Giải pháp huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Láng Hạ - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay có nhiều thay đổi lớn, sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước vẫn đang được tiếp tục thực hiện với nhiều
thành công rực rỡ. Để thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội
mà Đảng đề ra, chúng ta cần phải một lượng lớn vốn đầu tư. Để có được số vốn
lớn này, tốt nhất là vốn được huy động từ trong nước qua kênh ngân sách và hệ
thống tín dụng. Do đó, kế hoạch nguồn vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Bước vào giai đoạn kế hoạch 2006 – 2010, nhiều cơ hội kinh doanh hấp
dẫn mở ra cho tất cả các thành phần kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn này có sự
kiện hết sức quan trọng, đó là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế
giới (WTO). Ta thấy rõ đất nước đang chuyển mình tham gia hội nhập kinh tế
thế giới. Nhiều thuận lợi như vậy nhưng cũng không ít khó khăn. Giai đoạn này
được đánh giá có sự bùng nổ trong thị trường tài chính – tiền tệ. Nhiều nhà đầu
tư rót vốn vào Việt Nam, nhu cầu sử dụng vốn sẽ tăng lên rất nhiều. Nhưng
nhiều ngân hàng thương mại cổ phần và tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ thành
lập kéo đến tình trạng cạnh tranh khốc liệt, gay gắt trên thị trường vốn, đặc biệt
là thị trường huy động vốn. Chi nhánh Láng Hạ đã đánh giá trong giai đoạn này,
kế hoạch huy động vốn là kế hoạch quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với chi
nhánh. Do đó để tồn tại phát triển được trong bối cảnh mới, kế hoạch huy động
vốn của chi nhánh cần được triển khai với các giải pháp linh hoạt, hợp lý.
Trên cơ sở lý luận được học tại trường và kinh nghiệm thực tiễn thu được
trong quá trình thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Láng Hạ, em đã nghiên cứu và chọn đề tài:
“Giải pháp huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn Láng Hạ”
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung của bài gồm có 3 chương:
Chương 1: Vai trò của công tác huy động vốn đối với hoạt động của ngân hàng

độ phát triển kinh tế mà tình hình hoạt động của Ngân hàng phản ánh rất chính xác
tình hình nền kinh tế, sự vững mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nền kinh tế được
phản ánh rất rõ qua hoạt động của Ngân hàng.
Sự ra đời của hệ thống ngân hàng thương mại đã đánh dấu một bước phát
triển trong đời sống kinh tế xã hội loài người. Hệ thống Ngân hàng hiện nay là quá
trình hình thành và phát triển lâu dài, phù hợp với tiến trình phát triển gắn liền với
nền sản xuất hàng hoá và được xem là bộ phận không thể tách rời và tồn tại như
một tất yếu lịch sử trong đời sống kinh tế xã hội hiện đại.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ở các nước khác nhau, quan niệm về ngân hàng thương mại cũng có một số
điểm khác nhau. Tuy nhiên điểm chung là đều coi ngân hàng thương mại là một
doanh nghiệp chuyên nghề kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ tài chính cho nền
kinh tế thị trường.
Ở Việt Nam theo pháp lệnh “Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài
chính” ban hành tháng 5 năm 1990 đã ghi: “ Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán”. “Luật các tổ chức tín dụng” được Quốc hội thông qua
tháng 12 năm 1997 xác định “Ngân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan”, trong đó
“hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
Hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm các ngân hàng thương mại quốc
doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng tư nhân với chức năng chính là
kinh doanh thông qua hoạt động trung gian tài chính và thực hiện các dịch vụ ngân
hàng. Hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động dưới sự kiểm tra, giám sát của
Nhà nước thông qua các quy chế, quy định về hoạt động và thông qua việc thực
hiện các văn bản, chế độ của Ngân hàng Nhà nước để thực hiện các định hướng

kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung, ngân hàng thương mại chính là người thực
hiện chức năng cầu nối này.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.2. Ngân hàng thương mại với hoạt động của mình ghóp phần tăng cường hiệu
quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của nền
kinh tế nói chung.
Đặc trưng cơ bản của ngân hàng là cho vay có hoàn trả với một mức lãi suất
nhất định và với một thời hạn nhất định. Chính điều này đã bắt buộc mọi cá nhân
và doanh nghiệp khi vay vốn của ngân hàng phải cân nhắc và phải sử dụng vốn đó
một cách có hiệu quả nhất, để có thể bảo toàn vào sinh lợi được vốn đó, sau đó phải
trả vốn vay và lãi đúng thời hạn. Đây chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
tăng cường công tác hạch toán, giảm chi phí sản xuất nhưng phải tăng chất lượng
sản phẩm và tăng vòng quay của vốn. Qua đó, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, trước khi quyết định một món vay ngân hàng thường tiến hành thẩm
định tín dụng, chỉ thực hiện cho vay đối với những cá nhân, doanh nghiệp phải có
sự sắp xếp, bố trí tổ chức sản xuất phù hợp, để có cơ hội vay vốn của ngân hàng,
đây chính là động lực, là cơ sở giúp cho việc tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, qua đó tăng hiệu quả nền kinh tế.
1.2.3. Ngân hàng thương mại là tổ chức thực hiện phân bổ vốn giữa các vùng qua
đó tạo điều kiện cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng khác nhau trong cùng
một quốc gia.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một nước và đặc biệt là các nước đang
phát triển, thì hiện tượng thừa và thiếu vốn giữa các vùng diễn ra thường xuyên.
Cho nên một vấn đề cần giải quyết được đặt ra là làm sao thực hiện được việc tập
trung vốn từ vùng có nhu cầu nhưng không có nguồn vốn sẽ có đủ nguồn vốn để
phát triển kinh tế. Chính ngân hàng thực hiện hoạt động này thông qua hoạt động
điều chuyển vốn của ngân hàng thương mại trung ương.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

các thành phần kinh tế trên mọi miền đất nước.
Trước yêu cầu của nền kinh tế đất nước sau 10 năm đổi mới, các tổ chức tín
dụng cần phải đa năng hơn trong hoạt động kinh doanh nhằm tạo lợi thế cạnh tranh.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã có định hướng chiến
lược có ý nghĩa quan trọng. Ngoài việc củng cố giữ vững thị trường nông thôn,
ngân hàng còn từng bước chiếm lĩnh thị phần tại thị trường thành thị, phát triển
kinh doanh đa năng.
Vì vậy, ngày 1/8/1996 tại Quyết định số 334/QĐ – NHNo – 02 của Tổng
giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Láng Hạ được thành lập. Ngày
17/3/1997, Chi nhánh Láng Hạ chính thức hoạt động. Nguồn vốn ban đầu chỉ có
hơn 10 tỷ đồng, được bàn giao từ Ngân hàng phục vụ người nghèo nay là Ngân
hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn Láng Hạ (hay còn được gọi là Chi nhánh Láng Hạ)
đã từng bước trưởng thành, góp phần khẳng định vị thế của hệ thống Ngân hàng
Nông nghiệp trên địa bàn Thủ đô. Chi nhánh đã đạt được nhiều thành tích đáng
khích lệ. Nguồn vốn ban đầu của Chi nhánh chỉ có hơn 10 tỷ đồng nhưng đến cuối
năm 1997, Chi nhánh đã huy động được 202 tỷ đồng và đến nay là 7275 tỷ đồng.
Mạng lưới giao dịch của Chi nhánh ngày càng được mở rộng và trải khắp trên địa
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bàn Hà Nội. Tính đến nay, Chi nhánh đã có 2 Chi nhánh cấp II và 9 Phòng giao
dịch trực thuộc, cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại, nhanh chóng,
nhằm đáp ứng yêu cầu của mọi đối tượng khách hàng. Chi nhánh đã từng bước
nâng cao và giữ vững uy tín trên thị trường tài chính nội địa và quốc tế.
1.3.2. Cơ cấu tổ chức:
Hiện nay, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Láng
Hạ có các phòng ban với các chức năng và nhiệm vụ như sau:
- Phòng tổ chức cán bộ và đào tạo: Thực hiện tham mưu cho Giám đốc

