MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống thương mại Châu Á, Việt Nam có một vị trí đặc
biệt. Là một quốc gia bán đảo, nằm trên một trong những tuyến chính
của hệ thống hải thương Châu Á, có nhiều hải cảng, cửa khẩu thuận lợi
cho sự phát triển các quan hệ giao thương. Việt Nam cũng từng là một
trong những trung tâm kinh tế quan trọng của Đông Nam Á, đồng thời
giữ vai trò kết nối giữa các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của Châu Á.
Từ những thế kỷ trước và sau công nguyên, Việt Nam đã từng là
điểm đến, là đầu mối giao thương của các đoàn thuyền buôn, đồng thời
là các đoàn thuyền truyền tải văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ và Tây Á.
Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, kinh tế thương mại,
ngoại thương đã luôn luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy
sự phát triển, hưng thịnh của kinh tế Việt Nam trong nhiều thời kỳ lịch
sử.
Nói về quan hệ giao lưu buôn bán với bên ngoài, Việt Nam vốn là
nước có truyền thống lâu đời, đặc biệt là quan hệ buôn bán với nước
láng giềng Trung Quốc. Có thể nói Trung Quốc là nước có quan hệ giao
thương thường xuyên, liên tục và quan trọng nhất đối với nước ta trong
thời kỳ phong kiến. Ngay từ thời Lý - Trần - Lê - Mạc, mặc dù ngoại
thương bị nhà nước quản lý khá nghiêm ngặt, nhưng quan hệ thông
thương biên giới vẫn được tăng cường và phát triển, quan hệ buôn bán
tiêu dùng hàng ngày của nhân dân dọc biên giới cả của hai nước được
đẩy mạnh.
Từ cuối thế kỷ XVIII, thương nghiệp đã suy dần. Sang đầu thế kỷ
XIX, đất nước thống nhất yên bình là điều kiện rất thuận lợi cho việc
buôn bán trao đổi. Triều đình nhà Nguyễn đã nắm ngoại thương khá
chặt và trên cơ sở đó tổ chức các chuyến buôn và công cán ở nước
ngoài, trong đó có nhiều lần cử thuyền sang buôn bán với Quảng Đông -
Trung Quốc. Ở các cửa quan giáp với Trung Quốc, trong đó có cửa
quan Bảo Thắng (Lào Cai), nhà Nguyễn đã kiểm soát rất chặt chẽ việc
Hồng, quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc ở các thế kỷ XV,
XVI, XVII, XVIII… Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách tổng quát về sự giao lưu thương mại Việt - Trung
qua khu vực Lào Cai giai đoạn (1802 - 1897).
Vì vây, việc nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt - Trung qua Lào
Cai giai đoạn (1802 - 1897) là điều cần thiết. Thông qua đề tài này chúng
ta sẽ hiểu rõ hơn về quan hệ thương mại Việt - Trung qua khu vực Lào
Cai. Chính sách thương mại của chính quyền phong kiến triều Nguyễn,
của thực dân Pháp đối với Trung Quốc trong giai đoạn này. Thấy được
những tác động của quan hệ thương mại đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, em quyết định chọn vấn đề: “Quan
hệ thương mại Việt - Trung qua khu vực Lào Cai từ 1802 đến 1945” làm
đề tài nghiên cứu khoa học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu mối quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc có
rất nhiều công trình của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên,
mỗi tác giả đề cập đến một khía cạnh khác nhau của lịch sử quan hệ Việt
-Trung.
Tháng 3 - 2007, Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong hệ thống thương
mại châu Á thế kỷ XVI - XVII ” đã được trường Đại học Khoa Học Xã
Hội và Nhân Văn tổ chức. Các báo cáo nhìn nhận lại vai trò và hoạt
động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong khoảng 2 thế kỷ XVI –XVII.
Trong những bài báo cáo này, đã có nhiều tác giả trình bày về các mối
quan hệ ngoại thương của quốc gia Đại Việt với nước láng giềng Trung
Quốc, từ đó rút ra những nét nổi bật trong quan hệ thương mại truyền
thống Việt - Trung.
