CÂU hỏi ôn tập LỊCH sử HÀNH CHÍNH - Pdf 27

Câu hỏi ôn tập lịch sử hành chính
Câu 1: Trình bày những cơ sở của sự hình thành nền hành chính
đầu tiên ở nớc ta thời đại Hùng Vơng - An Dơng Vơng?
Trả lời:
Nhà nớc là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp. Điều kiện
quan trọng số một để nhà nớc có thể ra đời đợc là trên cơ sở sản xuất
phát triển dẫn đến tình trạng phân hoá xã hội. Nhà nớc ra đời là sản
phẩm tất yếu của một xã hội mà mâu thuẫn không thể điều hoà đợc.
Đây là một quy luật chung của tất cả các nhà nớc trên thế giới, không
loại trừ bất cứ một quy luật nào cả. Và nhà nớc Văn Lang ra đời cũng
không nằm ngoài quy luật đó.
Công xã nông thôn là một hình thái kinh tế xã hội xuất hiện phổ biến
vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá độ sang
xã hội có giai cấp, là một trong những tiền đề cho sự hình thành nhà n-
ớc.
-Thời Hùng Vơng sức sản xuất phát triển đã gây ra nhiều biến động
xã hội và đa đến tình trạng phân hoá xã hội rõ nét vào giai đoạn văn
hoá Đông Sơn. Lúc này đã có kẻ giàu, ngời nghèo và tình trạng bất
bình đẳng đã in đậm trong khu mộ táng hay truyền thuyết dân gian và
th tịch cổ. Tuy nhiên, nó vẫn cha thật cao, cha thật sâu sắc nhng nó đã
tạo ra một cơ sở xã hội cần thiết cho quá trình hình thành nhà nớc Văn
Lang.
-Nhân tố thuỷ lợi và tự vệ cũng đã đóng vai trò rất quan trọng đa đến
sự hình thành lãnh thổ chung và tổ chức nhà nớc đầu tiên vào thời
Đông Sơn. Khi con ngời tiến xuống khai phá vùng đồng bằng Sông
Hồng và chọn thì uy tín và vai trò của Thục Phán - ngời thủ lĩnh kiệt
xuất của liên minh ngày càng đợc nâng cao. Kháng chiến thắng lợi,
Thục Phán đã thay Hùng Vơng tự xng là An Dơng Vơng lập ra nớc Âu
Lạc.
Tên nớc Âu Lạc bao gồm hai thành tố Tây Âu (Âu Việt) và Lạc Việt,
phản ánh sự liên kết của hai nhóm ngời Lạc Việt và Tây Âu. Nớc Âu

ta thấy không những về mặt không gian có sự mở rộng dần và tập
trung ở những đồng bằng ven các con sống lớn của Bắc Bộ, Bắc Trung
Bộ mà các khu c trú thờng rộng lớn từ hàng nghìn mét vuông cho đến
vài vạn mết vuông và tầng văn hoá dầy, nhất là giai đoạn Đông Sơn,
khu c trú đợc mở rộng hơn, có khu rộng tới 250.000 m
2
. Những khu c
trú rộng lớn đó là những xóm làng định c trong đó có một dòng họ
chính và còn có một số dòng họ khác cùng sinh sống. Những xóm làng
đó dựa trên cơ sở công xã nông thôn (chiềng, chạ, kẻ). Một công xã
bao gồm một số gia đình sống trên cùng một khu vực trong đó quan hệ
huyết thống vẫn đợc bảo tồn trong công xã bên cạnh quan hệ địa vực
(láng giêng).
Nớc Văn Lang đứng đầu là Hùng Vơng, giúp việc là lạc hầu và lạc t-
ớng. Cả nớc chia thành 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc). Đứng đầu mỗi bộ lạc
là lạc tớng hay còn gọi là Phụ đạo, bộ tớng. Nh vậy bộ một mặt thể
hiện sự phân chia c dân theo sự áp đặt của nhà nớc, mặt khác thể
hiện đó là đơn vị tu c tự phát nguyên thuỷ, hay nói cách khác, đơn vị
bộ mang tính nửa vời: vùng - bộ lạc hoặc thị tộc, bộ lạc - đơn vị
hành chính.
2
Dới bộ lạc là các công xã nông thôn, bấy giờ có tên là kẻ, chiềng, chạ.
Đứng đầu kẻ, chiềng, chạ là các bồ chính (già làng) bên cạnh bồ chính
có lẽ còn có một nhóm ngời hình thành một tổ chức có chức năng nh
một hội đồng công xã để tham gia điều hành công việc của kẻ, chiềng,
chạ.
Có thể sơ đồ hoá cơ cấu hành chính thời Hùng Vơng nh sau:
*Vua Hùng:
+Lạc Hầu.
+Lạc Tớng.

