đòn bẩy tài chính cao có khả năng không trả được nợ. Vì thế khi công ty muốn
vay tiền, ngân hàng sẽ đánh giá xem công ty có vay quá nhiều hay không? Ngân hàng cũng
xét xem công ty có duy trì nợ vay của mình trong hạn mức cho phép không?
Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để ấn định mức lãi suất
cho vay đối với công ty (vì công ty càng có nhiều nợ vay, rủi ro về mặt tài chính càng lớn).
Ở các nước phát triển, người ta đánh giá được độ rủi ro này và tính vào lãi suất cho vay.
Điều đó có nghĩa là công ty vay càng nhiều thì lãi suất càng cao.
23
Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu
trúc vốn hợp lý nhất cho công ty của mình. Qua tỷ số đòn bẩy tài chính nhà đầu tư thấy được
rủi ro về tài chính của công ty từ đó dẫn đến quyết định đầu tư của mình. Các tỷ số đòn bẩy
thông thường là:
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (Tỷ số nợ): Tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài
sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay, đo lường mức độ sử dụng nợ của công ty so với
tài sản.

Tổng nợ phải trả
Tỷ số nợ trên tổng tài sản =
Tổng tài sản
Tổng nợ bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài
chính. Tổng tài sản bao gồm toàn bộ tài sản ngắn hạn và dài hạn của công ty tại thời điểm
lập báo cáo.
Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ
cao hơn. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì sử dụng đòn bẩy tài chính nói chung
gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên, muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần
phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành.
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tổng nợ phải trả
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu =

Tỷ số sức sinh lời căn bản: Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời căn bản của công
ty, nghĩa là chưa kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính.
EBIT
Tỷ số sức sinh lời căn bản =
Tổng tài sản
Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời trước thuế và lãi vay của công ty, cho nên
thường được sử dụng để so sánh khả năng sinh lời trong trường hợp các công ty có thuế suất
thu nhập và mức độ sử dụng nợ rất khác nhau.
Tỷ số sinh lời trên tài sản – Return on total assets ratio (ROA): Chỉ tiêu này đo
lường khả năng sinh lời trên 1 đồng tài sản của công ty
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ số sinh lợi của tài sản =
Tổng tài sản
Tỷ số sinh lợi trên vốn cổ phần– Return on equity ratio (ROE): Đứng trên góc
độ cổ đông, đây là tỷ số quan trọng nhất vì nó đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn
của cổ đông .
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu =
25

Trích đoạn Quỹ khen thởng và phúc lợi 114,843,361 192,354,058 0.20 0 Phõn tớch cỏc tỷ số tài chớnh đặc trưng của doanh nghiệp Thu thập thụng tin về ngành vận tải xăng dầu Sử dụng phương phỏp phõn tớch xu hướng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status