Cũng tại hội thảo này TS. Trần Đức Anh Sơn đã có bài báo cáo
“Hoạt động thương mại của các sứ bộ Việt Nam ở Trung Hoa thời
Thanh”, trong đó tác giả đã nhắc đến 3 ngã 3 thông thương Việt - Trung,
Qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên, em nhận thấy
chưa có công trình nào chuyên sâu về vấn đề: “Quan hệ thương mại Việt
- Trung qua khu vực Lào Cai giai đoạn (1802-1945)”.Nội dung của các
công trình trên đây là tài liệu quý giá, cung cấp cho em những thông tin
cần thiết giúp em hoàn thành bài tập nghiên cứu khoa học của mình
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt - Trung qua khu
vực Lào Cai từ 1802 đến 1945.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi không gian: Khu vực tỉnh Lào Cai
Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 đến năm 1945
3.3. Nhiệm vụ đề tài
- Làm rõ chính sách thương mại của chính quyền phong kiến nhà
Nguyễn, chính quyền thực dân Pháp trong việc giao lưu buôn bán với
Trung Quốc qua khu vực Lào Cai.
- Tìm hiểu về tình hình trao đổi kinh tế, thương mại Việt Nam -
Trung Quốc qua khu vực Lào Cai giai đoạn (1802 - 1945)
- Rút ra những tác động của hoạt động thương mại đến sự phát
triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn (1802 - 1945).
- Từ kinh nghiệm mở cửa, xây dựng hành lang kinh tế Côn Minh -
Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong thời cận đại (cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX), ta rút ra một số bài học lịch sử.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tài liệu.
Để thực hiện đề tài này, em đã khai thác tìm hiểu các nguồn tài
liệu lịch sử liên quan đến quan hệ thương mại Việt - Trung. Các bộ sách
do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, đã được Tổ dịch Viện sử học
dịch. Các tài liệu lưu trữ ở Cục Lưu trữ quốc gia, Viện thông tin Khoa
Chương 3 : Tình hình trao đổi kinh tế thương mại Việt - Trung qua
khu vực Lào Cai giai đoạn (1897 - 1945)
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT - TRUNG
TRƯỚC NĂM 1802
1.1. Quan hệ chính trị :
Kể từ cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược bị thất bại đến cuộc khởi
nghĩa thành công của Khúc Thừa Dụ (179 TCN - 195) đất nước ta bị các triều
đại phương Bắc xâm lược và đô hộ . Hơn một nghìn năm Bắc thuộc đã có biết
bao đau thương, tủi nhục mà nhân dân ta phải chịu đựng, kẻ đô hộ đâu chỉ dừng
lại ở vơ vét, cướp bóc, mà còn rắp tâm xoá bỏ độc lập, chủ quyền của nhân dân
ta, ráo riết thực hiện chính sách đồng hoá nhằm Hán hoá dân tộc Việt. Những gì
là cơ sở tồn tại, là sức mạnh tinh thần để phục hồi quốc gia từ lãnh thổ, tiếng
nói, phong tục tập quán, lối sống, ý thức tư tưởng của dân tộc ta đều bị chúng
dùng trăm phương nghìn kế để huỷ diệt.
Hơn một thiên nhiên kỷ, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh vũ
trang giành lại độc lập . Cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc còn diễn ra liên tục
trên các mặt trận văn hoá tư tưởng để bảo tồn và phát triển những tinh hoa, giá
trị của nền văn hoá cổ truyền. Cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài giữa xâm lược,
đô hộ, đồng hoá với chống xâm lược, chống đô hộ, chống đô hộ và chống đồng
hoá đã chi phối toàn bộ cuộc sống của nhân dân ta trong tiến trình lịch sử Bắc
thuộc. Cuộc đấu tranh không khoan nhượng đó đã bao trùm nhiều thế hệ , thế hệ
trước ngã xuống thì thế hệ sau tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập, tự chủ bất
chấp sự đàn áp dã man của kẻ thù. Trong cuộc đấu tranh trường kì và vô cùng
gian khổ, quyết liệt đó, đã nhiều lần, nhân dân ta giành dược thắng lợi, đuổi kẻ
thù ra khỏi bờ cõi, xây dựng dược chính quyền tự chủ, tự định đoạt công việc
của mình như khởi nghĩa do Hai Bà Trưng, Phùng Hưng…lãnh đạo. Những
năm tháng độc lập quý giá đó, đã tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành
lại độc lập về sau càng quyết liệt, rộng lớn hơn.
