Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng chuyân đề thực tập đề tài: "Đầu tư phát triển tại
Công ty cổ phần may Hồ Gươm" là công trình nghiên cứu độc lập của tôi sau quá
trình tham gia thực tập tại Công ty cổ phần may Hồ Gươm, dưới sự hướng dẫn tận
tình của PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu
nào. Các số liệu trong bài viết đều trung thực và cú nguồn gốc rị ràng.Nếu có điều
gì sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Ký tên
Nguyễn Thị Hoàn
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1: Tổng vốn đầu tư của Công ty giai đoạn 2006-2010 Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2 : Cơ cấu nguồn vốn tại công ty cổ phần may Hồ Gươm giai đoạn 2006-2010
Error: Reference source not found
Biểu đồ 3 : Vốn đầu tư của Công ty cổ phần may Hồ Gươm phân theo nội dung đầu
tư giai đoạn 2006-2010
Biểu đồ 4 : Đầu tư vào hàng tồn trữ tại công ty cổ phần may Hồ Gươm giai đoạn 2006-2010
Error: Reference source not found
Biểu đồ 5 : Vốn đầu tư vào khoa học công nghệ của công ty cổ phần may Hồ Gươm
giai đoạn 2006-2010 Error: Reference source not found
Biểu đồ 6 : Thu nhập bình quân tại công ty cổ phần may Hồ Gươm giai đoạn 2006-2010
Công ty cổ phần may Hồ Gươm
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị, cơ chú công ty cổ phần may Hồ
Gươm đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình thực tập, tìm hiểu về
hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
của PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập
này
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY HỒ GƯƠM
1.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần may Hồ Gươm
Công ty cổ phần may Hồ Gươm được thành lập theo quyết định số:
73/1999/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ngày ngày 16 tháng 11 năm
1999
Tân công ty: Công ty cổ phần may Hồ Gươm
Tên giao dịch bằng tiếng Anh: HOGUOM GARMENTSTOCK COMPANY
viết tắt là HOGARSCO
Địa chỉ: 201 Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam
Người đại diện: bà Ninh Thị Ty
Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Năm thành lập: 1992
Nhân lực: 3300
Loại hình công ty: Sản xuất, thương mại
Loại hình kinh doanh: xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh nội địa hàng may
mặc
Vốn đăng ký: 6,6 tỷ đồng. Trong đó tỷ lệ cổ phần của Nhà nước: 30% vốn điều
lệ, tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp: 70% vốn điều lệ
để cán bộ, công nhân ở đây phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm đưa Doanh
nghiệp phát triển từng bước vững chắc.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998, cạnh tranh trên thị trường
hàng may mặc ngày càng quyết liệt do sự phát triển ồ ạt hàng may giá rẻ của Trung
Quốc, Ấn Độ, các nước Nam Á. Giá gia công may giảm từ 30 đến 50%, cùng lúc thị
trường trong nước tràn ngập hàng nhập khẩu, hàng trốn lậu thuế, đẩy các DN may
đến bờ vực phá sản. Để thoát ra khỏi khó khăn, công ty đã mạnh dạn và kiên trì sắp
xếp lại bộ máy, tổ chức sản xuất hợp lý, chuyển từ sản xuất gia công mang nặng
tính thụ động về đơn hàng, giá cả sang tìm nguồn tiêu thụ sản phẩm, chủ động sản
xuất, kinh doanh. Công ty đã xây dựng được một định hướng phát triển vững chắc
