Dự án phát triển Văn Hóa Trà Việt và thương hiệu Trà Bà Trưng Qua kênh phân phối và hệ thống Quán Trà Việt - Pdf 12

Dự án phát triển văn hoá Trà Việt và thương hiệu Trà Bà Tụng
Qua kênh phân phối và hệ thống QUÁN TRÀ VIỆT
I. Ý tưởng kinh doanh
1. Khái quát dự án
a. Lĩnh vực kinh doanh
- Sản xuất (ướp hương và đóng gói) sản phẩm trà thương hiệu Bà Tụng
- Phân phối sản phẩm Trà Bà Tụng qua mạng lưới phân phối và hệ thống cửa hàng
QUÁN TRÀ VIỆT
b. Mô hình doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Như Nguyệt
2. Phân tích thị trường
a. Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội
i. Chè là thức uống truyền thống của người Việt
Tại Việt Nam, hình thức uống trà khởi nguồn từ các chùa chiền, gắn liền với đạo
Phật của người Việt. Nó được gọi là thiền trà. Hiện nay ngôi chùa duy nhất còn tiến
hành nghi lễ thiền trà là chùa Văn Trì-Từ Liêm-Hà Nội. Người Việt xưa còn tổ chức
các hội trà khắp nơi trên đất Việt, người ta tôn vinh trà như là ông chủ của các cuộc
vui.Họ tụ họp uống trà khi có trà ngon hay vào các dịp đặc biệt, thường là uống trà
thưởng hoa xuân, uống trà thưởng hoa quý, uống trà ngũ hương.
Người xưa đặc biệt coi trọng và nâng trà lên thành một thứ nghệ thuật độc đáo.
Và không phải ai cũng có thể thưởng thức được trà. Đó chỉ có thể là những bậc cao
nhân tao nhã, có cái khí thanh tịnh và cái hồn xa lánh bụi trần. Phong cách uống trà
của người Việt không bị ảnh hưởng theo phong cách uống trà của Trung Hoa hay
Nhật Bản. Nghệ thuật uống trà biểu hiện phong phú nếp sống và văn hoá ứng xử của
người Việt. Qua biến động của lịch sử, văn hoá trà Việt bị phôi phai trong ký ức
người Việt cũ và dường như không tồn tại trong ký ức người Việt mới.
Trước năm 1945, các hãng trà lớn ở Hà Nội như Chính Thái, Ninh Thái, Phú
Xuân, Phú Thái rất giàu có, họ buôn và bán trà khắp Đông Dương.
Như vậy, trà ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở văn hoá thưởng thức mà còn là
một sản phẩm kinh doanh nổi tiếng của các thương nhân Việt Nam.
1

Dự án phát triển văn hoá Trà Việt và thương hiệu Trà Bà Tụng
Qua kênh phân phối và hệ thống QUÁN TRÀ VIỆT
chè tồn tại lâu đời để trở thành thương hiệu chè được nhiều người biết đến nhất ở Việt
Nam hiện nay.
Như vậy thị trường trà nội địa có quy mô khá lớn song chưa được đầu tư, khai
thác đúng cách và hiệu quả. Trà Việt và văn hóa trà Việt tồn tại một cách (ẩn dật) trong
đâu đó cuộc sống người Việt hiện đại.
Việc xây dựng một thương hiệu trà thuần Việt với cách thưởng thức trà truyền
thống và tôn vinh văn hoá trà Việt là việc cần đầu tư thời gian, trí tuệ và tiền bạc không
chỉ vì mục đích lợi nhuận mà còn cả mục đích xã hội của dân tộc Việt trong thời đại
hội nhập.
b. Phân tích về đối thủ cạnh tranh
Hiện nay trên thị trường chè Việt Nam có 2 loại hình trà chủ yếu: Trà túi lọc và trà
truyền thống:
Trà túi lọc:
- Các nhãn hiệu chủ yếu: Lipton, Dilmah, Qualitea. Cozy tea…hầu như các nhãn hiệu
này là ngoại nhập, chỉ có Cozy tea là nhãn hiệu của Việt Nam.
Ưu điểm:
 Hiện đang chiếm giữ một thị trường đông đảo, đã phần nào định vị được thương
hiệu của mình.
 Mẫu mã bắt mắt, sang trọng.
 Đa dạng về hương vị với những cái tên ấn tượng, lãng mạn, bí ẩn.
 Cách pha chế thuận tiện, phù hợp với cuộc sống hiện đại
Nhược điểm: Có thể nói trà túi lọc là 1 khám phá mang tính đột phá hướng tới cuộc sống
hiện đại của con người trong thời đại mì ăn liền hiện nay. Chỉ cần thả túi trà lọc vào nước
sôi là đã có một cốc nước trà mang hương vị hoa quả. Nhưng bên cạnh những cái được ấy
là những cái mất không thể không kể đến – đó là VĂN HOÁ TRÀ VIỆT. Sự phổ biến của
trà túi lọc hiện nay đã phần nào làm mai một loại hình văn hoá ẩm thực truyền thống này,
thể hiện ở một số nhược điểm điển hình sau:
 Đối tượng xác định của trà túi lọc là giới trẻ, nên đã tìm mọi cách đưa không khí

người quen để mua vài cân trà.
 Đối tượng khách hàng còn hạn chế, chất lượng sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng.
Nhìn chung, từ trước đến nay, chúng ta đa số là xuất khẩu chè thô hoặc sơ chế
cho thị trường nước ngoài. Năm 2004 là 60.000 tấn, năm 2005 dự tính khoảng 75.000
tấn. Hầu hết các sản phẩm này khi vào thị trường thế giới phải thông qua các nhãn hiệu
4
Dự án phát triển văn hoá Trà Việt và thương hiệu Trà Bà Tụng
Qua kênh phân phối và hệ thống QUÁN TRÀ VIỆT
hàng hoá của nước ngoài. Đây chính là sự yếu kém, thua thiệt lớn của ta. Qua đó cho
thấy chưa có sự quan tâm đúng mực trong việc phát triển sản phẩm này ngay tại thị
trường nội địa.
i. Những điểm cần khắc phục của các sản phẩm chè hiện tại
Các sản phẩm trà trên thị trường Việt Nam thoả mãn cả 2 yếu tố cần có trong xã hội hiện
đại, đó là:
- Hương vị trà truyền thống
- Độ tiện ích khi sử dụng
Mặt khác, các thương hiệu trà của Việt Nam chưa làm nổi bật nét văn hoá truyền thống
của trà Việt và văn hoá truyền thống Việt Nam. Do đó, chưa có đủ “cá tính” để thu hút người
tiêu dùng trong nước cũng như ngoài nước.
Từ những phân tích và nhận định trên, ta thấy rằng cần có một dự án xây dựng và
quảng bá một thương hiệu trà Việt mang hương vị truyền thống, mà vẫn tiện lợi trong
việc sử dụng ở xã hội hiện đại. Mặt khác, cũng phải có phương thức giới thiệu, quảng
bá và bán hàng mới nhằm làm nổi bật văn hoá truyền thống ẩn chứa trong thương hiệu
trà Việt này.
- Cần thiết phải xây dựng một thương hiệu trà Việt mang các đặc trưng của văn hoá Việt
Nam. Qua đó đưa các dịch vụ văn hoá đi kèm như văn hoá thưởng trà, các loại hình dân ca
truyền thống như: trầu văn, ca trù,… Có thể hình dung văn hoá là chiếc cầu nối đưa trà
hướng vào quần chúng, đồng thời qua việc lưu thông các sản phẩm trà, văn hoá đến với
quần chúng.

vị trà truyền thống, một mặt tạo thuận lợi cho người sử dụng trong pha chế. Sản phẩm Trà
Bà Tụng cải tiến cách đóng gói cụ thể như sau: một lượng trà vừa đủ cho một ấm trà sẽ
được đóng sẵn trong một lọ lưới gốm, lọ lưới gốm đặt trong ấm trà đã được
thiết kế theo mẫu mã riêng phù hợp. Cả ấm và lưới gốm được thiết kế phù hợp, được đăng
ký độc quyền kiểu dáng công nghiệp. (Có bản vẽ mô tả kèm theo).
Phân tích ưu điểm của cách đóng gói mới:
- Người tiêu dùng chỉ cần đặt lưới gốm có sẵn trà vào ấm và cho nước sôi vào ấm đã có
thể sử dụng như sản phẩm trà hương vị truyền thống, sau khi sử dụng khách hàng có
thể loại bỏ lưới gốm tương tự túi lọc.
- Ưu điểm của lưới gốm so với ấm lưới kim loại có trên thị trường là:
6
Dự án phát triển văn hoá Trà Việt và thương hiệu Trà Bà Tụng
Qua kênh phân phối và hệ thống QUÁN TRÀ VIỆT
o Đảm bảo hương vị trà: Do trà là mộc, theo thuyết âm dương ngũ hành thì kim
khắc mộc, dùng ấm có lưới bằng kim loại sẽ làm mất hương vị trà, làm nước trà
sau khi pha có mùi tanh kim loại.
o Lưới gốm rẻ và có thể bỏ đi sau khi sử dụng tương tự túi lọc. Hơn nữa, gốm
cũng mang trong mình màu sắc truyền thống của dân tộc.
Bên cạnh đó vẫn duy trì cách đóng gói truyền thống nhằm giữ nhóm khách hàng truyền
thống của thương hiệu Trà Bà Tụng.
Mặt khác, trong phương thức tiến hành Marketing bán sản phẩm, dự án xây dựng cửa
hàng giới thiệu sản phẩm gắn liền với giới thiệu văn hoá Việt Nam (Chi tiết trình bày trong
phần kế hoạch Marketing). Nhằm lấy trà Bà Tụng làm cầu nối đưa văn hoá truyền thống
Việt Nam đến với quần chúng và nhờ văn hoá làm cầu nối sản phẩm Trà Bà Tụng đến với
khách hàng.
b. Phương thức tiến hành
Bước 1: Khảo sát xây dựng và thẩm định dự án
Bước 2: Tìm kiếm nhà đầu tư
Bước 3: Liên hệ các đối tác mới (Bao bì, nhãn mác, ấm gốm)
Bước 4: Tuyển dụng nhân công và sản xuất

- Do đã sản xuất và kinh doanh từ lâu nên đã cố định nhà
cung cấp nguyên liệu truyền thống và lượng khách hàng
cố định.
- Tên thương hiệu “Bà Tụng” cũng mang lại một cách gọi
truyền thống tạo cảm giác tin tưởng vào một thương hiệu
cổ truyền.
- Ý tưởng sản phẩm có phần cải tiến cách pha chế nhanh
chóng phù hợp với xã hội hiện đại (Dùng lưới lọc bằng
gốm nhằm bảo toàn hương vị trà và rút ngắn thời gian
pha chế)
Điểm yếu
- Hệ thống kênh phân phối chưa có,
chỉ mới có một cửa hàng phân phối
duy nhất ở Hải Dương.
- Mẫu mã bao bì chưa được thiết kế
mới phù hợp với thẩm mĩ hiện đại.
- Kiến thức và kỹ năng quản lý
doanh nghiệp của chủ sở hữu thương
hiệu chưa có hệ thống.
- Tiềm lực tài chính không mạnh.
Cơ hội
- Quy mô thị trường trong nước rộng lớn và gần như còn
bỏ ngỏ đối với các sản phẩm trà hương vị truyền thống.
- Thương hiệu trà Việt Nam truyền thống chưa có (Mới
chỉ có thương hiệu địa phương như Thái Nguyên, Lâm
Đồng, Mỹ Lâm ...), cách thức quảng cáo, quảng bá ở thị
trường trong nước vẫn yếu.
- Trà Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài chủ yếu dưới
dạng trà thô hoặc sơ chế, chưa có thương hiệu mạnh của
Việt Nam.

b. Kế hoạch giá (Price)
- Giá thị trường trung bình (Khảo sát tại Hà Nội)
o Trà đặc biệt: 10.000 – 20.000VNĐ/100g
o Trà loại I: 5000VNĐ/100g
o Trà túi lọc Lipton: 20.000VND/hộp 20 túi
- Giá thành sản xuất (Đã tính đóng gói):
o Trà loại I: 3.963VNĐ/100g
o Cách đóng gói mới bằng lưới gốm: 5500VND/100g (10g/ấm)
(chi phí lưới gốm 1500VND/100g)
- Định giá bán:
Phương pháp định giá cạnh tranh trong thời gian đầu, sau đó định giá bán linh hoạt
tuỳ theo kênh phân phối và cách thức phân phối qua hình thức chiết khấu đại lý.
Trên cơ sở giá thành sản xuất và giá sản phẩm tương tự trên thị trường, quyết định
định giá thành 3 giai đoạn:
o Giai đoạn xây dựng thương hiệu, định vị thị trường (Năm thứ nhất):
 Trà Bà Tụng : 5000VNĐ/100g (Bằng giá thị trường)
 Cách đóng gói mới: 7000VND/hộp 100g (gồm 10 lưới gốm, 10g/lưới)
{Giá cạnh tranh với Trà túi lọc 20.000VND/hộp 20 túi}
o Giai đoạn thương hiệu đã được định vị trên thị trường (năm thứ 2)
10
Dự án phát triển văn hoá Trà Việt và thương hiệu Trà Bà Tụng
Qua kênh phân phối và hệ thống QUÁN TRÀ VIỆT
 Trà Bà Tụng : 5000VNĐ/100g
 Cách đóng gói mới: 8000VND/hộp 100g (gồm 10 lưới gốm, 10g/lưới)
{Giá cạnh tranh với Trà túi lọc 20.000VND/hộp 20 túi}
o Giai đoạn thị trường ổn định (Năm thứ 3 trở đi)
 Trà Bà Tụng : 6000VNĐ/100g
 Cách đóng gói mới: 8000VND/hộp 100g (gồm 10 lưới gốm, 10g/lưới)
c. Kế hoạch địa điểm phân phối (Place)
- Dự án phát triển 3 kênh phân phối chính đến người tiêu dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status