Cuộc đấu tranh đó cũng là cơ sở cho nhân dân ta đấu tranh giữ gìn và
Gần 1000 năm qua, kể từ sau thế kỷ X, trong quan hệ hai nước Việt nam -
Trung Quốc, từng xảy ra nhiều cuộc chiến tranh do các vương triều Trung Quốc
phát động nhằm mục đích thôn tính Việt Nam, biến dải đất này thành quận ,
huyện của mình . Nhưng cuối cùng những cuộc chiến tranh ấy đều kết thúc
bằng cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam. Nếu tính về thời gian thì những
năm tháng chiến tranh cộng lại vẫn là ngắn so với những thế kỷ hoà bình mà hai
nước đã xây dựng các mối quan hệ ngoại, kinh tế, văn hoá. Tuy nhiên trong
quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những thời kì “Bang giao hảo thoại” không
phải không phát sinh bao chuyện gay cấn, ví dụ vấn đề tranh chấp, lấn chiếm
đất đai trên vùng biên giới hai nước…
húng ta có thể chia lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ thế kỷ X
tới thế kỷ XIX làm mấy giai đoạn khác nhau. Trong đó thế kỷ XV đầu thế kỷ
XVI với các mốc khởi điểm quan trọng là năm 1428, và kết thúc vào trước năm
1527, tức là trước năm nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, là thời kì tiêu biểu cho bản
chất của những mối quan hệ phức tạp Việt Nam - Trung Quốc, mà những đặc
điểm ấy sẽ kéo dài qua các thế kỷ XVII, XVIII, XIX [17; 13]. Việc xây dựng quan
hệ ngoại giao giữa triều Minh và triều Lê sau khi chiến tranh chấm dứt là một
nhu cầu bức thiết đem lại lợi ích cho hai nhà nước, hai dân tộc.
Theo các nguồn sử liệu Việt Nam ghi chép như Đại Việt sử kí toàn thư,
bang giao chí… thì đối với Việt Nam, chế độ triều cống Trung Quốc, bắt đầu
một cách chính thức vào thế kỷ XVIII, năm thứ nhất niên hiệu Thiệu Long
(1258) triều Trần Thánh Tông, theo yêu sách của vua Mông Cổ, sau lần thất bại
ở Việt Nam.
Trước thế kỷ XIII, cụ thể là các thế kỷ X, XI, XII, dưới vương triều Đinh,
Tiền Lê, Lý (Ngang với vương triều Tống- Trung Quốc), quan hệ giữa Việt
Nam với Trung Quốc chủ yếu là quan hệ sính, chứ chưa phải là quan hệ triều
cống. Cống và sính là hai dạng khác nhau cần phân biệt. Nếu cống là thuế, là
phải nộp những vật phẩm quý cho những nước lớn mạnh, có tính chất bắt buộc,
thì sính chỉ là thăm hỏi, sính lễ không định kì hạn nhất định, thường được tiến
hành khi hai bên muốn giao hiếu hoặc sau khi được sách phong.
gia cho rằng việc vương triều Việt Nam xin cầu phong, triều cống Trung Quốc
chỉ là biểu hiện sự thuần phục trên danh nghĩa, còn thực tế, Việt Nam là một
nước độc lập hoàn toàn. Trong ý thức người Việt Nam, bị “lệ thuộc”, nghĩa là bị
mất độc lập, đất đai bị ngoại bang xâm chiếm, thống trị. Còn “độc lập ”là đất
nước không có ngoại xâm, giữa phương Bắc và phương Nam cương giới phân
chia rõ ràng, “đất nào chủ ấy”. Một quan niệm độc lập như vậy là trở thành
nguyên tắc tối cao chỉ đạo đường lối đối ngoại của Việt Nam trong suốt trường
kỳ lịch sử.