trong từng giai đoạn, thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, đặc biệt là công tác quản
lý, sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư. Nhờ xây dựng được uy tín
thương hiệu, khách hàng từ các nước Âu, Mỹ, Nhật Bản đến với công ty ngày càng
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
nhiều, trong đó có những tên tuổi lớn như: Mango, Target Stores, Lee, Catimini,
South Pole, Jack Wolfskin
Năm 1992, Nhà nước quyết định thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
trong tình hình các doanh nghiệp này làm ăn thua lỗ lớn và bắt đầu có những dấu
hiệu đáng mừng. Giai đoạn 1996-2002, mô hình được mở rộng áp dụng trên phạm
vi toàn quốc. Nhà nước giao cho ban lãnh doanh nghiệp tự quyền quyết định. Nắm
bắt được cơ hội và thời cơ, năm 1999, trong khi các doanh nghiệp dệt may khác
trong nước còn e ngại, công ty may Hồ Gươm đã mạnh bạo đi tiên phong cổ phần
hóa . Năm 1999, quyết định được bộ trưởng bộ công nghiệp thông qua. Từ công ty
may Hồ Gươm, công ty chuyển thành Công ty cổ phần may Hồ Gươm và đứng
vững duy trì cho đến giờ.Từ sau Cổ phần hóa thành công (năm 2000) đến năm
2007, công ty đã mở rộng quy mô sản xuất, tăng thêm bảy xí nghiệp, trong đó ba xí
nghiệp tại Hưng Yên, hai xí nghiệp tại Hải Phòng, một xí nghiệp tại Thái Bình và
Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, công nghệ sản phẩm là nhân tố ảnh hưởng
đến việc quản lý nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng. Vì vậy, trước khi nghiên
cứu tình hình tổ chức và quản lý sản xuất của công ty, chúng ta đề cập tới quy trình
công nghệ sản xuất của công ty.
May Hồ Gươm là 1 công ty công nghiệp chế biến, đối tượng chế biến là vải
được cắt mà may thành rất nhiều mặt hàng khác nhau, kỹ thuật sản xuất các cỡ của
mỗi chủng loại mặt hàng lại có mức đôj phức tạp khác nhau, phụ thuộc vào mốt và
số lượng chi tiết của loại hàng đó. Do mỗi mặt hàng kể cả các cỡ vóc của mỗi mặt
hàng đó có yêu cầu kỹ thuật sản xuất riêng về loại vải cắt cho từng mặt hàng, nên
tuy chủng loại của mặt hàng khác nhau nhưng cùng được tiến hành trên cùng một
dây chuyền, không tiến hành đồng thời trong cùng một thời gian. Mỗi mặt hàng
được may từ nhiều loại vải khác nhau hoặc có nhiều mặt hàng được may từ cùng
một loại vải, do đó cơ cấu chi phí chế biến và định mức của mỗi loại chi phí cấu
thành sản lượng sản phẩm của từng mặt hàng có sự khác nhau.
Đặc điểm sản xuất của công ty Cổ phần may Hồ Gươm là sản xuất phức tạp
theo kiểu chế biến liên tục kết hợp với sản xuất kiểu song song, sản phẩm của công
ty là hàng may mặc do vậy có nhiều chủng loại hàng khác nhau. Tuy nhiên, nhìn
chung mọi sản phẩm đều phải trải qua nhiều giai đoạn sản xuất kế tiếp nhau theo
quy trình công nghệ sau:
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
Sơ đồ 1 : Quy trình sản xuất sản phẩm:
Về công tác tổ chức sản xuất:
Hiện nay công ty có 7 xí nghiệp thành viên đang di vào sản xuất:
- Tại Hà Nội, địa điểm 201Trương Định – Hà Nội: Xí nghiệp công suất
1000000 sản phẩm 1 năm với 400 lao động. Đây là xí nghiệp chuyên sản xuất
những mặt hàng thời trang chất lượng cao.
khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh thành phố Thái Bình.
