Giải pháp hoàn thiện kế toán huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV) Nghệ An - Pdf 14

Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hội nhập kinh tế quốc tế với việc gia nhập WTO của nước ta sẽ thúc đẩy cạnh
tranh và kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng sẽ phải
hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Cạnh tranh giữa các ngân hàng không
những thúc đẩy hiệu quả trong huy động, phân bổ các nguồn vốn mà còn
tăng cường hiệu quả trong kinh doanh của mỗi ngân hàng. Khả năng cạnh
tranh giữa các ngân hàng sẽ được nâng cao bởi cơ hội liên kết, hợp tác với các
đối tác nước ngoài trong chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và khai
thác thị trường. Hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh do mở rộng
khả năng tiếp cận của các ngân hàng đối với các khu vực thị trường mới, các
nhóm khách hàng có mức độ rủi ro thấp.
Các ngân hàng trong nước có khả năng huy động các nguồn vốn từ thị trường
tài chính quốc tế và sử dụng vốn có hiệu quả hơn để giảm thiểu rủi ro và các
chi phí cơ hội. Nguồn vốn trên thị trường tài chính trong nước trở nên sẵn có
hơn và được phân bổ hiệu quả không chỉ do nguồn vốn quốc tế mà còn do
tăng khả năng huy động các nguồn tiết kiệm nội địa nhờ tác động của tự do
hoá tài chính và đầu tư.
Tuy nhiên, việc gia nhập WTO đồng nghĩa với sự gia tăng áp lực cạnh tranh
từ phía các ngân hàng nước ngoài với năng lực tài chính tốt hơn, công nghệ,
trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng, có chất lượng cao hơn và có
thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Bên cạnh đó, do xuất phát điểm và trình độ phát triển của ngành ngân hàng
nước ta còn thấp, cả về công nghệ, trình độ tổ chức, quản lý và chuyên môn
nghiệp vụ. Tốc độ mở cửa nền kinh tế còn chậm, khả năng huy động vốn
trong nội bộ nền kinh tế còn thấp, nhất là vốn trung dài hạn và tiết kiệm nội
địa, hầu hết các ngân hàng chưa có chiến lược kinh doanh hợp lý để có thể
vươn ra trên thị trường quốc tế.
Nguyền Thị Thuý Hiền 1 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng

Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán huy
động vốn tại chi nhánh NHĐT&PT Nghệ An.
Nguyền Thị Thuý Hiền 3 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Chương 1: Khái quát chung về huy động vốn và kế toán huy động vốn tại
NHTM.
1.1.VHĐ và vai trò của VHĐ trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1.1. Khái niệm và các hình thức HĐV của NHTM.
1.1.1.1 khái niệm VHĐ
"VHĐ là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức
kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ
tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để
kinh doanh."
Bản chất của VHĐ là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ
có quyền sử dụng và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến
kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi có kỳ
hạn). VHĐ luôn biến động, nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số
vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả
năng thanh toán.
Muốn làm ngân hàng cần phải có vốn riêng. Tuy số vốn riêng đó chỉ là
một tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà ngân hàng cho vay. Số vốn riêng của ngân
hàng thường chỉ để mua sắm, trang bị trụ sở ngân hàng. Trong thực tế, số tiền
mà ngân hàng cho vay có nguồn gốc từ tiền gửi của khách hàng. Do đó, HĐV
là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM, là mối quan tâm chính của
các ngân hàng.
Về mặt hình thức, NHTM có nhiều cách HĐV khác nhau, chẳng hạn
như huy động tiền gửi thanh toán, huy động tiền gửi tiết kiệm của dân cư,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…
0. 1.1.1.2. Các hình thức HĐV của NHTM.