- Phòng Kế hoạch nguồn vốn: Tham mưu, giúp lãnh đạo chỉ đạo công tác
huy động vốn tại chi nhánh. Tổ chức quản lý hoạt động huy động vốn, cân đối vốn.
Nghiên cứu, phát triển lựa chọn, ứng dụng sản phẩm mới về huy động vốn. Thu
thập thông tin, báo cáo đề xuất phản hồi về biện pháp huy động vốn.
- Phòng thẩm định: Thẩm định các dự án cho vay, bảo lãnh. Thẩm định đề
xuất về hạn mức tín dụng, giới hạn cho vay, đánh giá tài sản đảm bảo nợ vay. Giám
sát, đánh giá, xếp hạng chất lượng khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng.
- Phòng thanh toán quốc tê: Trên cơ sở các hạn mức, khoản vay, bảo lãnh
L/C đã được phê duyệt, thực hiện các tác nghiệp trong tài trợ thương mại phục vụ
các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho khách hàng.
- Phòng nghiệp vụ thẻ: Chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch về dịch vụ thẻ
cho khách hàng như bán thẻ tín dụng, thẻ ATM …
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Phòng Marketting: Thực hiện nghiên cứu thị trường và tiếp cận các đối
tượng khách hàng. Lập và xúc tiến việc thực hiện các hoạt động quảng cáo, tiếp thị,
khuyến mãi, tài trợ …
- 2 chi nhánh cấp 2 trực thuộc và 9 phòng giao dịch: Mở tài khoản tiền gửi,
tiền vay, các giao dịch nhận tiền gửi và rút tiền bằng nội tệ và ngoại tệ cho khách
hàng. Cho vay, phát hành bảo lãnh, thu nợ theo quy định. Xử lý gia hạn nợ, đôn
đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, chuyển nợ quá hạn và thực hiện các biện pháp thu
nợ quá hạn. Thực hiện các giao dịch đổi và mua bán ngoại tệ giao ngay đối với
khách hàng, các giao dịch thanh toán, chuyển tiền, bán thẻ ATM, thẻ tín dụng.
-
HÌNH 1: SƠ ĐỒ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
LÁNG HẠ
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
GIÁM ĐỐC

Chi
nhánh
Bách
Khoa
Phòng
giao
dịch
Phùng
Hưng
Phòng
giao dịch
Doãn Kế
Thiện
Phòng
giao
dịch
Trung
Kính
Phòng
giao
dịch
Hàng

Phòng
giao
dịch
Đào
Tấn
Phòng
giao dịch

+ Cho vay vốn, đồng tài trợ.
+ Cho vay cầm cố đối với các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh
nghiệp tư nhân, sản xuất kinh doanh dịch vụ trên các lĩnh vực.
+ Cho vay tiêu dùng bằng đồng Việt Nam phục vụ nhu cầu đời sống đối
với cán bộ, công nhân viên và các đối tượng khác.
+ Cho vay theo dự án, tài trợ, nhận làm dịch vụ ủy thác – đầu tư các dự án
trong nước và quốc tế.
- Dịch vụ thanh toán trong nước:
+ Nhận tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ (USD & EUR)
cho các cá nhân và tổ chức kinh tế.
+ Chuyển tiền điện tử, thanh toán trong nước.
+ Thu, chi hộ.
+ Chi trả lương qua tài khoản.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Dịch vụ kinh doanh đối ngoại:
+ Thanh toán xuất nhập khẩu theo các hình thức: Thư tín dụng (L/C), nhờ
thu (D/A, DP, CAD), chuyển tiền (TTR).
+ Mua bán ngoại tệ, thanh toán phi thương mại.
+ Chi trả kiều hối và Western Union, chi trả cho người lao động xuất khẩu.
+ Thanh toán, chuyển tiền biên giới.
+ Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh trong nước và quốc tế.
+ Thu đổi ngoại tệ.
- Các dịch vụ khác:
+ Thu tiền tại nơi yêu cầu của khách hàng khi số dư tiền gửi đạt trên 100
triệu đồng.
+ Cung cấp dịch vụ chi trả lương cho cán bộ công nhân viên chức của các
doanh nghiệp, đơn vị tổ chức.
+ Phát hành, chấp nhận thanh toán các loại thẻ ATM, thẻ tín dụng nội địa
và quốc tế.