Trong lịch sử, việc buôn bán trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn
ra chủ yếu trên dọc tuyến bên giới hai nước. Đối với loại hình buôn bán, trao
đổi hàng hoá, vật phẩm ở đường biên, luật lệ ngăn cấm của nhà nước rất ít có
hiệu lực. Do đó sự mua bán, đổi trác các thứ nhu yếu phẩm hàng ngày cùng như
các hoạt động mậu dịch của thương nhân tại chợ búa vùng biên giới là một thực
tế không thể ngăn chặn nổi
Lào Cai nằm dọc theo tuyến sông Hồng, con đường giao thông huyết
mạch nối liền Vân Nam (Trung Quốc) với Việt Nam nên có vị trí chiến lược
quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự… Chợ Bảo Thắng - Lào Cai trở thành
trung tâm buôn bán khá sầm uất. Nhiều thuyền buôn tấp nập neo đậu ở các bến
sông Hồng
1.2. Quan hệ kinh tế
Trung Quốc là quốc gia ở phía Bắc Đại Việt. Trong suốt chiều dài lịch sử,
đây là quốc gia có hoạt động giao thương mật thiết và thường xuyên nhất với
Đại Việt. Thương nhân Trung Quốc sang Đại Việt và ngược lại thương nhân
Đại Việt cũng sang Trung Quốc buôn bán [ 4; 434 ].
Do có vị trí địa lý gần với Hoa Nam rộng lớn, lại nằm trong hệ sinh thái
phổ tạp nhiệt đới, miền Bắc nước ta nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng đã
sớm trở thành khu vực có vị trí chiến lược về chính trị và là đầu mối giao
thương quan trọng. Cùng với lúa gạo, vải.. các nguồn hải sản và muối đã không
ngừng được vận chuyển theo tuyến sông, biển lên phía Bắc. Nhu cầu tiêu dùng
Chính sách của triều Tống vào thế kỷ XI - XIII cũng chỉ cho phép thương
nhân nước ngoài, đặc biệt là thương nhân Đại Việt được trao đổi hàng hoá tại
những địa điểm do triều đình Tống chỉ định và chịu sự kiểm soát của các cấp
chính quyền địa phương. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII đã xuất hiện những trung
tâm buôn bán lớn với tên gọi là “ Bác dịch trường” được lập ra tại Vĩnh Bình,
Châu Tô Mậu, trại Hoành Sơn, trại Như Hồng ở Khâm Châu [ 4; 141 ].
Trong đó, trại Vĩnh Bình và trại Hoành Sơn là hai bác dịch trường lớn.
Trại Hoành Sơn là nơi mua ngựa, các lâm sản, dược phẩm của địa phương và
muối. Trại Vĩnh Bình , một trong những bác dịch trường quan trọng, hàng hoá
đem trao đổi có các thứ hương, ngà voi, sừng tê, vàng bạc, muối vải vóc . . . ở
Khâm Châu hàng hoá được mang ra trao đổi cũng rất phong phú cá, sò, gạo,
thước vải, bạc, đồng, tiền, trầm hương, trân châu, ngà voi . . .
Thành phần khách buôn đến trao đổi hàng hoá tại bác dịch trường biên
giới Lý - Tống khá đông đảo, phần nhiều là người dân thiểu số sinh sống tại các
vùng biên của Đại Việt và Tống hoặc là những người buôn bán nhỏ ( tiểu
thương ). Dân tộc thiểu số mang theo những sản vật địa phương do mình tự sản
xuất hoặc khai thác quanh nơi sinh sống như : lâm thổ sản, ngà voi, sừng tê,
thuỷ sản như các loại cá sông, trai hến . . . Thậm chí do xuất phát từ yêu cầu
thực tế cần muối của dân cư vùng biên Trung Quốc, tuy thuộc loại hàng hoá
nặng, nhưng muối cũng được vận chuyển để đổi lấy lương thực, vải mặc . ..
Vào đầu và giữa thế kỷ XIV, quốc gia Đại Việt thời Trần luôn có ý thức
khuyến khích thương nghiệp phát triển cũng như mở rộng giao lưu buôn bán với
nước ngoài. Từ thế kỷ XIV nhà Trần kiểm soát và bảo vệ nghiêm ngặt hoạt
động của các thương nhân ngoại quốc ở Vân Đồn . Thuyền buôn của họ chỉ
phép dừng lại ở vùng Đoạn Sơn (Vân Đồn) và không được ghé vào đất liền vì
sợ người ngoài dò thấy hư thực của mình. Có thể thấy hoạt động ngoại thương
không nằm ngoài việc bảo vệ an ninh quốc gia Đại Việt. Điều đáng chú ý là,
trước và sau cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên diễn ra vào nửa cuối thế
kỷ XIII, quan hệ kinh tế giữa Đại Việt với Trung Quốc, vẫn được tiếp tục
[4;332]. Tư liệu lịch sử và khảo cổ học cho thấy, ngay sau cơn binh biến, quan
lấy hết hành trang chia cho các quan” [ 14; 327 ].
Do chính sách khắt khe của nhà nước phong kiến, tình hình ngoại thương
nhà Lê thế kỷ XV không thể phát triển được. Thuyền buôn các nước ra vào
thưa thớt, các chợ miền biên giới như Kỳ Lừa (Lạng Sơn ), Móng Cái, Vạn
Ninh, Vân Đồn . . cũng suy dần.
Ở các thế kỷ XVI - XVIII, việc buôn bán với thương nhân nước ngoài
phát triển rầm rộ. Bên cạnh các thương nhân Trung Quốc, Giava, Xiêm quen
thuộc và ngày càng đông đảo, xuất hiện các thuyền buôn Nhật Bản, Bồ Đào
Nha, Hà Lan, Anh, Pháp. Người Trung Quốc đến buôn bán nước ta từ rất xa
xưa. Hàng năm, thuyền buôn của họ từ Quảng Châu dong buồm xuống các cảng
Vân Đồn, Vạn Ninh, ( thuộc Quảng Ninh ) rồi vào Phố Hiến (Hưng Yên ) hay
Vị Hoàng ( Nam Định ) hay vào các cảng Đàng Trong như Hội An, Nước Mặn,
Bến Nghé. Việc buôn bán của họ ngày càng phát triển, nhất là từ khi nhà Thanh
tạm thời đóng cửa các cảng khẩu Trung Quốc. ở Đàng Trong, họ đến buôn bán
với Thanh Hà, Hội An, Hà Tiên. Theo Poavrơ, ở thế kỷ XVIII, “ ở Hội An có
6000 Hoa Kiều mà phần lớn là lái buôn giàu có, vừa mua bán hàng hoá, vừa
lam môi giới cho khách phương tây, giữ các chức vụ trong các tàu ti”. ở Đàng
Ngoài, người ta tập chung chủ yếu ở Phố Hiến. Vân Đồn, Đông Triều, vừa buôn
bán vừa làm thuốc.
Năm 1650, chúa Trịnh quy định, người Hoa lên buôn bán ở Thăng Long
chỉ được trú ngụ ở làng Khuyến Lương, Thanh Trì. ít lâu sau, chúa lại bắt những
Hoa Kiều sống lâu dài trên đất nước ta phải ăn mặc, nói năng theo phong tục
Việt, khi sứ thần Trung Quốc sang, họ không được gặp gỡ trao đổi.
Hàng hoá do thương nhân Trung Quốc chở đến là gấm vóc, đoạn, giấy
bút, các loại đồ đồng, đồ sứ, bạc nén, chì, kẽm trắng, diêm sinh, khí giới.
