Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU.....................................................................3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT..............................................................3
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................1
Chương 1:............................................................................................... 2
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.................2
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.................................2
1.1.1 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.............................2
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại..........................8
1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại......................................16
1.2.1 Các loại rủi ro của ngân hàng thương mại................................16
1.2.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại...............................19
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng
thương mại.................................................................................................28
1.3.1 Nhân tố chủ quan thuộc về ngân hàng.......................................28
1.3.2 Nhân tố khách quan.....................................................................31
Chương 2 :............................................................................................33
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ CHI NHÁNH CẦU GIẤY.....................33
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh
Cầu Giấy.....................................................................................................33
2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức của ngân hàng
.................................................................................................................33
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động của chi nhánh VIB Cầu Giấy 35
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại chi nhánh ..................................42
2.3 Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh..........................................52
2.4 Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng........57
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.4.1 Những kết quả đạt được..............................................................57
Biểu đồ 5 : Tăng trưởng tổng thu nhập
Biểu đồ 6 : Tỷ trọng cho vay theo kì hạn
Biểu đồ 7 : Tỷ trọng dư nợ cho vay theo loại tiền
Biểu đồ 8 : Tăng dư nợ hoạt động bảo lãnh
Bảng 1 : Tỷ trọng vốn huy động theo đối tượng
Bảng 2 : Tỷ trọng huy động vốn theo kì hạn
Bảng 3 : Chỉ tiêu tài chính của chi nhánh 2005 – 2007
Bảng 4 : Dư nợ tín dụng theo đối tượng
Bảng 5 : Chi tiết các khoản nợ có vấn đề
Bảng 6 : Tỷ trọng nợ quá hạn theo kì hạn so với dư nợ theo kì hạn
Bảng 7 : Chi tiết nợ quá hạn theo đối tượng vay
Bảng 8 : Chỉ tiêu phản ánh thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
VIB Ngân hàng Quốc Tế Việt Nam
TCKT Tổ chức kinh tế
QĐ Quyết định
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động ngân hàng ngày nay được coi là xương sống của nền kinh tế, sự phát triển
của nó phản ánh đúng thực trạng kinh tế của mỗi một quốc gia. Trong những năm gần đây
ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả hết sức khả quan và khẳng định là một trung
gian tài chính quan trọng không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường. Ngân hàng là tổ
chức thu hút tiết kiệm lớn nhất, đóng vai trò thủ quỹ của toàn xã hội. Với đội ngũ cán bộ
giàu kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại ngân hàng còn là nhà tư vấn, lập kế hoạch tài chính
giúp doanh nghiệp.
Ngân hàng cung cấp rất nhiều các dịch vụ song đem lại doanh thu lớn nhất cho ngân
hàng là hoạt động tín dụng. Ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Theo luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền và sử dụng tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Với các hoạt động đa dạng và đặc trưng Ngân hàng có một vai trò rất quan
trọng đối với nền kinh tế. Ngân hàng được coi là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là
cầu nối giữa các doanh nghiệp và thị trường, là công cụ để Nhà Nước điều tiết vĩ mô
nền kinh tế và đặc biệt là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc
tế. Các hoạt động chính của ngân hàng
1.1.1.1 Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng. Nó đóng vai trò
quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vì vốn là cơ sở để
ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, nó quyết định quy mô hoạt động tín
dụng và các hoạt động khác của ngân hàng. Nó quyết định năng lực thanh toán và
đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường. Nó còn quyết định năng lực cạnh tranh
của ngân hàng đối với các ngân hàng khác.
Thực tế nguồn vốn ngân hàng huy động là bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Chủ sở hữu của chúng gửi
vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Họ chuyển nhượng quyền sử
dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng để rồi ngân hàng trả cho họ một khoản thu nhập, đảm
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bảo an toàn vốn cho họ hay cung cấp các dịch vụ cho họ với chi phí thấp. Qua đó
ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ,
làm tăng quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát
triển.