gửi định kỳ.
 Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý:
Nguyền Thị Thuý Hiền 5 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách
hàng, họ gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất phục vụ thanh toán mà
nhằm mục đích an toàn tài sản. Khi cần khách hàng có thể đến ngân hàng rút
ra để chi tiêu.
* Tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách
hàng và ngân hàng. Theo nguyên tắc, đối với loại tài khoản này, khách hàng
chỉ được rút tiền khi đáo hạn.
Khác với tài khoản thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn là tiền tạm thời nhàn
rỗi hoặc là tiền để giành của cá nhân. Vì vậy, mục đích gửi tiền vào ngân
hàng là nhằm tìm kiếm lợi tức. Đối với các ngân hàng, tiền gửi có kỳ hạn là
nguồn vốn tương đối ổn định trong kinh doanh, do đó lãi suất mà các ngân
hàng chi trả cho loại tiền gửi này cao hơn lãi suất chi trả cho tiền gửi thanh
toán. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hoá loại tiền gửi này
bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng
nhu cầu của mọi khách hàng. Và để khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn
dài, ngân hàng thường áp dụng nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
Tiền gửi có kỳ hạn có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc thả nổi. Nếu áp
dụng lãi suất thả nổi thì lấy lãi suất liên ngân hàng làm cơ sở cho việc xác
định lãi suất.
Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền gửi định kỳ
đó là tiền gửi định kỳ theo tài khoản và tiền gửi định kỳ dưới hình thức phát
hành kỳ phiếu ngân hàng.
b.HĐV qua tiền gửi tiết kiệm.
Xét về mặt bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân, người lao
động chưa sử dụng cho tiêu dùng. Họ gửi tiền vào ngân hàng với mục đích

Chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định; trái
phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Cả hai loại phiếu nợ này đều do
NHTM phát hành từng đợt. Mỗi lần phát hành phải được phép của NHNN
hoặc Uỷ ban chứng khoán quốc gia.
Nguyền Thị Thuý Hiền 7 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu
ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy
động. Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự
có hoặc vốn huy động tiền gửi không đủ. Như vậy, khi thực hiện HĐV dưới
hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối
lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn, phương pháp huy động. Vốn này chỉ
huy động trong một thời gian nhất định và khi đã huy động đủ khối lượng vốn
theo dự kiến thì ngân hàng sẽ dừng việc bán kỳ phiếu, trái phiếu.
Để đạt được hiệu quả trong công tác HĐV, ngân hàng phải có chiến
lược thích hợp, phù hợp với khả năng, mục tiêu chiến lược kinh doanh của
mình. Các ngân hàng cần nghiên cứu kỹ các hình thức huy động vốn để tìm ra
những biện pháp hợp lý nhằm thu hút được nhiều nhất nguồn vốn trong xã
hội.
ở nước ta, những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2006, vốn huy
động của các NHTM có tốc độ tăng trưởng cao. Theo số liệu thống kê cho
thấy, tính đến hết tháng 12/2006, ước tính tổng nguồn vốn huy động của các
NHTM và TCTD trên địa bàn Hà Nội đạt 231799 tỷ đồng, tăng 32,3% so với
cuối năm 2005, mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2001 đến nay; số dư
nguồn vốn huy động từ dân cư tăng tới31,8%. Cũng tính đến hết năm 2006,
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tổng nguồn vốn huy động của các
NHTM và TCTD ước tính đạt 259705 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cuối năm
2005, tăng gấp hơn 1,5 lần so với mức dự kiến từ đầu năm, đạt mức tăng
trưởng cao nhất từ trước đến nay. Như vậy, cuối năm 2006 tổng số dư vốn
huy động chỉ ở riêng hai thành phố nói trên sẽ bằng số dư vốn huy động của