Thương nhân Trung Quốc thường nhập tiền đồng Tống, Minh vào Đàng Trong,
năm 1774, khi đem quân vào đây, họ Trịnh đã tịch thu được 80 vạn quan tiền
loại này. Khi ra đi thương nhân Trung Quốc chở theo hồ tiêu, đường, gỗ, các
loại hương liệu quế, yến sào, sừng tê, ngà voi, vàng, tơ, đường và hồ tiêu là
những mặt hàng ưa thích của họ. Các chúa Nguyễn cũng nhân đó nắm độc
X đến thế kỷ XVIII không ngừng được củng cố và mở rộng. Các hoạt động
giao lưu buôn bán diễn ra sôi động và mạnh mẽ tại các cảng khẩu, cửa khẩu trở
thành hoạt động buôn bán chủ đạo góp phần tạo nên một vùng kinh tế nhộn nhịp
ở vùng biên giới hai quốc gia và một số trung tâm buôn bán lớn của Đại Việt
(Kẻ Chợ, Vân Đồn, Hội An, Phố Hiến ). Triều đình phong kiến Việt Nam và
Trung Quốc đều hết sức chú trọng đến hoạt động ngoại thương, đã tham gia trực
tiếp vào việc điều hành ngoại thương như đánh thuế hàng hoá, ban bố các lệnh
cấm buôn bán vàng bạc, quy định những vị trí, địa điểm trao đổi hàng hoá chịu
sự kiểm soát của các cấp chính quyền địa phương, ngăn cản việc đưa các hàng
hoá quý ra khỏi biên giới…
Khi đến buôn bán ở bất kỳ thụ trường nào, các thương nhân vẫn mong
muốn thu được lợi nhuận tối đa. Nhưng ở Việt Nam trong thế kỷ XII, XIII chỉ
có các lái buôn Trung Hoa thu được lợi nhuận ở cả hai chiều, mang hàng đến rồi
cất hàng đi đều có lãi. Bí quyết của các lái buôn Trung Hoa nằm ở sự hiểu biết
và quen thuộc thị trường cùng sự khôn khéo có tính chất truyền thống.Hàng hoá
Trung Hoa với kỹ thuật cao ở các ngành thủ công như dệt, giấy, sành sứ đã và
vẫn có ảnh hưởng từ lâu đời đến các nghề thủ công ở nước ta theo chiều hướng
tiếp thu,cải tiến.
Ngoại thương phát triển đã kích thích một số ngành kinh tế trong nước,
đặc biệt là là ngành thủ công như dệt, ươm tơ, làm đường… Việc mua bán trao
đổi của người nước ngoài cũng đẩy nhanh sự lưu thông hàng hoá trong nước,
thúc đẩy hoạt động và tăng thêm vốn liếng, kinh nghiệm cho các thương nhân
người Việt. Từ trong hoạt động giao lưu buôn bán đã xuất hiện nhiều tầng lớp
thương nhân, từ tiểu thương buôn bán nhỏ chiếm đại đa số tới thương nhân lớn
đủ sức mạnh cạnh tranh với các cự phú của Trung Quốc. Một tầng lớp người lợi
dụng danh nghĩa cống sứ đi buôn cũng là một lực lượng thương nhân đáng kể.
Việc ra đời và hoạt động của các bác dịch trường ( trung tâm trao đổi hàng hoá )
đã tạo thành các đầu mối giao thông, tạo điều kiện mở rộng giao lưu không chỉ
kinh tế mà cả văn hoá giữa hai quốc gia.
2.3 Mối quan hệ thương mại Việt - Trung qua khu vực Lào Cai trước 1802
huyết mạch nối Vân Nam ( Trung Quốc ) với Việt Nam nên càng có vị trí quan
trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội , Lào Cai thực sự là cầu nối liền
giữa Giao Chỉ ( Bắc Bộ ) với các quốc gia vùng Điền( Vân Nam ), với Thục
( Tứ xuyên ) qua các miền đó vào Miến Điện [ 12 ; 8- 9 ].
Quan hệ mậu dịch giữa Vân Nam và các quốc gia Nam Á và Đông Nam
Á vô cùng phát đạt. Ngay từ thời Hán Vân Nam đã bắt đầu trao đổi mua bán
thương nghiệp với các nước lân cận, “ Hán thư địa lý chí - Việt địa kiều” ghi
lại : Năm 111 Trước công nguyên, sau khi thành lập các quận Nam Hải, Úc
Lâm, Thương Ngô, Giao Chỉ, thương mại giữa các nước Đông Nam á và Trung
Quốc vô cùng sôi động. Quận Giao Chỉ đã trở thành một trong những cảng nhập
khẩu lớn giữa các nước Đông Nam Á và Vân Nam.
Tuyến giao thông huyết mạch qua sông Hồng đã đóng vai trò quan trọng,
góp phần thông thương giữa quốc gia Nam Chiếu Đại Lý với vùng đồng bằng
Bắc Bộ Việt Nam qua Lào Cai. Qua sông Hồng, hàng hoá của Giao Chỉ đã vận
chuyển cung cấp cho Nam Chiếu Đại Lý quốc các mạt hàng chủ yếu là muối, vỏ
sò, ngọc ngà, châu báu, các sản phẩm của biển … Vỏ sò là sản phẩm quý hiếm
trở thành tiền tệ dùng trong trao đổi. Qua vùng sông Hồng muối ăn của Giao
Chỉ và các quốc gia Đông Nam á khác được vận chuyển đến Việt Nam.Vùng
dân cư Quảng Tây cho đến tận thế kỷ XVIII vẫn còn tình trạng thường xuyên
thiếu muối. Đặc biệt điều này thường xuyên xảy ra đối với các dân tộc thiểu số
sinh sống ở vùng sâu, vùng xa của vùng núi Quảng Tây, Trung Quốc. Chỉ tính
riêng một phủ Trấn An của Quảng Tây hàng năm vẫn dùng muối của Việt
Nam,mỗi năm dùng hơn nghìn bao muối [4 ; 14]. Hàng hoá của Nam Chiếu, đai
lý vào Lào Cai và xuống đồng bằng Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng đồ sắt
(vũ khí , đồ sinh hoạt …) và tơ lụa.
Các dân tộc thiểu số như Thái, Hà Nhì, Dao… của vùng Lào Cai, Vân
Nam (Trung Quốc), Lạng Sơn, Cao Bàng bằng nhiều con đường khác nhau cả
đường bộ và đường thuỷ, cũng đưa sản vật địa phương tham gia tích cực vào
việc giao lưu hàng hoá. Họ không chỉ đem những nguồn lợi khai thác được tại
lưu vực các con sông, suối quanh vùng biên, đổi lấy lương thực, vải mặc như
Nguyễn.
Cửa quan Bảo Thắng ở địa phận xã Sơn Yên, lỵ sở châu Thuỷ Vĩ, chỗ hai
ngọn nước sông Thao và sông Ngân hợp lưu, gần đấy có phố Bảo Thắng, giáp
cửa khẩu Hà Khẩu nước Thanh. Giữa thế kỷ XVIII thu thuế buôn muối được
180 hốt bạc . Cuối thế kỷ XVIII thu được 1000 lạng bạc thuế muối.
Lào Cai là vùng đất có giá trị chiến lược về kinh tế, chính trị , nơi đây là
“cửa ngõ phiên dậu” phía Tây Bắc của Tổ quốc. Ngay từ thời bình minh của
lịch sử dựng nước, Lào Cai đã là một trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị lớn
của toàn vùng. Từ trung tâm này Lào Cai đã vươn lên, khẳng định vị thế của
mình. Sự trao đổi hàng hoá giữa Âu Lạc, vùng Bắc Bộ Việt Nam với vương
quốc Điền (Côn Minh) phía Bắc, Thân Độc (Ân Độ) ở phía tây đã phát triển
mạnh cả những giai đoạn lịch sử sau này. Sự giao lưu giữa miền Bắc Việt Nam
thuộc hạ lưu sông Hồng với Vân Nam - Trung Quốc thuộc vùng thượng lưu
diễn ra sôi động. Hàng hoá mang ra trao đổi buôn bán rất phong phú, phần
nhiều là các sản vật địa phương. Việc tận dụng khai thác triệt để những lợi thế
của tự nhiên và vị trí địa lí chiến lược góp phần thúc đẩy sự giao lưu buôn bán
giữa hai quốc gia Việt Nam - Trung Quốc.
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH TRAO ĐỔI KINH TẾ THUƠNG MẠI
VIỆT - TRUNG QUA KHU VỰC LÀO CAI GIAI ĐOẠN (1802 - 1945)
2.1. Chính sách thương mại của chính quyền nhà Nguyễn giai đoạn
(1802 - 1897)
Năm 1802, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ
Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ, Nguyễn ánh đặt niên hiệu là Gia Long(1802 -
1819), Minh Mạng (1820 - 1840) đến Triệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1848 -
1883) kế tiếp sau xây dựng và củng cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến
trong bối cảnh khủng hoảng, suy vong. Tuy nhiên, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại
dưới triều Nguyễn, xã hội Việt Nam hầu như không phát triển được theo triều
hướng tiến bộ của thời đại, mâu thuẫn xã hội sâu sắc làm bùng lên hàng loạt các
cuộc khởi nghĩa nông dân, của các dân tộc ít người và cuối cùng trở thành đối
tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.