1.4.3. Nguồn vốn vay:
- Nguồn vốn vay Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng thực hiện vay Ngân
hàng Nhà nước thông qua hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá như: tín phiếu,
trái phiếu Kho bạc Nhà nước … Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo
khả năng thanh toán của ngân hàng.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Nguồn vốn vay các tổ chức tín dụng quốc tế: Loại vốn vay này thường
chiếm tỷ trọng nhỏ. Bởi vì, ngân hàng muốn có được nguồn vốn này thường phải
được phép của Ngân hàng Nhà nước và thường là vay theo hiệp định.
- Nguồn vốn vay các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác trong nước: Vì
các ngân hàng thương mại hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn xuất hiện
tình trạng ở ngân hàng này thừa vốn huy động do huy động được nhiều vốn mà sử
dụng lại không hết, trong khi đó ở ngân hàng khác lại thiếu vốn.
Có tình trạng này là vì: Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn ở thị
trường đầu ra mà không mở rộng được hoạt động trong khi vẫn phải duy trì việc
huy động vốn để giữ khách hàng. Còn ngân hàng thiếu vốn là do thị trường đầu ra
mở rộng trong khi thị trường đầu vào lại không thể mở rộng được nữa, vì thế nên
thiếu vốn.
Tiền vay có thể có thời hạn từ một ngày đến vài tháng. Các khoản vay mượn
này là nguồn vốn quan trọng do khi hoạt động kinh doanh, ngân hàng dễ phát sinh
những khó khăn trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Tuy nhiên, chi phí vốn
cho tiền vay thường xuyên cao hơn so với tiền gửi khác.
1.4.4. Nguồn vốn nhận ủy thác đầu tư:
Vốn nhận ủy thác đầu tư là nguồn vốn ủy thác đầu tư của Nhà nước của các
tổ chức tài chính trong nước và quốc tế ủy thác cho các ngân hàng thương mại theo
các chương trình, dự án có mục tiêu riêng.
Khi thực hiện các dự án này, ngân hàng được hưởng một tỷ lệ trên lãi thực
thu và trả lãi theo lãi suất ghi trong hiệp định.
1.4.5. Nguồn vốn huy động:

Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.4.5.3. Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền gửi của dân cư do chưa có nhu cầu sử dụng
ngay nên gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi hoặc tiết kiệm cho chi tiêu trong
tương lai hoặc để an toàn …
Tiền gửi tiết kiệm có rất nhiều loại như tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có
kỳ hạn … Loại tiền gửi này luôn đa dạng và phù hợp với thị trường để đáp ứng
được mọi nhu cầu gửi tiền của dân cư.
1.4.5.4. Phát hành giấy tờ có giá:
Ngân hàng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi với đặc điểm có
kỳ hạn và khoản lãi được hưởng ghi trên bề mặt. Huy động vốn kiểu này nhằm mục
đích sử dụng vốn cụ thể.
Đặc điểm của loại vốn này là có tính ổn định cao, quyền đòi tiền xếp sau các
loại tiền gửi. Ở nước ta, một số loại giấy tờ có giá có thể được mua bán trên thị
trường trong khi với các nước mà thị trường tài chính phát triển thì hoạt động mua
bán kiểu này diễn ra rất phổ biến.
1.5. Vai trò của huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Nguồn vốn có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Nó quyết định đến quy mô kinh doanh, khả năng sinh lời và các rủi ro
tiềm ẩn đối với ngân hàng.
1.5.1. Huy động vốn tác động đến khả năng sinh lời:
Nguồn vốn ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng thông
qua danh mục tài sản mà nó tài trợ cả về quy mô và cơ cấu. Ngân hàng sử dụng
nguồn vốn huy động được để cho vay, đầu tư vào chứng khoán, mua sắm tài sản cố
định, gửi tiền tại ngân hàng khác và thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả
năng thanh toán.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quy mô, cơ cấu các nhóm tài sản được xác định căn cứ một phần vào quy

ngân hàng quyền sử dụng tiền của họ.
Để có được nguồn vốn phục vụ kinh doanh, ngân hàng phải chi phí nhiều
khoản. Các khoản đó gồm: Chi phí tổ chức mạng lưới huy động vốn, chi phí quảng
cáo để quảng bá hình ảnh của ngân hàng đến khách hàng, các chi phí về kiểm ngân,
quản lý tiền, kho lưu trữ chứng từ, giấy tờ in, hệ thống máy tính … Các khoản chi
này phụ thuộc nhiều vào quy mô kinh doanh của ngân hàng. Nhưng xét cho cùng
quy mô kinh doanh lớn hay nhỏ lại vẫn phụ thuộc vào quy mô nguồn vốn mà ngân
hàng có được.
1.5.2. Huy động vốn ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động của ngân hàng:
Sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào quy mô và
kết cấu của nguồn vốn mà ngân hàng huy động được. Nếu không có sự phù hợp,
cân đối giữa cơ cấu sử dụng vốn với nguồn vốn có thể dẫn đến các rủi ro cho ngân
hàng.
1.5.2.1. Rủi ro về lãi suất:
Việc thay đổi về cơ cấu nguồn vốn và lãi suất huy động đều có thể làm gia
tăng hoặc làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Trong nhiều trường hợp sự thay đổi
này lại đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập lớn hơn tuy nhiên có không ít
trường hợp lại khiến ngân hàng bị rủi ro về lãi suất. Rơi vào trường hợp sau, thu
nhập lãi ròng của ngân hàng bị thu hẹp có khi trở thành âm nếu chi phí trả lãi tăng
nhanh hơn thu nhập từ lãi. Do đó, để quản lý rủi ro lãi suất phải gắn chặt với quản
lý nguồn vốn và quản lý sử dụng vốn.
Hiện nay, nguồn vốn của ngân hàng ngày càng trở nên nhạy cảm hơn với lãi
suất. Nguyên nhân là so sự biến động thường xuyên của lãi suất và sự phát triển
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của các công cụ nợ trên thị trường tiền tệ. Để tránh rủi ro lãi suất, các nhà đầu tư,
những người gửi tiền thường chọn có xu hướng sử dụng những tài sản tài chính
ngắn hạn. Do đó để đối phó với tình trạng này, ngân hàng phải có lãi suất hấp dẫn
hơn nhằm khuyến khích gửi tiền có thời hạn dài hơn hay phải thường xuyên xác
định lại lãi suất trả cho nguồn vốn tùy theo lãi suất trên thị trường.