dụng - là mảng kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
NHTM với chức năng tập trung vốn và phân phối lại nhu cầu của nền
kinh tế, sẽ mở rộng được các hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm,
Nguyền Thị Thuý Hiền 9 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng
uy tín cho mình thông qua nguồn VHĐ dồi dào.
Các ngân hàng thực hiện cho vay, thanh toán, đầu tư và một số nghiệp
vụ khác chủ yếu dựa trên nguồn vốn huy động được. Chính vì vậy, khi quyết
định cấp một khoản tín dụng, tiến hành một kế hoạch đầu tư hay giản đơn chỉ
là mua sắm một trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh, các ngân
hàng đều phải xem xét trên cơ sở cân đối giữa việc mở rộng tài sản đó với khả
năng đáp ứng của nguồn vốn. Ngoài ra, nguồn vốn huy động lớn sẽ góp phần
đảm bảo uy tín và tăng cường năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị
trường.
Với những vai trò hết sức quan trọng như vậy, các ngân hàng luôn tìm
cách đưa ra những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ người
gửi tiền đến việc sử dụng nguồn vốn đó một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các
nhà quản trị ngân hàng cũng luôn tìm cách đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù
hợp với tình hình chung của nền kinh tế. Đó là một trong những điều kiện tiên
quyết để đưa ngân hàng đến thành công.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn.
Môi trường kinh doanh là yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của
mỗi ngân hàng. Để có thể tồn tại và phát triển, các ngân hàng cần phải thích
nghi với những biến đổi của môi trường kinh doanh. Nó bao gồm rất nhiều
yểu tố đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng
vừa chịu ảnh hưởng của các yếu tố đó đồng thời cũng tác động trở lại môi
trường kinh doanh. Công tác huy động vốn là một trong những hoạt động cơ
bản của ngân hàng, nó cũng chịu ảnh hưởng của những nhân tố đó và tựu
chung lại đó là hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố mang tính khách quan và

mạnh mẽ tới nền kinh tế nói chung mà hoạt động ngân hàng nói riêng. Nền
kinh tế đang ở thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển tạo điều kiện tích luỹ
nhiều hơn nên sẽ tăng khả năng huy động vốn của ngân hàng. Trái lại, khi nền
kinh tế suy thoái, sản xuất bị kìm hãm, lạm phát gia tăng làm cho môi trường
Nguyền Thị Thuý Hiền 11 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp lại do các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, do đó
việc huy động vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn. Như vậy, sự biến
động của nền kinh tế là mang tính chất chu kỳ nên ngân hàng cần có kế hoạch
về vốn và sử dụng vốn hợp lý.
Tình hình chính trị của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng lớn tới mọi
lĩnh vực của đất nước trong đó có cả hoạt động của ngân hàng. Khi nền chính
trị ổn định thì người dân mới có sự tin tưởng vào hệ thống tài chính và khi đó
họ mới gửi khoản tiền nhàn rỗi của mình vào ngân hàng. Ngược lại, khi
chính trị không ổn định, đất nước bị khủng hoảng hay có chiến tranh thì ngân
hàng sẽ khó khăn hơn trong việc huy động vốn.
* Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền.
Thói quen tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân
hàng. Nếu ở những vùng dân cư quen sử dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất
trữ thì việc huy động vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn. Ngược lại,
nếu người dân thích sử dụng các hình thức thanh toán qua ngân hàng thì cơ
hội huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng lên.
Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến sự biến động ra vào
của các nguồn tiền. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của ngân hàng có tác dụng
làm ổn định lượng tiền gửi vào và rút ra. Còn trong điều kiện nền kinh tế mất
ổn định hoặc có tin đồn thất thiệt sẽ gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng dẫn
đến hiện tượng rút tiền hàng loạt. Do đó, các ngân hàng phải nắm bắt được
các yếu tố tâm lý của người dân, từ đó đưa ra các hình thức huy động phù hợp
để thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế.
* Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác.