Để tạo ra lượng vốn đáng kể cho mình các ngân hàng đã đưa ra rất nhiều hình
thức huy động khác nhau như : Huy động bằng hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi
Hoạt động tín dụng được coi là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân
hàng. Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín
nhiệm. Hình thức cấp tín dụng của ngân hàng rất đa dạng như cho vay ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn, bảo lãnh cho khách hàng, mua các tài sản để cho thuê. . Song tất
cả đều có đặc điểm chung:
- Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. Người cho
vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tên nguyên tắc hoàn
trả cả gốc và lãi.
Ngân hàng cũng phân tín dụng ra làm nhiều loại:
Theo thời gian ( thời hạn tín dụng) tín dụng được chia làm 3 loại
- Tín dụng ngắn hạn : có thời hạn dưới 1 năm, được dùng để bổ sung sự thiếu
hụt tạm thời về nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh
hoạt của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn : thường 1 đến 5 năm, được cấp để mua sắm tài sản cố
định, đổi mới kĩ thuật mở rộng sản xuất xây dựng các công trình nhỏ có khả năng thu
hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn : có thời hạn trên 5 năm, sử dụng để cấp vốn cho xây dựng
cơ bản, xây dựng mới, cải tiến mở rộng với quy mô lớn.
Theo đối tượng tín dụng, tín dụng được chia làm 2 loại
- Tín dụng vốn lưu động : được sử dụng để hình thành vốn lưu động, bù đắp
thiếu hụt tạm thời cho các tổ chức kinh tế
- Tín dụng vốn cố định : sử dụng để hình thành tài sản cố định
Theo mục đích sử dụng, tín dụng được chia làm 2 loại
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa : cung cấp cho các doanh nghiệp để
tiến hành lưu thông hàng hóa
- Tín dụng tiêu dùng : cung cấp cho các cá nhân hộ gia đình đáp ứng nhu cầu
Hoạt động đầu tư tài chính của ngân hàng tập trung vào nghiệp vụ đầu tư chứng
khoán và tham gia liên doanh liên kết.
Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán
Ngân hàng tham gia vào thị trường cũng giống như các tổ chức trung gian tài
chính khác. Ngân hàng có thể hoạt động cho mình tức là sử dụng vốn để kinh doanh
kiếm lợi nhuận hoặc ngân hàng có thể hoạt động cho người khác để được thanh toán
các khoản phí, hoa hồng với tư cách là người môi giới tin cậy.
Trong nghiệp vụ đầu tư chứng khoán ngân hàng thương mại thường đầu tư vào
2 loại chứng khoán có kì hạn dài là trái phiếu chính phủ hay do chính quyền địa
phương phát hành và chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành.
Chứng khoán do chính phủ, chính quyền địa phương phát hành thường lợi
nhuận thấp nhưng hầu như không có rủi ro và tính thanh khoản của các chứng khoán
này cũng cao. Ngân hàng có thể chuyển đổi thành tiền nhanh chóng khi cần thiết.
Còn chứng khoán của doanh nghiệp thường có lợi nhuận cao hơn song mức độ an
toàn thấp, rủi ro và biến động lên xuống theo thị trường, tính thanh khoản bị hạn chế
vì vậy theo quy định của Nhà Nước các ngân hàng thương mại chỉ được đầu tư vào
các chứng khoán doanh nghiệp ở mức độ nhất định để đảm bảo an toàn vốn khi có
biến động xảy ra.
Đối với hoạt động liên doanh, liên kết
Đây là hoạt động khi mà các công ty, doanh nghiệp dưới hình thức cổ phần hóa
phát hành cổ phiếu để kêu gọi vốn góp. Lúc này ngân hàng đứng ra mua cổ phiếu cho
chính mình với tư cách là một thành viên góp vốn. Khi đó ngân hàng sẽ cử người
tham gia vào ban quản trị của doanh nghiệp. Ngoài việc thu được cổ tức từ hoạt động
đầu tư ngân hàng còn nắm rõ được hoạt động của doanh nghiệp từ bên trong, hiểu rõ
tình hình doanh nghiệp thuận lợi cho hoạt động cấp tín dụng giữa ngân hàng và
doanh nghiệp đảm bảo an toàn tín dụng, giảm thiểu rủi ro.