Tổng cộng 7 xưởng may đang hoạt động 70 dây chuyền sản xuất cùng 2480
máy may các loại và hàng trăm các thiết bị phụ trợ khác. Có thể nói trên các dây
chuyền sản xuất của công ty có đủ tất cả các chủng loại máy móc thiết bị tiên tiến
nhất, đáp ứng yêu cầu sản xuất các mặt hàng do thị trường yêu cầu từ quần áo trẻ
em đến comple, vettong từ các loại nguyên liệu khác nhau: Vải dệt thoi, Vải dệt
kim, len dạ…
Tình hình và khả năng thị trường:
Cùng với việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, các
quan hệ bạn hàng và thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam ngày càng được
mở rộng tạo động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty may
mặc trong đó có công ty cổ phần may Hồ Gươm.
Dựa trên các quan hệ truyền thống và uy tín sẵn có của công ty trên trường
quốc tế, với thi trường xuất khẩu chủ yếu là Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật và một số
nước Trung Mỹ, Bắc Phi…. Nay việc chính phủ Việt Nam đã ký kết các hiệp định
song phương và đa phương với các nước sẽ tạo tiềm năng to lớn cho việc gia tăng
xuất khẩu hàng dệt may. Vì vậy công ty cần không ngừng ra tăng và mở rộng quy
mô sản xuất để đáp ứng được các đơn đặt hàng này.
1.1.1.3 Sơ đồ tổ chức và chức năng của các phòng ban
Công ty cổ phần may Hồ Gươm là đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập trực
thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam và có quyền quyết định tổ chức bộ máy quản
lý trong doanh nghiệp của mình
Để phù hợp với doanh nghiệp của mình và hoạt động có hiệu quả nhất công ty
đã tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình phân cấp từ trên xuống. Theo mô hình này
mọi hoạt động của công ty đều được lãnh đạo thống nhất, chịu sự chi phối của Hội
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
đồng quản trị và tổng giám đốc Theo sơ đồ trên mọi hoạt động của công ty đều chịu
nhiệm, bãi miễn Tổng giám đốc và cán bộ chủ chốt khác của công ty. Đứng đầu hội
đồng quản trị là chủ tịch hội đồng quản trị
* Tổng giám đốc: Là người đại diện pháp nhân của công ty, là người chịu
trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước
theo quy định hiện hành. Tổng giám đốc điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh theo chế độ một thủ trưởng, có quyền quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy
quản lý của công ty theo nguyên tắc gọn nhẹ, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh
doanh có hiệu quả tốt nhất.
* Phó tổng giám đốc: Là người giúp việc cho tổng giám đốc, được Tổng giám
đốc ủy quyền giải quyết các công việc cần thiết khi Tổng giám đốc đi vắng.
* Phòng tổ chức hành chính: Phòng có nhiệm vụ quản lý nhân sự của toàn
công ty, tham mưu cho lãnh đạo cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, các vấn đề hành
chính pháp chế. Tổ chức tiếp nhận công nhân mới vào công ty, giải quyết các chế
độ cho người lao động khi chuyển công tác hay nghỉ chế độ, đồng thời lập kế hoạch
đào tạo tiếp nhận nhân sự và nâng cao tay nghề công nhân. Đây cũng là phòng có
chức năng lập thuyết minh chính của các dự án đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh
của công ty
* Phòng kế toán – Tài chính: Quản lý đồng thời và huy động và sử dụng các
nguồn vốn của công ty sao cho đúng mục đích và hiệu quả cao nhất. Phòng có
trách nhiệm ghi chép các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình sản xuất của công ty,
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, lập các báo cáo như: báo cáo tổng
kết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh…. Ngoài ra còn phải
phân tích hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, nhằm mục đích
cung cấp thông tin cho người quản lý để họ đưa ra phương án có lợi nhất cho công
ty.
* Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụ kinh tế thương mại
trong nước và ngoài nước, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tổ chức việc vận chuyển
chuyên chở sản phẩm hang hoá, vật tư đạt hiệu quả cao nhất…. Đồng thời xây
dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh, điều chỉnh hoạt động kế hoạch sản xuất
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
Bảng 1: Năng lực sản xuất của các xí nghiệp thành viên:
STT Đơn vị Lao động
MMTB
các loại
Diện tích
nhà
xưởng
Mặt hàng
Năng lực (sản
phẩm/năm)
1. XN MAY 1 250 300 2,500 M
2
Small orders 1.000.000
2. XN MAY 2 990 655 6.672 M
2
Pants , Blazer, Vest 2.000.000
3. XN MAY 3 1.010 861 5.700 M
2
T-Shirt, Polo Shirts 2.000.000
4. XN MAY 5 510 512 2.133 M
2
Jeans, Skirts 2.000.000
5. XN MAY 6 250 500 3456 M2 Jacket, Blazer 1.000.000
6. XN MAY 7 900 1.083 2.532 M
2
Kaki,Dress, Pants, 1.000.000
tính
2006 2007 2008 2009 2010
Doanh thu Tr.đồng 116000 137000 191000 228000 284000
Kim ngạch XK 1000
USD
10832 13698 14.866 17849 19747
Lao động Người 2500 2600 3000 3200 3300
Lợi nhuận sau thuế Tr.đồng 3320 4030 4557 5422 6384
Nộp ngân sách Tr.đồng 1106 1343 1519 1807 2128
(Nguồn: Phòng kế toán)
Qua quá trình hình thành và phát triển, chúng ta có các đánh giá sau về tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty:
a, Về sản xuất:
Có chính sách tốt để duy trì khách hàng truyền thống, thúc đẩy xúc tiến để tìm
kiếm khách hàng mới, điều chỉnh chiến lược khách hàng, có chính sách thu hút
khách hàng lớn, kinh hoạt và chủ động về giá, cơ cấu lại mặt hàng thị trường, trú
trọng thị trường EU nhưng vẫn duy trì quan hệ hợp tác với các khách hàng Mỹ.
Ngoài các đơn hàng gia công truyền thống, trong năm qua Công ty cũng đã tìm
kiếm và ký kết được với một số khách hàng FOB lơn, trực tiếp để nâng cao tỷ lệ lợi
nhuận trên doanh thu, FOB Đức, FOB Revised.
Tập trung sắp xếp lại cơ cấu sản xuất cho phù hợp với tình hình thực tế, tinh
giảm các khâu phục vụ sản xuất, và khối phòng ban, tìm giải pháp khắc phục khó
khăn ổn định lao động và ổn định sản xuất, tập trung chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh bằng khoán doanh thu, khoán chi phí, thực hiện tiết kiệm.
Khuyến khích khen thưởng kịp thời, tổ chức ăn sáng, ăn ca, nâng cao đời sống
thu nhập cho người lao động.
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư phát triển tại Công ty cổ
phần may Hồ Gươm
Bất cứ một hoạt động đầu tư nào của Công ty đều sự điều chỉnh, tác động
của các nhân tố bên trong hoặc bên ngoài. Các nhân tố đó tạo ra định hướng cho
hoạt động đầu tư có hiệu quả, nằm trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với sự xu
hướng phát triển. Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của may
Hồ Gươm, trong đó, có các nhân tố chính như sau:
Thứ nhất, đó là hoạt động đầu tư chiụ ảnh hưởng của các quy định, chính
sách, luật pháp của Nhà nước bởi mọi hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam đều
chịu sự quản lý của pháp luật Việt Nam; các chính sách khuyến khích của Nhà nước
với ngành dệt may, các chiến lược phát triển của ngành, trong đó có các biện pháp
nhằm định hướng hoạt động cho các doanh nghiệp trong ngành. Sự hỗ trợ của Nhà
nước với ngành tuy có giảm dần cho phù hợp với các cam kết trong lộ trình gia
nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, tuy nhiên, vì dệt may là ngành Việt Nam
có lợi thế so sánh nên Nhà nước vẫn luôn dành sự quan tâm đích đáng cho ngành.