mục đích của họ là hưởng lãi nên lãi suất là vấn đề họ quan tâm hàng đầu. Vì
vậy, để tạo được nhiều vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của mình thì các
ngân hàng phải có chính sách hợp lý sao cho lãi suất huy động vừa đảm bảo
thu hút và duy trì sự ổn định khối lượng tiền gửi của khách hàng, vừa phù hợp
với lãi suất cho vay để ngân hàng có lãi. Hiện nay, một số ngân hàng để thu
hút khách hàng gửi tiền đã sử dụng lãi suất rất linh hoạt như chia nhỏ lãi suất
Nguyền Thị Thuý Hiền 13 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
theo nhiều thời hạn khác nhau. Tuy nhiên, nếu sử dụng chính sách lãi suất
bằng cách tăng lãi suất tiền gửi liên tục có thể không mang lại hiệu quả như
mong muốn mà chi phí huy động lại cao. Do đó, ngân hàng phải hoạch định
chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với sự biến động của thị trường và mục
tiêu của ngân hàng trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, ngân
hàng và người sử dụng vốn.
* Năng lực của cán bộ ngân hàng.
- Con người là yếu tố quyết định thành công của hoạt động quản lý,
sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội. Để có thể đạt được mục tiêu đề ra
thì các tổ chức phải chú trọng đến công tác phát triển nguồn nhân lực, ngành
ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ. Đặc biệt trong công tác huy động vốn
thì năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng có ảnh hưởng rất
1.3.3.1. Kế toán HĐV qua tài khoản tiền gửi của TCKT, cá nhân.
a. Thủ tục mở tài khoản.
Đơn vị TCKT, cá nhân muốn mở tài khoản tại ngân hàng phải có tư
cách pháp nhân hoặc thể nhân, thể hiện hạch toán kế toán độc lập. Việc chọn
lựa ngân hàng để mở tài khoản và số lượng tài khoản là quyền của khách
hàng.
Khi có nhu cầu, khách hàng phải đến lập thủ tục tại bộ phận tiền gửi.
Tại đây, kế toán giao dịch sẽ cấp phát và hướng dẫn khách hàng lập các giấy
tờ cần thiết..
- Đối với khách hàng là TCKT: khách hàng phải có quyết định thành

Ngân hàng tất toán tài khoản tiền gửi khi:
- Chủ tài khoản có văn bản yêu cầu tất toán tài khoản.
- Tài khoản hết số dư hoặc ngừng giao dịch trong vòng 6 tháng liên tục.
- Khi chủ tài khoản là cá nhân chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi
dân sự. TCKT chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Chủ tài khoản vi phạm pháp luật trong thanh toán hoặc các trường hợp
khác do NHNN quy định.
Nguyền Thị Thuý Hiền 15 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Khi khách hàng chấm dứt giao dịch với NHTM thì kế toán ngân hàng
sẽ thu hồi toàn bộ séc đã cấp phát chưa sử dụng và chuyển hồ sơ vào lưu trữ.
Nếu sau này, khách hàng giao dịch trở lại thì phải làm thủ tục mở tài khoản
như thường lệ.
c. Kế toán HĐV qua tài khoản tiền gửi KKH.
 Kế toán nhận tiền gửi:
- Kế toán nhận tiền gửi bằng tiền mặt:
Người gửi tiền lập giấy nộp tiền kèm tiền mặt nộp vào ngân hàng. Căn
cứ vào chứng từ thu tiền mặt, sau khi đã kiểm điếm đủ tiền, kế toán sẽ hạch
toán:
Nợ: TK Tiền mặt.
Có: TK Tiền gửi KKH/ Khách hàng.
- Kế toán nhận tiền gửi bằng chuyển khoản.
Kế toán căn cứ vào các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để
hạch toán:
Nợ: TK Tiền gửi KKH/ người chi trả.
Hoặc TK Thanh toán vốn giữa các ngân hàng.
Có: TK Tiền gửi/ người thụ hưởng.
 Kế toán chi trả tiền gửi.
Khi nhận được lệnh chi trả từ chủ tài khoản, kế toán sẽ kiểm tra tính
hợp pháp hợp lệ của chứng từ, kiểm tra số dư tài khoản, hạn mức thấu chi,