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.1.4 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Dịch vụ này đảm bảo tính thanh khoản và sự lưu thông tiền trong ngân quỹ của
ngân hàng.
Dịch vụ thu tiền được thực hiện trên cơ sở khách hàng nộp tiền vào ngân hàng,
thông thường là khách hàng đến gửi tiền, trả nợ tiền vay, lãi vay hoặc nộp tiền nhờ
ngân hàng thanh toán. . .
Dịch vụ phát tiền tương ứng với việc lĩnh tiền của khách hàng. Thông thường
khách hàng đến lĩnh tiền trong trường hợp rút vốn tiền gửi, lĩnh lãi tiền gửi, nhận tiền
vay, rút tiền mặt chi tiêu. . .
1.1.1.5 Hoạt động khác của ngân hàng
Bên cạnh những hoạt động chính như huy động vốn và tín dụng thì ngân hàng
còn cung cấp cho khách hàng một số dịch vụ khác đi kèm nhằm đa dạng hóa các hoạt
động của mình và đáp ứng được mọi yêu cầu cần thiết của khách hàng. Có rất nhiều
dịch vụ được ngân hàng cung cấp như
- Dịch vụ ủy thác : là dịch vụ quản lý tài sản được thực hiện dưới nhiều hình
thức và cách sắp xếp khác nhau. Dịch vụ ủy thác có thể được chia thành 3 lĩnh vực
chính : việc ấn định tài sản, việc điều hành dịch vụ ủy thác, giám hộ tài sản và hoạt
động của các cơ quan đại diện.
- Dịch vụ tư vấn : là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng những lời khuyên
tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về lĩnh vực mà khách hàng yêu cầu. Qua đó họ
xây dựng được những phương án kinh doanh tối ưu, có những quyết định đúng, kịp
thời trong đầu tư, sản xuất từ đó giảm thiểu được rủi ro và đạt được lợi nhuận tối đa.
- Dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo quản ký gửi, nghiệp vụ ngân hàng trên thị
trường chứng khoán đây là những hoạt động phức tạp và đòi hỏi cần chuyên sâu vì
vậy các ngân hàng thường thành lập các công ty con hoạt động chủ yếu trong lĩnh
vực này.
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của các trung
gian tài chính nói chung, nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập
từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
T = M – [{ M×i×t} + H1+H2]
Trong đó M : mệnh giá của thương phiếu
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
i : Lãi suất chết khấu
t : Thời hạn chiết khấu
H1 : Hoa hồng phí phụ thuộc theo thời gian
H2 : Hoa hồng cố định
Ngân hàng chỉ chấp nhận chiết khấu các thương phiếu:
- Còn thời hạn thanh toán theo quy định của ngân hàng Nhà Nước.
- Phải hợp lệ về mặt hình thức và nội dung.
- Đối với hối phiếu phải có chữ ký chấp nhận của người thụ tạo.
- Khách hàng phải chuyển nhượng quyền sở hữu cho ngân hàng dưới hình thức
ký hậu.
Đến thời hạn thanh toán thương phiếu ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ của người
có trách nhiệm thanh toán thương phiếu. Nếu người nay không thanh toán ngân hàng
sẽ có 2 cách để xử lý
- Thu hồi tiền từ người xin chiết khấu, trả lại thương phiếu cho họ đòi nợ.
- Tiến hành thủ tục tố tụng để truy đòi số nợ.
Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu cũng có nhiều ưu điểm:
- Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là khá
chắc chắn.
- Là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức đối với ngân hàng.
- Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn chiết khấu
thương ngắn dưới 90 ngày và ngân hàng có thể dễ dàng xin tái chiết khấu
thương phiếu ở ngân hàng Trung Ương.
- Tiền của khách hàng khi chiết khấu thường được chuyển vào tài khoản tiền
gửi của khách hàng bởi vậy nó tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng.