Hàng năm, Chính phủ đưa ra các định hướng phát triển, trong đó, quan tâm đặc biệt
tới phát triển nguồn nguyên liệu, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động đầu tư
tồn trữ nguyên vật liệu. Các chính sách phát triển ngành như phát triển hoạt động
đào tạo, phát triển thị trường… của Nhà nước cũng tạo ra tính tín hiệu tích cực để
Công ty đưa ra những quyết định phát triển
Thứ hai, Sự quan tâm, chỉ đạo của người “anh cả” - Tập đoàn dệt may Việt
Nam, đặc biệt là trong các định hướng đầu tư của Công ty. Tập đoàn dệt may luôn
giữ đúng vai trò là người đi tiên phong, soi đường, chỉ lối cho các doanh nghiệp
khác trong ngành noi theo. Bằng kinh nghiệm và khả năng của mình, tập đoàn dệt
may luôn luôn học hỏi, tìm tòi những hướng phát triển mới, nếu đem lại hiệu quả,
thì nó sẽ được nhân rộng ra toàn ngành. May Hồ Gươm là đơn vị trực thuộc tập
đoàn dệt may Việt Nam vì vậy mọi quyết định cũng như định hướng phát triển đều
được Tập đoàn quan tâm. Hiện nay, sự quan tâm của Tập đoàn đến Công ty giảm
Thị trường càng biến động nhiều thì Công ty càng đầu tư nhiều cho hàng tồn trữ.
Thứ năm: các đơn đặt hàng của khách hàng. Với đơn vị sản xuất gia công chủ
yếu như may Hồ Gươm thì hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của các đơn đặt hàng của
khách hàng, Khi số lượng các đơn đặt hàng tăng lên đáng kể, vượt qua năng lực sản
xuất hiện có, thì Công ty phải tính đến các biện pháp đùa tư mở rộng sản xuất, mua
sắm, cải tiến máy móc thiết bị, và các biện pháp nâng cao năng suất lao động
Thứ năm: Lợi nhuận để lại của Công ty. Đây là nguồn vốn tự có quan trọng
cho hoạt động đầu tư có hệ số an toàn cao nhất. Lợi nhuận để lại càng nhiều, thì
Công ty càng đầu tư mạnh.
Thứ sáu: Sự phát triển của thị trường khoa học – công nghệ và thị trường lao
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
động hứa hẹn mang lại hiệu quả lớn cho đầu tư.
1.2.2 Quy mô vốn đầu tư phát triển của công ty cổ phần may Hồ Gươm.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như hoạt động
đầu tư nói riêng, các doanh nghiệp đều phải bỏ vốn, lao động và một số yếu tố khác.
Tuy nhiên, xét trên nghĩa hẹp, ta chỉ xét đầu tư liên quan đến vốn thể hiện trong
việc huy động và sử dụng vốn có hợp lý không và một đồng vốn bỏ ra đem lại hiệu
quả như thế nào. Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn, do đó vốn đóng vai trị quan
trọng trong công cuộc đầu tư, là yếu tố phản ánh sức mạnh của Công ty thông qua
vốn đầu tư mà Công ty có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối, khả
năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn. Trong điều kiện vốn luôn luôn khan hiếm,
nhất là đối với các nước đang phát triển, việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Bảng 4: Quy mô vốn đầu tư phát triển tại công ty cổ phần may Hồ Gươm
giai đoạn 2006-2010
Năm Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng vốn đầu tư phát triển Triệu đồng 81135 120889 137789 147272 147159
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
khu đất xí nghiệp may Hưng Yên. Năm 2009, khối lượng vốn đầu tư phát triển đạt
mốc cao nhất đạt 147,272 tỷ đồng. Năm 2009 Công ty tiến hành dự án xây dựng xí
nghiệp may tại Bình Lục (Hà Nam) và dự án xây dựng trung tâm thương mại Mỗ
Lao bước vào giai đoạn xây dựng nên chi phí là rất lớn. Năm 2010 vốn đầu tư tuy
có giảm một chút so với năm 2009 nhưng vẫn ở mức cao. Dự án trọng điểm của năm
là dự án xí nghiệp may Cẩm Tú (Thanh Hóa) và tiếp tục 2 dự án vẫn còn dở dang là
dự án xí nghiệp may Hà Nam và dự án trung tâm thương mại cao cấp Mỗ Lao.
1.2.3 Vốn đầu tư phát triển của Công ty phân theo nguồn vốn
Để có đủ vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư, Công ty phải huy động từ nhiều
nguồn khác nhau. Vốn đầu tư phát triển của Công ty cổ phần may Hồ Gươm được
hình thành từ các nguồn sau:
• Nguồn vốn tự có: nguồn này bao gồm các nguồn vốn được hình thành
ngay trong nội bộ Công ty như: Vốn chủ sở hữu, vốn từ lợi nhuận để lại, vốn từ quỹ
khấu hao cơ bản hang năm. Nguồn vốn này có ưu điểm là đảm bảo tính độc lập, chủ
động, không phụ thuộc vào chủ nợ, hạn chế rủi ro về tín dụng.
• Nguồn vốn vay: nguồn này có thể được hình thành từ vay nợ hoặc phát
hành chứng khoán ra công chúng thông qua 2 hình thức tài trợ chủ yếu: tài trợ gián
tiếp thong qua các trung gian tài chính (ngân hang thương mại, các tổ chức tín
dụng…) hoặc tài trợ trực tiếp (qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt
động tín dụng thuê mua…). Tuy nhiên, với công ty cổ phần may Hồ Gươm thì kênh
huy động thứ nhất là hình thức chủ yếu. Tuy là công ty cổ phần nhưng may Hồ
Gươm không phát hành cổ phần ra công chúng nên không huy động qua thị trường
chứng khoán, cũng như không phát hành trái phiếu công ty để huy động vốn. Nguồn
vốn này của Công ty chủ yếu là vốn vay của ngân hang thương mại và vay của các
bạn hàng, trong đó, ngân hàng thương mại đóng vai trị chính.
• Nguồn vốn khác: Đây là nguồn vốn có được hình thành ngoài hai loại
nguồn vốn trên, nó bao gồm các khoản vốn chiếm dụng tạm thời của các bạn hàng
như các khoản ứng trước của khách hàng, các khoản nộp ngân sách nhưng chưa đến
Nguyệt
Qua bảng và biểu trên ta thấy thấy nguồn vốn của Công ty tăng dần theo thời
gian, tăng trên tất cả các loại nguồn vốn, trong đó khoản mục vốn vay tăng nhiều
nhất.
Vốn tự có tăng dần theo thời gian cho thấy khả năng cung cấp vốn cho đầu tư
của CÔng ty tăng dần theo thời gian, nó cho thấy Công ty có hướng đầu tư làm ăn
đúng đắn. Tuy có giá trị tuyệt đối tăng nhưng nguồn vốn này lại có tỷ trọng giảm
dần. trong 5 năm, tổng giá trị của nguồn vốn này là: 244634 triệu đồng, chiếm
38.57% trong cơ cấu nguồn vốn của Công ty. Năm 2006, nguồn vốn này chiếm
43,17%, đây là tỷ trọng cao nhất trong thời kỳ nghiên cứu. năm 2007, tuy là năm có
giá trị tuyệt đối tăng cao nhất là 11,53 tỷ đồng nhưng tỷ trọng của nó lại giảm
4,66%. Tỷ trọng tiếp tục giảm đến năm 2008, sau đó lại có xu hướng tăng dần tuy
nhiên, mới đạt 39,15%, còn kém năm 2006 4,02%. Về giá trị tuyệt đối thì lượng
tăng lại giảm dần. Vốn tự có với ngoài những ưu thế đã kể trên, nó còn là cơ sở để
Công ty có thể huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài. Sự gia tăng về mặt giá trị
tuyệt đối của nó chính là điều kiện cần thiết tăng lượng vốn vay cho Công ty.
Nguồn vốn vay là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất của Công ty. Trong cả
giai đoạn. tổng giá trị của vốn vay là: 325915 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 38.57% .
Vốn vay luôn là nguồn vốn quan trọng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng vốn đầu
tư. Đứng trên phương diện người sử dụng vốn, vốn vay tuy có ưu điểm có thể vay
với số lượng lớn (có thể lớn hơn rất nhiều khối lượng vốn tự có), nhưng việc phải
mất chi phí cộng với những điều kiện huy động khá ngặt nghèo. Tuy nhiên, đây vẫn
là kênh huy động được nhiều doanh nghiệp lựa chọn chứ không chỉ may Hồ Gươm.
Thành phần chính trong vốn vay của Công ty là vốn vay của các ngân hàng thương
mại và vay của các bạn hàng. Trong thời gian gần đây, may Hồ Gươm có quan hệ
tốt với các ngân hàng thương mại như ngân hàng đầu tư phát triển, ngân hàng ngoại
thương, ngân hàng công thương Việt Nam.
Trong thời kỳ nghiên cứu, khoản mục vốn vay tăng dần theo thời gian cả về
giá trị tuyệt đối và tỷ trọng. Nếu như năm 2006, giá trị của vốn vay là 36,236 tỷ
đồng, mới chiếm tỷ trọng 44,66% thì đến năm 2007, giá trị vốn vay đã tăng 27,172
4 Đầu tư marketing& thương hiệu 12120 12200 15340 12350 16500
5 Đầu tư phát triển nhân lực 180 230 250 350 500
6 Tổng vốn đầu tư 81135 120889 137789 147272 147159
(Nguồn: Phòng kế toán)
Vốn đầu tư phân theo các nội dung đầu tư của Công ty cổ phần may Hồ Gươm
sẽ được thể hiện sinh động hơn qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3 : Vốn đầu tư của Công ty cổ phần may Hồ Gươm phân theo nội dung
Nguyễn Thị Hoàn Kinh tế đầu tư 49C
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Bạch
Nguyệt
đầu tư giai đoạn 2006-2010
Nhìn vào bảng trên ta thấy tổng vốn đầu tư của Công ty cao nhất vào năm
2009 và 2010. Bởi trong thời gian này Công ty tiến hành rất nhiều dự án xây dựng
mở rộng sản xuất. Năm 2009 có dự án xây dựng khu trung tâm thương mai Mỗ Lao,
xây dựng xí nghiệp tại Hà Nam, chuẩn bị dự án xí nghiệp may Cẩm Thủy-Thanh
Hóa. Năm 2010 tiếp tục dự án xí nghiệp may Bình Lục (Hà Nam), dự án trung tâm
thương mại Mỗ Lao, nhưng quan trọng hơn là dự án may Cẩm Tú (Thanh Hóa) để
đầu năm 2011 đi vào sản xuất. Tuy có nhiều biến động nhưng nhìn chung vốn đầu
tư có xu hướng tăng lên theo thời gian cho thấy nhu cầu đầu tư của Công ty gia tăng
theo thời gian để đảm bảo cho sự phát triển không ngừng
Bảng 8: Cơ cấu vốn đầu tư của Công ty cổ phần may Hồ Gươm phân theo nội
dung đầu tư giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: %
Nội dung đầu tư 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng vốn đầu tư phát triển 100 100 100 100 100
Đầu tư vào tài sản cố định 65.82 76.89 73.23 73.65 68.84
Đầu tư vào hàng tồn trữ 14.09 10.34 10.96 13.44 15.17
Đầu tư phát triển thương hiệu 0.22 0.19 0.18 0.24 0.34
Đầu tư vào khoa học công nghệ 7.49 3.23 6.14 5.82 6.46