gửi.
1.5.2.3. Rủi ro về thanh khoản:
Rủi ro về khả năng thanh toán của ngân hàng luôn gắn chặt với nguồn vốn.
Những người gửi tiền luôn đòi hỏi những lợi ích lớn hơn về lãi suất và dịch vụ
ngân hàng mà đôi khi họ còn đòi hỏi cả hai. Nếu ngân hàng không đáp ứng được
nhu cầu của họ, họ có thể rút tiền hoặc chuyển tiền đến gửi tại các ngân hàng khác.
Đây là một sức ép rất lớn đối với ngân hàng.
Ngày nay, cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Một mặt nó sẽ
tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho khách hàng gửi tiền nhưng mặt khác nó buộc ngân
hàng phải có biện pháp huy động vốn hợp lý, linh hoạt cũng như quản lý chặt chẽ
nguồn vốn đã huy động được này. Nguồn vốn huy động ngắn hạn rất nhạy cảm với
lãi suất mà khả năng các dòng tiền ra lại lớn do đó rủi ro thanh toán lại càng lớn. Vì
vậy để giảm rủi ro này, các ngân hàng thường cạnh tranh nhau để huy động được
các nguồn vốn có kỳ hạn dài và ổn định hơn.
1.5.3. Huy động vốn ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng:
Quy mô nguồn vốn huy động được của ngân hàng lớn sẽ cho phép ngân hàng
mở rộng hoạt động tín dụng.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mặt khác, nước ta là một nước nhập siêu, do đó nếu nắm giữ được ngoại tệ
mạnh thì hoạt động thanh toán quốc tế sẽ rất hiệu quả và sẽ giúp tiếp thị hiệu quả
khách hàng tín dụng.
Ngoài ra, với nguồn vốn lớn mạnh thì khả năng đảm bảo thanh toán của ngân
hàng sẽ cao hơn nên uy tín sẽ lớn hơn. Vì vậy, khả năng cạnh tranh của ngân hàng
trên thị trường tài chính tiền tệ sẽ cao hơn.
Cơ cấu huy động vốn phong phú sẽ góp phần đa dạng hóa hoạt động cho vay
vốn. Nếu vốn huy động được của ngân hàng chỉ toàn là vốn ngắn hạn thì ngân hàng
tất phải nghĩ đến việc hạn chế cho vay dài hạn mà tăng cho vay ngắn hạn để có sự
cân đối trong huy động và sử dụng vốn.
Hơn nữa, cơ cấu huy động vốn đa dạng sẽ góp phần nâng cao khả năng thu

được ổn định thì đời sống nhân dân được nâng cao. Việc sản xuất kinh doanh của
các thành phần kinh tế được phát triển thì vốn ngân hàng sẽ lớn. Còn ngược lại
trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định giá cả và do đó sức mua của đồng tiền thau
đổi thường xuyên, dân cư thường có xu hướng giữ tiền mặt hoặc quy đổi ra các
đồng tiền khác có tính ổn định cao và cất giữ trong gia đình thay vì đem số tiền đó
đến gửi tại các Ngân hàng, các quỹ tiết kiệm. Đặc biệt là trong các nước mà hệ
thống Ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng trung ương
trong vấn đề lãi suất thì hiện tượng trên rất phổ biến do sự thay đổi vủa lãi suất huy
động mà Ngân hàng đưa ra không thay đổi kịp với sự biến động của giá cả trên thị
trường.
Đoàn Khánh Linh Kế hoạch 46A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status