Bên cạnh đó ngân hàng vẫn có thể gặp rủi ro trong nghiệp vụ chiết khấu khi
Vì vậy ngân hàng chỉ cấp tín dụng theo hình thức này với những khách hàng
quen thuộc, có uy tín và ngân hàng có ý muốn giúp đỡ.
Cho vay trực tiếp từng lần
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến đối với các khách hàng không có nhu
cầu vay vốn thường xuyên, khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, khi có
nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất thì mới vay vốn ngân hàng.
Mỗi lần vay khách hàng phải trình ngân hàng phương án sử dụng vốn, ngân
hàng sẽ xem xét có quyết định cho vay hay không. Theo từng kì hạn nợ trong hợp
đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng nếu thấy có
dấu hiệu vi phạm hợp đồng ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn.
Lãi suất cho hình thức tín dụng này có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính
lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, tuy nhiên mỗi lần xin vay
khách hàng phải làm đơn và trình phương án vay vì ngân hàng dễ dàng có thể kiểm
soát mục đích sử dụng vốn vay của khách và hạn chế rủi ro cho khoản tín dụng.
Cho vay theo hạn mức
Là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng. Hạn mức có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối đa tại thời
điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn
của khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh, tốc độ luân
chuyển vốn vay tín dụng nhanh.
Ngân hàng không xác định trước kì hạn nợ và thời hạn tín dụng, khi khách hàng
có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo tính chủ động trong quản lý ngân quỹ của
khách hàng. Tuy nhiên ngân hàng khó có thể kiểm soát được hiệu quả sử dụng vốn
vay của khách hàng. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo
chức trung gian này đứng ra tín chấp cho các thành viên vay vốn hoặc bảo lãnh cho
các thành viên. Điều này thuận tiện cho những người vay khi họ không có hoặc
không đủ tài sản thế chấp.
Ngân hàng có thể nhờ các tổ chức trung gian này thực hiện vài khâu trong quá
trình cho vay như thu nợ hay phát tiền . . . Cho vay qua trung gian tài chính thường áp
dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ. Cho vay qua trung gian nhằm giảm
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bớt rủi ro, chi phí cho ngân hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều yếu điểm như
nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình để tăng lãi suất cho vay, giữ tiền của các
thành viên khác sử dụng cho mục đích của mình.
1.1.2.3 Hoạt động cho thuê tài chính
Là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng mua tài sản về cho khách
hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ giá trị của tài sản cho thuê
cộng lãi. Hết hạn thuê khách hàng có thể mua lại tài sản đó. Theo phương thức này
người thuê được sử dụng tài sản mà mình cần trên cơ sở đi thuê, không phải bỏ vốn
mua mà chỉ cần chi tiền thuê tài sản hàng kì cho ngân hàng.
Đối với ngân hàng cũng giống như một khoản cho vay thông thường ngân hàng
xuất tiền với kì vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau một thời hạn nhất định. Khách hàng
phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kì. Ngân hàng cũng đối đầu với rủi
ro khi khách hàng kinh doanh không hiệu quả, không trả tiền thuê đầy đủ và đúng
hạn. Tuy nhiên thuê có nhiều điểm khác so với vay tài sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu
của ngân hàng.
Tài trợ vốn dưới hình thức tín dụng cho thuê tài chính đối với bên thuê mặc dù
giá thường đắt hơn song có nhiều điểm thuận lợi.
- Nó cho phép bên thuê được nhận một khoản tài trợ là 100% các khoản đầu tư
và tiết kiệm được việc sử dụng vốn tự có của mình.
- Nó không đè nặng lên bảng tổng kết tài sản và nó cho phép duy trì hay ít ra
không làm nặng thêm năng lực đi vay.
Ngân hàng cố tìm kiếm các khoản thu từ hoạt động bảo lãnh nhằm bù đắp chi
phí. Phí bảo lãnh được tính trên tỷ lệ phần trăm số tiền bảo lãnh, ngoài phí ngân hàng
có thể yêu cầu khách hàng kí quỹ, tạo nguồn tiền thanh toán cho ngân hàng với mức
lãi suất thấp.