Căn cứ vào giấy nộp tiền, kế toán sẽ nhập dữ liệu vào máy tính.
Nợ: TK Thích hợp.
Có: TK Tiền gửi CKH/ khách hàng.
 Kế toán chi trả tiền gửi:
Khách hàng có thể rút tiền bằng tiền mặt hoặc chuyển vào tài khoản tiền gửi
KKH:
Nợ: TK Tiền gửi CKH/ khách hàng.
Có: TK Tiền mặt.
Hoặc TK Tiền gửi KKH/ khách hàng.
Nguyền Thị Thuý Hiền 17 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
 Kế toán trả lãi tiền gửi CKH.
Lãi được tính theo nguyên tắc cơ sở dồn tích. Việc trả lãi tiền gửi CKH
cho người gửi tiền được thực hiện khi đáo hạn (trả cùng gốc).
Công thức tính lãi hàng tháng:
Tiền lãi = Số tiền gửi vào × lãi suất tiền gửi/ tháng.
Sau khi tính được số lãi phải trả, hàng tháng kế toán lập chứng từ và
hạch toán:
Nợ: TK Chi phí trả lãi.
Có: TK Lãi phải trả cho tiền gửi.
Khi khách hàng đến lĩnh lãi (cùng gốc), kế toán lập phiếu chi lãi và
hạch toán:
Nợ: TK Lãi phải trả cho tiền gửi.
Có: TK Thích hợp.
1.3.3.2. Kế toán HĐV qua tài khoản TGTK.
a. Thủ tục mở tài khoản TGTK.
Tại NHTM, quầy giao dịch thường có bảng thông báo lớn về tiền gửi
và lãi suất để khách hàng tham khảo và lựa chọn hình thức gửi tiền. Khi muốn
gửi tiền, khách hàng đến bộ phận TGTK để làm thủ tục mở sổ tiết kiệm. Tại
đây, kế toán giao dịch sẽ hướng dẫn những vấn đề liên quan đến tiền gửi của

để giao dịch tiếp.
- Nếu khách hàng rút toàn bộ số tiền ghi trên sổ thì sau khi làm các thủ
tục như trên, kế toán sẽ thu hồi sổ tiết kiệm để bảo quản cùng phiếu lưu.
+ Chi trả bằng tiền mặt:
Nợ: TK TGTK KKH/ khách hàng.
Có: TK Tiền mặt.
+ Chi trả bằng chuyển khoản :
Nợ: TK TGTK KKH/ khách hàng.
Có: TK Tiền gửi/ người thụ hưởng.
 Kế toán tiền lãi:
Nguyền Thị Thuý Hiền 19 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Lãi được tính sau ngày gửi tiền đầu tiên một tháng, áp dụng phương
pháp tích số. Hạch toán:
Nợ: TK Trả lãi tiền gửi
Có: TK Thích hợp.
d. Kế toán HĐV qua tài khoản TGTK CKH.
 Kế toán nhận TGTK CKH.
Sau khi làm thủ tục mở sổ TGTK, khách hàng sẽ lập giấy nộp tiền kèm
theo phiếu lưu cho kế toán và tuỳ từng phương thức trả lãi mà kế toán sẽ hạch
toán như sau:
- Đối với phương thức trả lãi trước: lãi được trả ngay thời điểm khách
hàng gửi tiền. Kế toán sẽ hạch toán:
Nợ: TK Tiền mặt.
Nợ: TK Chi phí chờ phân bổ (SH 388)
Có: TK TGTK CKH/ thời hạn/ khách hàng.
- Đối với phương thức trả lãi sau: lãi được trả định kỳ hàng tháng hoặc
vào lúc đáo hạn. Hạch toán:
Nợ: TK Tiền mặt.
Có: TK TGTK CKH/ thời hạn/ khách hàng.

Nợ: TK Lãi phải trả cho TGTK (SH 4913).
Có: TK Trả lãi tiền gửi (SH 801).
Sau đó, kế toán trả tiền cho khách hàng, hạch toán;
Nợ: TK TGTK CKH/ thời hạn/ khách hàng.
Nợ: TK Trả lãi tiền gửi.
Có: TK Thích hợp.
- Trường hợp rút tiền quá hạn: Ngân hàng sẽ chuyển sang kỳ hạn mới
cho khách hàng. Gốc của thời hạn mới bao gồm gốc và lãi của kỳ hạn trước.
Khi khách hàng đến rút tiền ra thì xử lý theo kiểu rút tiền trung hạn.
 Kế toán tiền lãi: Ngân hàng áp dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích nên hàng
tháng phải tính toán và hạch toán lãi.
Nguyền Thị Thuý Hiền 21 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
- Đối với phương thức trả lãi trước: phân bổ lãi trả trước vào chi phí
theo định kỳ hàng tháng, hạch toán:
Nợ: TK Trả lãi tiền gửi (SH 801).
Có: TK Chi phí chờ phân bổ (SH 388).
- Đối với phương thức trả lãi sau: theo định kỳ hàng tháng, kế toán sẽ
tiến hành phân bổ chi phí tính lãi phải trả dồn tích để ghi nhận vào chi phí,
hạch toán:
Nợ: TK Trả lãi tiền gửi (SH 801).
Có: TK Lãi phải trả cho tiền gửi (SH 4913).
Lãi có thể được trả theo định kỳ hàng tháng hoặc cuối kỳ, hạch toán:
Nợ: TK Lãi phải trả cho tiền gửi
Có: TK Thích hợp.
1.3.3.3. Kế toán HĐV qua việc phát hành GTCG.
Người mua GTCG sau khi làm thủ tục nộp tiền vào ngân hàng phát
hành GTCG sẽ được nhận các loại GTCG thích hợp từ ngân hàng phát hành.
Căn cứ vào chứng từ nộp tiền, kế toán ngân hàng phát hành GTCG sẽ
hạch toán theo các trường hợp sau:

 Kế toán trả lãi và phân bổ giá trị phụ trội, chiết khấu.
Định kỳ hàng tháng, kế toán sẽ tiến hành ghi nhận lãi trả trước vào chi
phí, hạch toán:
Nợ: TK Trả lãi phát hành GTCG (SH 803).
Có: TK Chi phí chờ phân bổ (SH 388).
Tiến hành phân bổ giá trị chiết khấu:
Nợ: TK Trả lãi phát hành GTCG.
Có: TK Chiết khấu GTCG.
Phân bổ giá trị phụ trội để làm giảm chi phí trong kỳ:
Nợ: TK Phụ trội GTCG.
Có: TK Trả lãi phát hành GTCG.
 Kế toán thanh toán GTCG đến hạn.
Nguyền Thị Thuý Hiền 23 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Sau khi làm các thủ tục, kế toán thu hồi các loại GTCG từ khách hàng,
căn cứ vào chứng từ hạch toán:
Nợ: TK Mệnh giá GTCG.
Có: TK Thích hợp.
b. Đối với phương thức trả lãi sau.
 Kế toán phát hành GTCG.
- GTCG được phát hành ngang giá: Số tiền ngân hàng thu về = Mệnh giá.
Bút toán;
Nợ: TK Thích hợp.
Có; TK Mệnh giá GTCG.
- GTCG được phát hành có chiết khấu:
Số tiền ngân hàng thu về = Tổng mệnh giá - Giá trị chiết khấu.
Bút toán:
Nợ: TK Thích hợp.
Nợ: TK Chiết khấu GTCG.
Có: TK Mệnh giá GTCG.

Trích đoạn Công tác Tín dụng. Công tác kinh doanh ngoại hối và phát triển sản phẩm dịch vụ. Kết quả kinh doanh. Tài khoản và chứng từ sử dụng 1 Chứng từ sử dụng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status