lạc tớng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua, thờng xuyên truyền
3
mệnh lệnh từ trên cuống. Khi có chiến tranh, Lạc tớng là thủ lĩnh quân
sự địa phuơng và chịu sự điều động của vua.
-Bồ chính là ngời đứng đầu công xã nông thôn.
Lực lợng vũ trang đã có quân đội thờng trực.
Có thể phác hoạ quá trình và con đờng hình thành, tổ chức bộ máy nhà
nớc Văn Lang - Âu Lạc nh sau:
+Thủ tĩnh ( liên minh bộ lạc ) > Vơng : Hùng Vơng, An Dơng Vơng
( Văn Lang, âu Lạc ).
+Tù Trởng ( Bộ Lạc ) > Lạc Tớng ( Bộ ).
+Tộc Trởng ( Công xã thị tộc ) > Bố chính ( Công xã nông thôn ).
Câu 3+7:
3.Trình bày đặc trng cơ bản của nền hành chính nớc ta thời Lý?
7.Đặc trng cơ bản của nền hành chính nớc ta thời Lý? Vai trò của
Lý Công Uẩn?
Trả lời:
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua dời đô từ Hoa L về thành Đại La
(1010). Khi dời đô thì trời quang, đẹp, thấy hình con rồng bay lên, Lý
Công Uẩn đồi thành Đại La thành Thăng Long. Việc dời đô đã chững
tỏ một tầm nhìn sâu rộng của ông trong việc xây dựng một sự nghiệp
lâu dài, phản ảnh thế đi lên của vơng triều và đất nớc.
-Hành chính triều Lý nổi bật là công việc xây dựng kinh đô Thăng
Long. Thành Thăng Long có vòng luỹ đất La Thành bao bọc, nơng vào
thế tự nhiên (hệ thống sông Tô Lịch). Thành mở ra 4 cửa: Tờng Phù
(Đông), Quảng Phúc (Tây), Đại Hng (Nam) và Diệu Đức (Bắc), có hào
bao quanh. Bên trong có hệ thống cung điện: càn Nguyên, Tập Hiền,
Giảng Võ, Long Trì (có đặt lầu chuông ở thềm điện này để xét xử nỗi
oan ức của dân), cùng các cung Thuý Hoa, Long Thụy. Sát với hoàng
thành về phía đông là khu chợ phố dân gian, gồm 61 phờng, quang

ớc, đổi 10 đạo thời Đinh - Lê thành các lộ, phủ.
Châu Cổ Pháp hộ Lý đổi thành phủ Thiên Đức
Cố đô Hoa L phủ Trờng Yên
Trấn Triều Dơng Châu Vĩnh An
Hoan Châu Châu Nghệ An
ái Châu Phủ Thanh Hoá
Trên địa bàn cả nớc có 24 phủ - lộ. Dới phủ là huyện và dới huyện là
hơng.
Cách gọi lộ, phủ, châu không thống nhất là do kiểu thức quản lý và
của triều đình đối với từng vùng dân c và địa lý có khác nhau. ở đồng
bằng Sông Hồng thì đợc gọi là lộ, phủ. ở miền núi thì gọi là châu hay
đạo. Vùng đất xa kinh đô nh Thanh Hoá và Nghê An thì lúc đầu gọi là
châu, sau gọi là phủ, còn gọi là trấn, trại thể hiện tính chất tập trung
của nhà nớc cha thật triệt để.
Đứng đầu phủ, lộ là tri phủ, phán phủ (có tài liệu ghi là thông phán).
Mỗi phủ (lộ, châu) bao gồm nhiều huyện. Ngời đứng đầu đơn vị hành
chính cấp huyện (quận) là huyện lệnh. Huyện bao gồm nhiều hơng, ở
kinh đô gọi là giai (nhai), miền núi gọi là sách hay động. Khi đi xa,
vua Lý thờng chọn một hoàng tử, thân vơng ở lại trấn giữ trông nom
kinh thành, gọi là Lu thủ kinh sự.
5
Chính quyền nhà Lý là một chính quyền sùng Phật, và thân dân. nhà
vua và quý tốc đã theo đạo Phật, đề cao t tởng từ bi, bác ái. Trong
triều, có hệ thống tăng quan, một số đựôc phong là Quốc s. Vua quan
có mối quan hệ gần gũi với dân chúng, thờng xuyên đợc tiếp cận dân
thờng trong các dịp lễ hội. Khi cần thiết ngời dân có oan ức có thể đến
điện Long Trì đánh chuông, xin đợc trực tiếp gặp vua. Lý Thánh Tông
tuyên bố Yêu dân nh yêu con, thờng thi hành chính sách khoan dung
khi xử kiện.
-Quân đội và pháp luật:

Linh, Bồ Chính (Quảng Bình, bắc Quảng Trị ngày nay). Các vua Lý
6
thể hiện chính sách , đa nhiều công chúa gả cho các thổ tù miền núi
để vừa ràng buộc họ vừa tạo sự ủng hộ hậu thuẫn.
-Chế độ thi cử, đào tạo quan chức:
Chế độ tuyển và cử vào ngạch quan chức đợc quy định rất chặt chẽ:
lấy con cháu trong hoàng tộc họ Lý con các quan lại, rồi mới đến dân
chúng.
Đặc trng của chế độ quan chức nhà Lý là có thể mau đợc chức tớc Vậy
cơ sở tạo ra hệ thống quan lại dốt nát, tham ô, tham những, đục khoét,
quấy nhiễu nhân dân.
Phong chức cho bên ngoại của vua (Hoàng hậu): An quốc phúc tông,
Phúc quốc (tả, hữu).
+Vai trò của Lý Công Uẩn:
Lý Công Uẩn là ngời châu Cổ Pháp (Từ Sơn - Bắc Ninh). Khi sinh ra
đã mồ côi, làm con nuôi của nhà s Lý Khánh Văn, sau đó đến học ở
chùa Lục Tổ của s Vạn Hạnh. Lớn lên đợc làm quan nhà Lê ở Hoa L.
Lúc đầu đợc cử chỉ huy quân điện tiền, thăng dần lên chức Tả thân vệ
điện tiền chỉ huy sứ. Lý Công Uẩn là ngời có học, có đức lại biết sử sự
đúng nên rất đợc triều thần nhà Tiền Lê quý trọng. Khi triều Lê chính
sự đổ nát, lòng ngời chán nản. Lê Long Đình chết, con trai còn nhỏ
nên cha làm vua đợc, cả triều đình tôn Lý Công Uẩn lên làm vua
(1009). Năm 1010 đặt niên hiệu là Thuận Thiên thứ nhất, xuống lệnh
đại xá cho thiên hạ.
Quyết định quan trọng đầu tiên của ông là dời đô từ Hoa L - một nơi
chật hẹp, kinh tế nông thơng còn thấp kém, giao thông vận tải gặp
nhiều khó khăn, vị trí giao thông của sông Đáy đẫ giảm sút không đủ
làm chỗ ở của đế vơng, muốn dời đi nơi khác. Về Đại La, nhà vua
soạn Chiếu dời đo trong đó có đoạn viết: Chỉ vì muốn đóng đô ở
trung tâm mu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu trên

đích đóng nơi trung tâm, mu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con
cháu đời sau. phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia độc lập,
chúng tỏ khả năng lòng tin và quyết tâm giữ vững nền độc lập của cả
dân tộc.
Năm 1054 nhà Lý đổi tên nớc là Đại Việt - lúc đó đất còn hẹp, dân còn
tha nhng là một nớc độc lập hoàn toàn và có đủ nsức mạnh để bảo vệ
nền độc lập dân tộc. Tên nớc cũng thể hiện một niềm tự tôn và ý thức
bình đẳng dân tộc sâu sắc.
Nhà Lý đã tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm phát triển kinh tế,
văn hoá của đất nớc, thi hành nhiều chính sách nhằm củng cố quyền
lực của nhà nớc tập quyền, đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị,
nhng cũng chăm lo đến sự phát triển kinh tế.
-Tổ chức bộ máy nhà nớc:
Bộ máy nhà nớc thời Lý đợc thiết lập từ trung ơng đến địa phuơng và
tập trung quyền hành vào tay quan chức: phẩm trật các hàng quan văn
võ đều có 9 bậc. Những chức quan cao cấp trong triều đình đợc chia
làm 2 ngạch: ngạch văn, nghạch võ. Các đại thần đứng đầu nghạch văn
thì có chức tham thái (s, phó, bảo) và tham thiếu, nghạch võ có chức
thái uý, thiếu uý và một số chứuc vị khác. Dới hàng quan văn thì có
chức Thợng th đứng đầu các bộ, ngoài ra còn có các chức khác: tả và
8
hữu tham tri, tả và hữu giám nghị, trung thu thị lang, bộ nhị lang tả và
hữu ty lang trung, tả và hữu phúc tâm. Bên cạnh đó còn có các điện
học sĩ, hàn lâm điện học sĩ đợc sắp xếp một cách đẩy đủ, chỉ tiết để
đảm trách việc cai trị hành chính. Quan đứng đầu cao nhất là phụ
quốc thái uý giúp vua coi các công việc đại quan trọng trong các nội
quan.
Quan võ ở triều đình có các chức: đô thống, nguyên suý, tống quan,
khu mật sứ, tả và hữu kim: ngô, thợng tớng, đại tớng, đô tớng, tớng
quân các vệ, chỉ huy sứ Chức quan nắm quyền binh cao nhất trong

9
Quân đội gồm bộ binh, thuỷ binh, kỵ binh, tợng binh. Ngoài các vũ
khí truyền thống đợc trang bị cho quân đội: giáo, mác, cung, nỏ,
khiên, còn có máy bắn đá.
-Chính sách quản lý kinh tế:
Vua nhà Lý ban chiếu miễn thuế nặng nề 3 năm liên tục để dân có sức
tăng gia sản xuất, ổn định đời sống. Ra chiếu thả tù nhân không phải
mắc tội lớn, cấp cho quần áo, lơng thảo cần thiết cho họ có điều kiện
quay trở về cộng đồng. Giai đoạn đầu nhà Lý đặc biệt coi trọng chính
sách tiết kiệm, bỏ các trò chơi ở ngày khánh tiết, bỏ yến tiệc, lễ hội tốn
kém. Bắt đầu sử dụng thởng công bằng ruộng đất, mở đầu là chính
sách Các vua Lý đều coi trọng chính sách phát triển nông nghiệp,
năm nào cũng làm lễ cày tịch điền để dân chúng hăng hái thi đua sản
xuất, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, đắp đê, làm thuỷ lợi,
phát triển nông nghiệp .
Năm 1069 Lý Thánh Tông đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành đế
trấn an bbờ cõi, bắt vua Chiêm Thành cống nộp. Triều đình - ỷ Lan
phu nhân thay vua thực hiện cứu đói cho dân, mở quốc khố phát chẩn
cho dân. Thay vua thực hiện nhiều chính sách táo bạo đúng đắn do đó
đẩy lùi đói kém, giặc giã, đợc lòng dân. Khi vua trở vể ỷ Lan luôn
nhắc nhở vua coi trọng chính sách phát triển nông nghiệp, trừng phạt
kẻ giết hại trâu bò để bảo tồn sức sản xuất.
Câu 5:
Đặc trng của nền hành chính nớc ta thế kỷ X? Đánh giá vai trò
của Lê Đại Hành hoàng đế?
Trả lời:
Thế kỷ X là một cái mốc quan trọng trong lịch sử Việt nam, nó khép
lại hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc và mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc. Nhà
nớc dân tộc và độc lập Việt Nam đã trở thành nền tảng ban đầu của
nhà nớc quan liêu Lý Trần, Lê sơ sau này và các nhà nớc sau bổ sung

Khúc Hạo là ngời đầu tiên xây dựng đợc nền hành chính nhà nớc tự
chủ của nớc ta từ trung ơng đến địa phơng.
+Sửa đổi lại chế độ điền, tô (chế độ ruộng đất), sủa đổi chính sách
thuế khoá nặng nề trớc đây của nhà Đờng ban bố áp đặt, thay vào đó là
chính sách bình quân thuế ruộng. Lập sổ hộ khẩu kê rõ quê quán để
quản lý nhân sự.
-Năm 930 nhà Nam hán - một trong 10 nớc cát cứ của Trung Quốc đã
chiếm lại Âu Lạc và cứ thứ sử cai trị. Chính quyền họ Khúc chấm dứt.
Song năm 931, Dơng Đình Nghệ là một tớng của Khúc Hạo đã lãnh
đạo nhân dân đánh bại quân nam Hán và giành lại độc lập. Ông vẫn x-
ng là tiết độ sứ, thủ phủ vẫn đóng ở thành Đại La (6 năm), tiếp tục
công cuộc tự chủ của họ Khúc, lo củng cố chính quyền vừa mới giành
lại đợc, phát triển dân tộc.
-Đầu năm 937, Dơng Đình Nghệ bị viên thuộc tớng phản bội là Kiều
Công Tiễn ám hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Ngô Quyền - con rể đã từ
chấu ái đem quân ra trừng phạt Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn cầu
cứu Nam Hán vua Nam hán tiến công xâm lợc Âu Lạc. Đợc sự ủng
hộ của nhân dân Ngô Quyền đã giết chết Kiều Công Tiễn và chuẩn bị
lực lợng để chiến đấu chống quân xâm lợc.
11
Chiến thắng Bạch Đằng 938 là cái mốc quan trọng chấm dứt hoàn toàn
ách đô hộ hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên độc lập lâu dài của đất nớc.
Năm 939 Ngô Quyền xng vơng đóng đô ở Cổ Loa và xây dựng một
chính quyền trung ơng tập quyền, bãi bỏ chế độ tiết độ sứ. ở địa ph-
uơng các châu, huyện đợc giữ nguyên. Các thứ sử nh Đinh Công Trứ
tiếp tục cai quản châu của mình. Giáp, làng vẫn là những đơn vị hành
chính cơ sở. Bên cạnh các xóm cổ truyền có một số làng mới hình
thành và một vài trang trại.
Tuy đã trải qua hơn 30 năm độc lập với 2 cuộc kháng chiến chống

12
nh quân sự. Dới vua là quan văn, võ, trong đó cao nhấ là Định quốc
công, ngoại giáp, thập đạo tớng quân, về sau có thêm các chức: Thái s,
đại tổng quản, thái uý, đô hộ phủ sĩ s, tả và hữu điện tiền chỉ huy sứ,
chi hậu
+Hệ thống đơn vị hành chính và chính quyền địa phơng cũng đợc tổ
chức đầy đủ. Ban đầu cả nớc chia thành 10 đạo. Năm 1002 Lê Hoàn
đổi 10 đạo thành lộ, dới có phủ, châu. Các lộ. châu đều có quản giáp,
thứ sử, trấn tớng trông coi. Nhằm bảo vệ quyền lực của dòng họ,
nhà vua đã cử các hoàng tử trông coi các châu về tất cả các mặt. Trừ
các nhà s, quan lại trong triều hầu hết là võ tớng.
+Về quân đội: Năm 1002 Lê Hoàn định quân ngũ, phân tớng hiệu làm
2 ban văn võ, tổ chức quân cấm vệ gồm 3000 ngời, trên trán có thích 3
chữ thiên tử quân. Bên cạnh đó còn có một số đạo quân tứ sơng,
canh giữ các cổng thành.
+Chính sách để phát triển kinh tế: Đào các sông ngòi để dẫn thuỷ nhập
điền phát triển giao thông. Thực hiện chính sách tịch điền để thu
thuế cho quốc khố. Hang năm vua vó làm lễ cấy tịch điền, thực hiện
chính sách trọng nông.
+Chính sách giáo dục: Trọng đãi và sử dụng những ngời có học rộng
tài cao, đặc biệt là tài thơ phú.
+Chính sách đối ngoại: Dùng chính sách mềm dẻo, khôn khéo nhng
kiên quyết để bảo vệ độc lập đất nớc. Về phía Nam, chỉ huy quân
chinh phạt Chiêm Thanh, bắt vua Chiêm quy phục, triều cống để giữ
yên bề cõi phơng Nam.
*Thời thuộc Đờng An Nam đô hộ phủ
-châu
-huyện
-hơng
-xã

nhà vua đích thân làm lễ tịch điền, đi vài đờng cày để nêu gơng. Phong
cấp đất đai cho các hoàng tử, quý tộc và quan lại. Bắt đầu thi hành
chính sách trọng nông, khuyến khích sản xuất nh đào vét các sông
kênh. Bên cạnh đó chú ý phát triển một số ngành nghề thủ công
nghiệp để phục vụ vua quan và quân đội, nhất là kinh đô Hoa L.
Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nớc có chủ quyền, ở Đại
Cồ Việt nửa sau thế lỷ X cũng đã manh nha những mầm mống của
một nền văn hoá mang tính dân tộc.
-Thê skỷ này suy tôn Phật giáo là Quốc giáo, các nhà s đợc sử dụng
nh những cố vấn cung đình và những nhà ngoại giao đắc lực của nhà
vua.
Các vơng triều Ngô - Đinh - Tiền Lê có thể coi nh một thời kỳ lịch
sử quá độ ngoại thuộc qua tự chủ đến độc lập. Những thập kỷ bản lề
đó đã bớc đầu thực hiện đợc sự nghiệp khôi phục độc lập, thống nhất
quốc gia, xây dựng chính quyền và đặt nền móng cho một nền văn hoá
dân tộc. Sự nghiệp đó sẽ đợc củng cố và phát triển lên một tầm cao
mới trong những thế kỷ tiếp theo.
+Vai trò của Lê Đại Hành hoàng đế:
Lê Hoàn là ngời Xuân Lập (Thọ Xuân - Thanh Hoá) quê gốc ở Thanh
Liêm (Hà Nội), cha, mẹ chết sớm, làm con nuôi một viên quan sát họ
Lê. Lớn lên, ông theo giúp Đinh Liễn, lập nhiều công trạng, khi nhà
Đinh thành lập, ông đợc phong chức Thập đạo tớng quân.
14
Năm 979 Đỗ Thích mu phản giết Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn vì
hiềm khích. Nội bộ triều đình lục đục, vua mới còn nhỏ. Đợc tin đó,
nhà Tống vội sai các tớng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hng đem quân
sang xâm lợc nớc ta.
Mùa thu 980 viên quan coi Lạng Châu cho ngời về kinh cấp báo tin
quân Tống chuẩn bị đánh xuống nớc ta. Dơng Thái hậu giao cho phụ
chính Lê Hoàn tổ chức cuộc kháng chiến. Lê Hoàn xng là phó vơng để

-Năm 980 sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh
sang Chăm pa đặt quan hệ hoà hiếu, nhằm yên mặt Nam để chống giặc
Tống. Vua Chăm pa cậy thế thùng mạnh bắt giữ sứ thần.
15
-Năm 982 khi đã đánh bại quân Tống, Lê Hoàn quyết định đem quân
đánh Chăm pa , tiến thẳng kinh đô, phá huỷ thành trì rồi rút quân về.
Quan hệ Việt - Chăm pa tạm yên.
Sau khi chiến thắng giặc Tống, Lê Hoàn dùng chính sách đối ngoại
khôn khéo, mềm dẻo để giữ yên bờ cõi, bảo vệ nền độc lập tự chủ của
đất nớc.
Bên cạnh đó, Lê Hoàn sử dụng một số vùng đã tịch thu đợc của các sứ
quân để làm ruộng tịch điền, phục vụ nghi lễ khuyến khích sản xuất
nông nghiệp và lấy thóc lúa đa vào kho nhà nớc sản xuất nông
nghiệp ngày càng ổn định và phát triển, đời sống nhân dân đợc đảm
bảo.
Lê Đại Hành có vai trò to lớn trong việc mở đầu một triều đại mới
- Nhà Tiền Lê đánh thắng quân xâm lăng bảo vệ độc lập của tổ quốc,
có những chính sách đúng đắn để phát triển kinh tế đất nớc, đa đời
sống nhân dân vào ổn đinh.
Câu 6:
Vấn đề cơ bản về cơng vực địa giới hành chính và các cấp hành
chính ở nớc ta trong 10 thế kỷ Bắc thuộc?
Trả lời:
1)Chính quyền đô hộ 179 TCN đến 39.
Sau khi chiếm đợc nớc Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất Âu Lạc vào
Nam Việt và chia ra làm 2 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Bắc
Trung Bộ). ở mỗi quận có một viên cai trị gọi là quan sứ hay điền sứ
với t cách là sứ giả của nhà vua.
Các lạc tớng đều dới quyền kiểm soát của hai viên quan sứ. Bên cạnh
các viên quan sứ còn có 1 viên chức quan võ (tả tớng) và một số quân

hành chính cấp quận chia thành các tào, đứng đầu là các duyên sử, tuỳ
từng quận mà có thế đặt thêm chức quan diêm quan, thiết quan (đúc
chế sắt), công quan (thu thuế thủ công nghiệp)
Các huyện thuộc quận, đứng đầu là huyện lệnh, huyện trởng do các lạc
tớng nắm giữ, ăn lơng nhà nớc. Dới huyện lệnh là 1 viên thừa (quan
văn) và 2 viên uý (quan võ) giúp việc. Bộ máy hành chính cấp huyện
cũng chia thành các tào chuyên trách.
Địa bàn nớc ta khi ấy nằm trên 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật
Nam.
+Quận Giao Chỉ chia ra 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lâu, Mê
Linh, Khúc Dơng, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên.
Theo Đào Duy Anh: Quận Giao Chỉ ở đời Hán là đất Bắc Bộ ngày
nay, trừ miền Tây Bắc còn ở ngoài phạm vi thống trị của nhà Hán, 1
góc tây nam tỉnh Ninh Bình bây giờ là địa đầu của quận Cửu Chân và
một dải bờ biển từ Thái Bình Kim Sơn (Ninh Bình) bấy giờ cha đợc
bồi đắp, lại phải thêm, vào đấy một vùng về phía tây nam Quảng Tây.
+Quận Cửu Chân chia làm 7 huyện: T Phố, C Long, Đô Lung, D Phát,
Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên.
+Quận Nhật Nam gồm 5 huyện: Chu Ngô, Tỷ ảnh, Lê Dung, Tây
Quyển, Tơng Lâm.
2)Hành chính thời tự chủ Hai Bà Trng (40 - 43)
Nhân dân châu Giao chống lại ách thống trị của nhà Đông Hán, bắt
đầu từ cuộc khởi nghĩa to lớn của nhân dân Giao Chỉ cùng với quận
Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố dới sự lãnh đạo của Hai Bà Trng và
17
giành đợc thắng lợi Trng Trắc lên làm vua đóng đô tại Mê Linh.
Trên thực tế thì chính quyền Hai Bà Trng chỉ cai quản đợc 2 quận Giao
Chỉ, Cửu Chân là địa vực Âu Lạc cũ thời các vua Hùng, vua Thục. Tr-
ng Vơng xá thuế 2 năm liền cho nhân dân. Song vì tồn tại trong một
thời gian ngắn, chính quyền Hai Bà Trng cha thể xây dựng một hệ

huyện Dơng Thành (Nghi Lộc, Nghi Xuân, Việt Thờng), Phù Lĩnh
(Can Lộc), Khúc T (phần phía nam Hà Tĩnh).
5)Từ 280 - 420
Năm 280 nhà Tần diệt đợc nhà Ngô, thống nhất Trung Quốc đã mở
rộng địa giới quận Cửu Đức cho đến Hoành Sơn, đặt thêm huyện Nam
18
Lăng và Đô Giao (tơng đơng với Nghi Xuân, Hơng Sơn, Hơng Khê,
Thạch Hà - Hà Tĩnh).
6)Từ 420 - 588
Nhà Tần suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều. Đất
nớc ta bị đặt dới ách đô hộ của Nam triều (các triều Tống, Tề, Lơng,
Trần).
Năm 470 nhà Tống tách Hợp Phố sáp nhập vào nội địa Trung Quốc.
Bản đồ Giao Châu còn lại trong phạm vi vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
ngày nay. Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn gọi là Cửu Đức. 523, nhà Lơng
đặt thêm ái Châu ở Thanh Hoá, đổi Cửu Đức thành Đức Châu, đặt
thêm 2 châu mới là Lợi Châu và Minh Châu.
535 đặt thêm châu mới là Hoàng Châu (ven biển Giao Chỉ - Quảng
Ninh). Cùng với thay đổi các đơn vị hành chính là việc tổ chức chặt
chẽ hơn bộ máy thống trị của chính quyền đô hộ. Đứng đầu vẫn là
chức thứ sử (châu mục). ở quận vẫn có chức thái thú và bộ máy quan
lại gồm trởng lại, lục sự, công tào cai quản. Đứng đầu huyện là các
chức huyện lệnh do ngời Trung Quốc đảm nhiệm.
-Giao Châu đợc chia làm 8 quân.
+Giao Chỉ: 14 huyện, 12000 hộ.
Long Biên, Câu Lâu, Vọng Hải, Liên Lâu, Tây Vu, Vũ Nunh, Chu
Diện, Khúc Dơng, Ngô Hng, Bắc Đái, Kê Từ, An Định, Vũ An, Quân
Bình.
+Tân Xơng: 6 huyện, 3000 hộ
Mê Linh, Gia Hng, Ngô Định, Phong Sơn, Lâm Tây, Tây Đạo.

Năm 589 nhà Tuỳ đổi Hng Châu làm Phong Châu, đổi Hoàng Châu
làm Ngọc Châu, Đức Châu làm Hoan Châu, Lợi Châu làm Trí Châu.
603 nhà Tuỳ chinh phục Chau Giao. Năm 607 nhà Tuỳ bỏ đơn vị hành
chính châu, chia Châu Giao thành 6 quận trực thuộc triều đình trung -
ơng (Lịch sử nhà nớc và pháp luật).
Quận Giao Chỉ (gồm 9 huyện), Cửu Chân (7 huyện), Nhật Nam (Nghệ
Tĩnh 8 huyện), Tỷ Cảnh (Tỷ ảnh - Chiêm Thành - 4 huyện). Lâm ấp
(Thừa Thiên Huế 4 huyện).
6 quận: 36 huyện thị sở đặt ở Tống Bình - Hà Nội.
9)Từ 618 - 907
Năm 618 nhà Tuỳ đổ, nhà Đờng thành lập ở Trung Quốc, thái thú
Khâu Hoà (của nhà Tuỳ) giữ Giao Châu xin thần phục nhà Đờng. Từ
đó 904 Giao Châu đã bị nhà Đờng đô hộ. Nhà Đờng đổi các quận
thành châu nh cũ. 622 nhà Đờng đổi Giao Châu thành An Nam tổng
quản phủ. 679 đặt An Nam đô hộ phủ để cai quản nớc ta.
Bấy giờ An Nam đô hội phủ cai quản 12 châu:
+Giao Châu nay ở đất Hà Nội, Nam Định có 8 huyện: Tống Bình,
Nam Định, Thái Bình, Giao Chỉ, Chu Diên, Long Biên, Bình Đạo, Vũ
Bình.
+Lục Châu: sau là Quảng Yên, Lạng Sơn gồm 3 huyện: Ô Lôi, Hoa
Thanh, Ninh Hải.
+Phúc Lộc Châu gồm 3 huyện có lẽ ở miền nam Hà Tĩnh và miền
Quy Hợp, Ngọc Ma ở phía tây Hoành Sơn.
+Phong Châu: Gia Ninh, Thừa Hoá, Tân Xơng.
+Thanh Châu: Thanh Tuyền, Lục Thuỷ, la Thiều.
+Trờng Châu có 4 huyện nay thuộc Ninh Bình.
20
+Chi Châu (7 huyên): Hàn Thành, Phú Xuyên, Bình Tây, Lạc Quang,
Lạc Diêm, Đa Vân, Tu Long.
+Võ Nga Châu (7 huyện): Võ Nga, Nh Mã, Võ Nghĩa, Võ Di, Võ

trớc hết là tổ chức chính quyền của dòng họ Trần. Vua Trần tự đề câo
vị trí bản thân, đồng nhất ngôi vua với đất nớc.
1250 Thái Tông xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là nâng cao hơn
tính chuyên chế và tập trung của triều đình. Để đảm bảo vững chắc vị
trí và khả năng nắm chính quyền trong tay vua, tránh những vụ tranh
ngôi trong nội bộ hoàng tộc, và cũng để cho vua trẻ điều khiển chính
21
quyền vững vàng, nhà Trần áp dụng chế độ Thái thợng hoàng. Vua cha
chỉ làm việc một số năm rồi truyền cho con, còn bản thân lui về Tức
Mặc (Nam Định) giữ t cách cố vấn. Quyền hành của Thái thợng hoàng
rất lớn không chỉ có quyền chỉ định ngời kế vị mà khi cần có thể truất
bỏ ngôi vua.
Để củng cố vơng quyền, nhất là trong những thời kỳ đầu, nhà Trần đã
thực hiện một nền chuyên chính dân chủ dòng họ. Tầng lớp quý tộc
tông thất nắm độc quyền lãnh đạo quốc gia. Các chức vụ chủ chốt
trong triều đình (nhất là về võ quan, nh các tớng lĩnh trong cuộc kháng
chiến chống Nguyên) đều do các ngời họ hàng thân cận với nhà vua
nắm giữ. Để đề phòng nạn ngoại thích, nhà Trần thực hiện chế độ hôn
nhân đồng tộc. Nhiều nhà vua và vơng hầu tôn thất nhà Trần đã lấy
những ngời trong họ hàng đôi khi khá gần gũi (Trần Thái Tông lấy chị
dâu, Trần Thủ độ lấy chị họ ). Mặt khác, các vua Trần cũng hết lòng
thơng yêu đùm bọc các vơng hầu tôn thất.
Nền quân chủ quý tộc dòng họ.
2) Biến đổi và phát triển nền hành chính
Họ Trần tuy đã nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong triều đình và một
số lộ phủ quan trọng, nhng số lợng ngời và năng lực có hạn, vẫn phải
xây dựng bộ máy hành chính từ trung ơng địa phơng, thu nhận
nhiều ngời thuộc các tầng lớp. Nhà nớc này là khối liên kết của dòng
họ Trần với bộ phận quan liêu ở các cấp chính quyền khác nhau và
ngày càng mở rộng về phơng thức tổ chức và cơ chế vận hành của nhà

cai cấp của cơ quan này thờng do nguời trong nội mật viện kiêm
nhiệm nh Đinh Củng Viên thời Trần Nhân Tông làm Hàn lâm phụng
chỉ.
Nhà Trần chú ý tăng cờng các cơ quan thanh tra, giám sátvà toà án.
Thăng Long có Ngự sử đài gồm các chức: Thị ngự sử, giám sát ngự sử,
ngự sử trung tán, ngự sử trung thừa, ngự sử đại phu với chức năng giữ
gìn phong hoá, pháp độ. Cạnh cơ quan ngự sử đài còn có Đăng văn
kểim sát viện và các qiam gián nghị đậi phu tả, hữu nạp ngôn. Sau
chiến tranh chống Mông Nguyên có thêm bộ phận thanh tra kiểm soát,
ở các địa phơng phủ lộ, đặt thêm các ti liêm phóng.
Ngoài các cơ quan trên, còn đặt các cơ quan phụ trách riêng một số
công việc nh Quóc sử viện biên soạn quốc sử (ngời phụ trách đầu tiên
là bảng nhãn Lê Văn Hu), Quốc tử viện (tức Quốc tử giám) giảng dạy
các hoàng tử, vơng hầu ở Thăng Long và Tức Mặc, Thái y viện trông
coi thuốc men, chữa bệnh trong hoàng cung, và tông nhân phủ theo dõi
các hoàng tộc.
Các chức vụ quan trọng trong triều lúc đầu là do các quý tộc tông thất
nắm giữ, sau do nhu cầu chuyển dần sang giới quan liêu.
b)Các địa phơng
Nhà Trầntổ chức chính quyền làm 3 cấp: phủ- lộ, huyện - châu, hơng -
xã. Đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Thiên Trờng (nam Hà), Long Hng
(Thái Bình), Quốc Oai (Hà Tây), Bắc Giang (Bắc Ninh - Bắc Giang),
Hải Đông (Quảng Ninh và một phần Hải Dơng), Trờng Yên (Ninh
Bình), Kiến Xơng (đông Thái Bình), Hồng (phần Hải Dơng), Khoái
(phần Hng Yên), Thanh Hoá (Thanh Hoá), Hoàng Giang (phần đất Hà
Nam), Diễn Châu (bắc Nghệ An). Thế kỷ XIV, nhà Trần còn đặt các
23
phủ: Lâm Bình (Quảng Bình và Quảng Trị), Thái Nguyên (Bắc Cạn,
Thái Nguyên, Cao Bằng), Lạng Giang (Bắc Giang, Lạng Sơn).
1307 đổi 2 châu Ô, Lý, thu nạp Chăm p thành châu Thuận và châu

tuổi trở lên là lão hạng. Hàng năm vào mùa xuân, chính quyền hơng,
xã kiểm tra nhân khẩu để báo lên trên.
c)Phơng thức tuyển chọn quan lại
Quan lại đời Trần đợc tuyển dụng qua các phơng thức nhiệm tử (tập
ấm), tuyển cử (giới thiệu và bảo lãnh), khoa cử (qua các kỳ thi). Nhà
Trần cũng đã định ra lệ khảo duyệt (khảo khoá) các quan theo định kỳ.
Vai trò của tầng lớp nho sĩ quan liêu trong bộ máy chính trị thời Trần
24
lúc đầu là khiêm tốn, càng ngày càng gia tăng trong những thời kỳ sau.
Tuy nhiên, nhà Trần cha câu nệ về tiêu chuẩn khoa bảng, mà căn cứ
chủ yếu vào thực tài, tinh thần đã đợc ngời đời sau khen ngợi.
d)Tổ chức quân đội
Nhà Trần thay nhà Lý, một sức bật mới nhanh chóng ổn định trật tự xã
hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng cờng luật quân sự đủ sức đa
đất nớc vợt qua trở ngại, bảo vệ độc lập dân tộc.
-Về tổ chức, phiên chế: quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ.
Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên
binh.
Năm 1239 Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng làm binh chia làm
3 bậc: thợng, trung, hạ. Nhà Trần đặc biệt chú ý cấm quân, gọi là quân
túc vệ. Bộ phận cấm quân của nhà Trần ngày càng đợc tăng thêm,
phiên chế càng phức tạp và chặt chẽ hơn. Bộ phận này có 8 quân, đứng
đầu mỗi quân là 1 đại tớng quân. Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô
có chánh phó đại đội. Mỗi đô lại có 5 ngữ, chỉ huy mỗi ngũ là đầu ngũ
(mỗi quân có khoảng 2400 ngời). Trong cuộc hội quân của Trần Quốc
Tuấn ở Vạn Kiếp (1248) số quân lên tới 20 vạn ngời. Nhng trong thời
bình, số quân thờng trực giảm nhiều qua chính sách "ngụ binh nông"
cho quân sĩ luân phiên về cày ruộng.
Cấm quân là nòng cốt cho các binh lính khác, có thích 3 chữ "thiên tử
quân" lên trán, do tổn thất hoặc ngời đợc đặc biệt tin tởng nh Phạm


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status