Có rất nhiều các hình thức bảo lãnh được ngân hàng cung cấp chủ yếu bao gồm
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu : Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư
về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu có vi phạm các quy định
trong hợp đồng dự thầu.
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng : là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn
thất hộ khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết,
gây tổn thất cho bên thứ ba.
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước : là cam kết của ngân hàng sẽ hoàn
trả tiền ứng trước cho bên mua nếu bên cung cấp không hoàn trả.
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay : là cam kết của ngân hàng đối với người
cho vay về việc trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng của ngân hàng không trả
được.
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán : là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán
tiền theo hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng
không thanh toán đủ.
- Bảo lãnh đóng thuế doanh nghiệp : là cam kết của ngân hàng với cơ quan thuế
để nhà doanh nghiệp là người mà ngân hàng bảo lãnh được hưởng một kì hạn trong
việc nộp thuế doanh nghiệp.
- Bảo lãnh đóng thuế xuất nhập khẩu : là sự cam kết của ngân hàng đối với cơ
quan thuế để doanh nghiệp mà ngân hàng bảo lãnh có thể lấy hàng ra khỏi kho, cảng
sử dụng ngay hoặc xuất khẩu đi.
1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Các loại rủi ro của ngân hàng thương mại
tức. Lúc này ngân hàng phải đi vay bổ sung để có nguồn thanh toán hoặc phải bán tài
sản của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Ngân hàng có thể hạn chế
rủi ro thanh khoản bằng cách dự trữ nhiều tiền và các tài sản có tính thanh khoản cao
tại ngân quỹ. Song giải pháp này cũng có nhược điểm là nó ảnh hưởng đến khả năng
sinh lời của ngân hàng vì những tài sản có tính thanh khoản cao thường mang lại thu
nhập ít và chi phí vốn mà ngân hàng bỏ ra cho các tài sản này là lớn. Do đó ngân
hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt và tài sản ở mức tối ưu đủ đáp ứng các nhu cầu
thanh toán thường xuyên và biến động nhẹ.
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.1.4 Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng
khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị trường, tỷ giá
thường xuyên dao động, sự thay đổi này đôi khi tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm
hụt tạm thời. Tuy nhiên những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dễ dẫn đến tổn thất cho
ngân hàng. Để phòng ngừa rủi ro hối đoái ngân hàng phải làm cho cân xứng giữa tài
sản có và tài sản nợ đối với mỗi loại ngoại tệ trong bảng cân đối tài sản.
1.2.1.5 Rủi ro khác
Bên cạnh những rủi ro thường gặp trong hoạt động của ngân hàng như đã nêu ở
trên thì hoạt động của ngân hàng vẫn còn chứa đựng rất nhiều các loại rủi ro khác
như rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ, rủi ro hoạt động và rủi ro quốc
gia. . . Tuy không thường xuyên và gây nhiều ảnh hưởng như các rủi ro thường gặp
song nó cũng có tác động tới hoạt động của ngân hàng và đôi khi là tác nhân gián tiếp
gây ra các rủi ro thường gặp.
Rủi ro hoạt động ngoại bảng là một rủi ro mà các ngân hàng ngày nay thường
đối mặt vì với xu hướng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế các ngân hàng đang mở
rộng các nghiệp vụ ngoại bảng. Là hoạt động không thuộc bảng cân đối, ngân hàng
thu được phí trong khi không cần sử dụng đến vốn kinh doanh nên nó khuyến khích
các ngân hàng. Tuy nhiên nó ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối.
tổn thất cho ngân hàng. Hay rủi ro tín dụng phát sinh khi một bên đối tác không thực
hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc
không thực hiện thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.
Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi là khách quan. Ngân hàng chỉ có thể kiểm
soát đề phòng, hạn chế làm giảm thiệt hại do nó gây ra chứ không thể loại trừ vì vậy
rủi ro tín dụng được coi là bạn đường trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hạn chế và kiểm soát rủi ro tín dụng luôn được ngân hàng quan tâm. Hầu hết
các ngân hàng khi thực hiện hoạt động tài trợ cụ thể đã cố gắng phân tích các yếu tố
người vay sao cho độ an toàn là cao nhất và chỉ cấp tín dụng khi thấy đủ tiêu chuẩn.
Nhưng trên thực tế không một nhà kinh doanh ngân hàn tài ba nào có thể dự đoán
chính xác các vấn đề sẽ xảy ra, khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thay đổi do nhiều nguyên nhân hoặc cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện
phân tích đúng. Vì vậy quản lý ngân hàng luôn tìm cách chấp nhận rủi ro ở mức phù
hợp.
1.2.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Tới hoạt động của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu được huy động từ các tổ chức dân cư trong
nền kinh tế. Nguồn vốn nay được sử dụng chính là tài trợ cho hoạt động tín dụng. khi
rủi ro xảy ra nó ảnh hưởng trực tiếp tới tới nguồn vốn củ ngân hàng. Lúc này ngân
hàng sẽ phải bù tiền ra để trả cho các khoản tiền huy động khi đến hạn đến một giới
hạn nào đó ngân hàng sẽ thiếu hụt không còn đủ để thanh toán vì vậy rủi ro tín dụng
làm giảm tính thanh khoản của ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Tín dụng là hoạt động tạo ra phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Lợi nhuận của
hoạt động này được tính bằng chênh lệch giữa thu nhập cho vay và chi phí huy động.
Khi rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ không thu được lãi vay bên cạnh đó khi phát sinh các
vòng quay vốn trên thị trường diễn ra nhanh hơn, có vai trò dẫn vốn từ nơi thừa vốn
đến nơi thiếu vốn, giúp các doanh nghiệp kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ
hoạt động của hệ thống ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng các doanh nghiệp có
điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ, tăng năng suất lao động,
tăng trưởng kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng còn là cầu nối giữa
doanh nghiệp với thị trường, ngân hàng giúp các doanh nghiệp năng cao chất lượng
về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường từ đó
tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh giữa một nền kinh tế
ngày càng phát triển như hiện nay. Sự trợ giúp của ngân hàng tới mọi hoạt động của
nền kinh tế là rất lớn vì vậy khi ngân hàng gặp rủi ro hay phá sản kéo theo tác động
tới tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nó sẽ làm nền kinh tế suy
thoái, giá cả tăng sức mua giảm nền kinh tế rơi vào biến động.
Tới khách hàng
Nếu rủi ro xảy ra gây ảnh hưởng tới ngân hàng thì cũng gây ảnh hưởng trực tiếp
tới khách hàng những chủ nhân thực sự của nguồn vốn ngân hàng. Lúc này khách
Đỗ Thị Vân Anh Tài Chính Doanh Nghiệp 46A
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng phải đối mặt với nguy cơ mất vốn, mất nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình, mất quyền được sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp.
Khách hàng là những người trực tiếp gửi tiền vào ngân hàng, những người vay
vốn, những người đang sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp. Họ tin tưởng vào
uy tín của ngân hàng, họ gửi tiền không đòi hỏi vật thế chấp, họ tin tưởng cung cấp
thông tin dự án nhờ ngân hàng tài trợ, họ thế chấp tài sản, họ sử dụng các dịch vụ tiện
ích của ngân hàng. Và khi rủi ro xảy ra họ là người thiệt hại nhiều nhất. Sự sụp đổ
của bất kì một ngân hàng nào cũng gây hoang mang mất lòng tin của khách hàng đối
với toàn bộ hệ thống ngân hàng. Sự sụp đổ của một ngân hàng kéo rất dễ kéo theo sự
sụp đổ của toàn hệ thống ngân hàng. Và điều này làm ảnh hưởng tới toàn xã hội.
1.2.2.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng