Phần 1- MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vụ đông ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của
từng hộ nông dân. Nếu như trước kia mục đích chính của nó là đáp ứng nhu cầu lương thực, thực
phẩm trong xã thì hiện nay vụ đông đang trở thành vụ sản xuất chính của các hộ nông dân. Ngoài
ra vụ đông còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động đang dư thừa hiện nay ở nông
thôn, tăng nguồn nguyên liệu cho chế biến và là biện pháp quan trọng để góp phần tăng độ phì
nhiêu cho đất.
Ớt là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao thuộc họ cà, ớt được tiêu thụ dưới
dạng tươi, khô, bột ớt và tương ớt. Không những được tiêu thụ ở nội địa trên khắp các vùng, miền
mà còn là một loại hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế với đầu ra chủ yếu là Đài Loan, Trung Quốc,
Hồng Kông và các nước châu Á, đặc biệt là cây ớt vụ đông. Hiện nay các giống ớt vụ đông có giá
trị kinh tế cao như giống ớt kim, giống ớt hotchili, redchili ( giống Hàn Quốc) đều được xã
Quỳnh Hải gieo trồng và thu được lợi nhuận cao. Vì vậy phát triển cây ớt vụ đông đang là cơ hội
để nông dân tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống; góp phần tăng lượng nông sản hàng hóa xuất
khẩu.
Quỳnh Hải là một xã thuần nông nằm ở phía đông nam huyện Quỳnh Phụ, với điều kiện tự
nhiên, kinh tế -xã hội ổn định rất thích hợp cho phát triển cây ớt vụ đông nói riêng mà các loại
cây rau màu khác nói chung. Với hầu hết hộ sản xuất ở Quỳnh Hải, giờ đây vụ đông đã trở thành
vụ sản xuất chính đem lại nguồn thu nhập cao cho họ, trong đó nguồn thu nhập từ ớt vụ đông
chiếm phần lớn. Hai vụ lúa được rút ngắn thời gian tối đa để tận dụng thời gian sản xuất vụ đông.
Nhiều người đã ví Quỳnh Hải như Đà Lạt thu nhỏ bởi ở đây cây màu được trồng quanh năm,
chủng loại rất phong phú, đa dạng. Là xã đầu tiên của huyện đạt chỉ tiêu mô hình “cánh đông 50
triệu”, trong đó hiệu quả từ vụ đông, đặc biệt là từ việc trồng ớt đem lại là rất cao. Với mức chi
phí đầu vào cộng tiền công chăm sóc ít, người dân thu được mức lợi nhuận cao, trung bình từ 3-4
triệu/ sào ớt vụ đông.
Do đó, nghiên cứu thực trạng phát triển cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải để từ đó tìm ra
nguyên nhân của những kết quả đã đạt được và những khó khăn cần phải khắc phục, rồi tìm ra
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cây ớt vụ đông. Đó là lý do mà em
chọn đề tài : “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây ớt vụ đông tại xã Quỳnh
Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình”
Quỳnh Hồng, là một xã có diện tích trung bình so với diện tích của huyện. Với vị trí này tạo điều
kiện cho xã giao lưu phát triển kinh tế- xã hội của xã, đặc biệt là giáp với thị trấn Quỳnh Côi, là
trung tâm kinh tế - xã hội của huyện Quỳnh Phụ.
Địa hình
2
Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ thích hợp cho sản xuất nông
nghiệp đặc biệt là trồng trọt, hệ thống giao thông, thủy lợi tương đối thuận lợi, đường thủy có
sông Lương Vân Hải nằm ở phía Tây Bắc của xã, sông Sành nằm ở phía Đông Nam tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tưới tiêu, phát triển sản xuất nông nghiệp của xã
Khí hậu, thời tiết
Quỳnh Hải là một xã thuộc huyện Quỳnh Phụ và nằm gần trung tâm nhiệt đới gió mùa, mỗi
năm có 4 mùa rõ rệt.
- Về nhiệt độ: Cả năm là 8320 độ C- 8500 độ C, nhiệt độ cao nhất là 38.5 độ C vào tháng 7
và tháng 8, nhiệt độ thấp nhất là 7 độ C vào tháng 1 và tháng 2.
- Về lượng mưa: Trung bình lượng mưa hàng năm từ 1500 đến 1900 mm, cá biệt có những
năm lớn hơn 2000 mm. Mưa tập trung vào tháng 7 và tháng 8 chiếm tới 70% lượng mưa cả năm.
Tháng mưa ít nhất là tháng 11 và tháng 12.
- Về độ ẩm không khí: Bình quân độ ẩm không khí cao nhất là tháng 2 và tháng 3 lên tới
100%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11 và tháng 12. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau, và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Vào mùa khô có gió mùa đông bắc, không khí lạnh mưa phùn và thiếu ánh sáng, thường
xuất hiện sương muối làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng vụ đông trong đó có ớt.
Nhận xét chung
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên( thời tiết, khí hậu). Nhìn
chung, điều kiện tự nhiên ở xã Quỳnh Hải rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là
phát triển cây vụ đông, tuy nhiên những khó khăn mà điều kiện tự nhiên đem lại cũng không phải
là nhỏ như lũ lụt, sương muối… làm thiệt hại đến năng suất, chất lượng của các cây vụ đông,
giữa tháng 10 vừa qua, Thái Bình cũng bị ảnh hưởng từ cơn bão số 10 làm ảnh hưởng đến việc
sản xuất các cây vụ đông. Do đó, công tác chỉ đạo và tổ chức sản xuất như: lịch thời vụ, cơ cấu
cây trồng… phải được nghiên cứu kĩ lưỡng mới có thể hạn chế được rủi ro và nâng cao hiệu quả
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Diện
tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện
tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện
tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện tích đất tự nhiên 635 100 635 100 635.3 100
I. Đất nông nghiệp 479 75 478 75 477.4 75
1. Đất sản xuất nông
nghiệp 459 72 458 72 457.4 72
2. Đất nuôi trồng thủy sản 20 3 20 3 19.97 3
II. Đất phi nông nghiệp 156 25 157 25 157.2 25
1. Đất ở 37.9 6 37.9 6 38.17 6
2. Đất chuyên dùng 108 17 107 17 108.2 17
III. Đất chưa sử dụng 0.67 0 0.67 0 0.67 0
IV. Một số chỉ tiêu BQ
Đất NN/ hộ NN 0.246 0.238 0.245
Đất NN/ khẩu 0.058 0.058 0.057
Đất NN/ lao động NN 0.23 0.23 0.23
4
lao
động 2468 54 2382 54 2456 54
IV.Một số chỉ tiêu
BQ
Khẩu/hộ 3.98 3.93 3.91
LĐ/hộ 2.22 2.12 2.14
Khẩu/LĐ 1.79 1.86 1.83
Nguồn: tổng hợp từ báo cáo UBND xã
Số khẩu/ hộ (3,9%), số lao động/ hộ (2,1%), số khẩu/ lao động (1,8%) qua 3 năm đều ổn
định, không có sự thay đổi lớn.
Bảng : Cơ cấu lao động theo nhóm tuổi của xã qua 3 năm(06-08)
5
Diễn giải
2006 2007 2008
So sánh (%)
SL
(Người)
CC
(%)
SL
(Người)
CC
(%)
SL
(Người)
CC
(%) 07/06 08/07 BQ
Tổng số
2105 100 2050 100 2095 100 97 102 100
15- 24 tuổi
(%)
07/06
(%)
08/07
(%)
BQ
(%)
I. Tổng giá
trị sản xuất
96811 100 11232
2
100 12914
0
100 115.93 114.9 115.45
1. Ngành
NN
45008 46.46 53776 47.88 61966 46.54 119.4 103.03
117.33
2. Ngành
CN
24660 25.45 29150 25.95 33606 25.24 118 120.4
116.74
3. Ngành
TM-DV
27213 28.09 29400 26.17 33568 25.21 108.04 127.78
111.06
II. Một số
chỉ tiêu
bình quân
Tổng
Điều kiện cơ sở hạ tầng
- Hệ thống thủy lợi: có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
trong trồng trọt, trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân xã Quỳnh Hải đã xây dựng hệ thống
kênh mương nội đồng có khoảng 35.000 m, mới được cứng hóa 3600 m bằng nguồn vốn Nhà
nước hỗ trợ, nguồn vốn từ đầu tư cánh đồng 50 triệu và nguồn vốn nhân dân tự đóng góp.
Về hệ thống mương máng thủy lợi khác: hiện nay hợp tác xã (HTX) đang quản lý và sử
dụng trên 100 cầu cống phục vụ sản xuất và trên 10000 m kênh mương cấp 1, cấp 2. Trong đó có
45 cầu cống kiên cố đã được lắp đặt hệ thống cánh cống dàn ty van. Song số hệ thống cầu cống bị
xuống cấp nghiêm trọng và nhiều mương máng, sông dẫn bị ách tắc lâu ngày không được nạo
vét, tu sửa nên còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình chỉ đạo và tổ chức sản xuất.
- Hệ thống giao thông: nhìn chung đều thuận tiện, toàn bộ đường trong xã đã được cứng
hóa, bê tông hóa. Hiện nay trên toàn xã có 5km đường nhựa còn lại là đường bê tông và vật liệu
cứng, tạo điều kiện cho vận chuyển hàng hóa từ xã đi các vùng lân cận.
- Công trình thủy lợi: Xã có 6 trạm bơm điện, có một trạm bơm điện do xí nghiệp thủy
nông quản lý và 5 trạm do xã quản lý, 100% người dân được sử dụng điện.
- Công trình phúc lợi: hệ thống trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, sân vận động và bưu
điện đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Đến nay xã có 1 trường cấp 1, 1 trường cấp 2, mỗi
thôn đều có nhà trông nuôi trẻ, 1 trạm y tế và 1 bưu điện.
7
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Xã Quỳnh Hải là một xã thuần nông, thu nhập chủ yếu của người dân nơi đây là từ nông
nghiệp. Xã có 7 thôn nhưng chỉ có các thôn An Phú 1, An Phú 2 và thôn Lê Xá là trồng nhiều ớt
nhất, do đó nên tôi tiến hành chọn 3 thôn này. Trong đó tiến hành điều tra 7 hộ thôn Lê Xá, 4 hộ
thôn An Phú 1 và 4 hộ thôn An Phú 2. Như vậy tổng số hộ được điều tra là 15 hộ.
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Đối với tài liệu thứ cấp: Tham khảo trên các sách báo, internet và các báo cáo khoa học có
liên quan ở các phòng ban chuyên ngành của xã, các bản báo cáo kết quả sản xuất vụ đông qua
các năm…
- Đối với tài liệu sơ cấp: Hỏi trực tiếp cán bộ xã và các trưởng thôn đồng thời tiến hành
3.1 Thực trạng phát triển cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ
3.1.1 Khái quát tình hình sản xuất cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải qua 3 năm (06-08)
Là một xã thuần nông, thu nhập chính đều phụ thuộc váo sản xuất nông nghiệp, do đó
Quỳnh Hải luôn cố gắng tìm mọi biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Hiện
nay xã Quỳnh Hải đang sản xuất các cây vụ đông phục vụ nhu cầu trong nước và nước ngoài,
trong đó cây ớt được người dân nơi đây trồng nhiều nhất, bởi nó đem lại nguồn thu nhập cao với
mức đầu tư ban đầu ít. Cây ớt được trồng vào vụ đông là chính. Trong những năm qua diện tích
ớt vụ đông liên tục tăng và chiếm phần lớn diện tích đất sản xuất vụ đông. Trước đây, người dân
Quỳnh Hải chủ yếu một năm hai vụ lúa, còn rau màu vụ đông không được xem trọng. Đến năm
2002, Quỳnh Hải thực hiên quy hoạch đất canh tác thành 2 vùng sản xuất chính là vùng chuyên
canh rau màu và vùng sản xuất 2 vụ lúa 1 vụ đông. Chỉ còn một số diện tích đồng trũng không
sản xuất vụ đông. Với hầu hết hộ sản xuất ở Quỳnh Hải, giờ đây vụ đông đã trở thành vụ sản xuất
chính đem lại nguồn thu nhập cao cho họ. Từ cuối tháng 8 âm lịch, các hộ dân Quỳnh Hải đã
triển khai làm vụ đông
Bảng : Diện tích trồng một số cây vụ đông của xã Quỳnh Hải qua 3 năm (06-08)
Cây vụ
đông
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 So sánh
DT(ha) Cơ
cấu(%)
DT(ha) Cơ
cấu(%)
DT(ha) Cơ
cấu(%)
07/06(%) 08/07(%) BQ(%)
Tổng diện
tích
279 100 280 100 311 100 100.36 111.07 105.58
Cây ớt 115 41.21 120 42.86 105 33.76 104.34 87.5 95.55
Ngô đồng 20 7.18 20 7.14 19.5 6.27 100 97.5 98.74
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lao động, cọc dàn… Đề tài không phân tích các yếu tố chi phí
có tính chất định mức chung như làm đất, các khoản phí (thủy lợi phí, bảo vệ đồng ruộng) và
không đề cập đến chi phí phân bổ công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất ớt vụ đông.
.
Hiện nay trên địa bàn xã Quỳnh Hải chủ yếu trồng 2 giống ớt là giống ớt kim và giống ớt
Hàn Quốc nên tôi tiến hành so sánh hiệu quả kinh tế mà 2 giống ớt này đem lại. Qua quá trình
điều tra tại các hộ nông dân ở xã, tôi thu được kết quả về sự đầu tư chi phí sản xuất ớt vụ đông
như sau: Đây là bảng tính chi phí sản xuất ớt vụ đông cho 1 sào Bắc Bộ ( 360m2).
10
Bảng: Chi phí sản xuất ớt vụ đông năm 2008
Chỉ tiêu Giống ớt kim Giống ớt Hàn Quốc
SL(kg) ĐG(ngđ/kg) TT(ngđ) SL(kg) ĐG(ngđ/kg) TT(ngđ)
Giống 0.01 1500 150 0.02 370 74
Đạm 10.81 7.5 81.08 11.6 7.5 87
Lân 18.73 2.6 48.71 20.07 2.6 52.17
Kali 6.02 14 84.24 5.4 14 75.6
Phân
chuồng
468 1 468 457 1 457
Nguồn: Tổng hợp từ điều tra hộ
- Về chi phí giống: đối với giống ớt kim, 1 sào cần 0,01 kg giống với 150000 đồng; còn với
giống ớt Hàn Quốc, mặc dù lượng giống cần nhiều hơn (0,02 kg giống) so với giống ớt kim
nhưng giá mua lại rẻ hơn nên chi phí giống trên 1 sào là thấp hơn và bằng 74000 đồng. Hiện nay
trên thị trường xã, giống ớt kim có giá là 150000 đồng/ 1 gói 10g, còn giống ớt Hàn Quốc có giá
là 37000 đồng/ 1 gói 10g. Về nguồn giống, đối với ớt Hàn Quốc, người dân phải mua toàn bộ
trên thi trường do không để giống được, hoặc có để giống trồng vụ sau thì cây còi cọc, quả không
nặng bằng giống mua, màu sắc quả không đẹp…nên năng suất không cao; còn đối với giống ớt
kim, người dân có thể mua trên thị trường hoặc để giống trồng tiếp vụ sau. Mật độ gieo trồng: cả
2 giống đều có mật độ gieo trồng từ 800-900 cây/ sào. Qua điều tra cho thấy hầu hết các hộ nông
dân ở đây đều trồng 2 giống ớt này và không có ý định trồng giống mới nào, do giống không phù
lao động là rất cao, từ 25-27 ngày công/tháng, chi phí về thuốc bảo vệ thực vật, trừ cỏ cũng cao,
với ớt kim trung bình cần khoảng 183330 đồng/ sào còn ớt Hàn Quốc là 200000 đồng/ sào.
Về chi phí thu hoạch thì ớt kim mất nhiều công thu hoạch hơn ớt Hàn Quốc do kích thước
quả nhỏ nên khó thu hoạch, thường phải thuê thu hoạch với mức giá là 50000 đồng/ 17 kg ớt.
Bình quân một người một ngày có thể hái được 17-20 kg ớt kim, 30-40 kg ớt Hàn Quốc.Chi phí
thu hoạch của ớt kim vì thế nên cao hơn so với ớt Hàn Quốc, cụ thể chi phí thu hoạch của ớt kim
là 1057200 đồng, còn ớt Hàn Quốc chỉ có 873400 đồng.
Do khó khăn trong thu hoạch nên lao động sử dụng cho ớt kim cũng cao hơn so với ớt Hàn
Quốc, phải đầu tư trên 27 ngày công lao động cho ớt kim trong khi chỉ cần khoảng 25 ngày công
lao động cho ớt Hàn Quốc, nhìn chung chi phí lao động bỏ ra cho việc trồng ớt là cao, người dân
ngày nào cũng phải ra đồng, không tưới nước thì cũng bón phân, nhổ cỏ rồi phun thuốc trừ sâu…
nên họ có phần không muốn sản xuất tiếp.
Như vậy, tổng chi phí cho từng loại giống ớt là khác nhau, nhưng không chênh lệch nhiều.
Tổng chi phí trồng ớt của giống ớt kim là 2275,730 nghìn đồng/ sào, giống ớt Hàn Quốc là
2109,170 nghìn đồng/sào.
12
3.1.2.4 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ớt vụ đông
Bảng: kết quả và hiệu quả sản xuất cây ớt vụ đông năm 2008
Chỉ tiêu ĐVT Ớt kim Ớt Hàn
Quốc
1. Năng suất Kg/sào 351,23 650
2. Giá bán Nghìn
đồng
17 10
3. Doanh
thu
Nghìn
đồng
5970,91 6500
4. Chi phí Nghìn
13
giống ớt kim nên hiện nay người dân Quỳnh Hải rất ưa chuộng giống ớt này và đang tiếp tục mở
rộng diện tích trồng ớt Hàn Quốc.
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải
3.2.1 Quy mô diện tích gieo trồng và điều kiện thời tiết, khí hậu
- Điều kiện thời tiết, khí hậu: Đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ớt vụ
đông nói chung thì điều kiện thời tiết, khí hậu có tính chất quyết định đến năng suất cây trồng.
Trong điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi tất nhiên cây ớt sẽ cho năng suất cao, đạt đến năng
suất tiềm năng nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật và được gieo trồng trên đúng loại đất. Còn trong
điều kiện thời tiết xấu thì dễ bị giảm năng suất hoặc có khi gần như mất trắng vì số thu được chỉ
đủ bù đắp phần chi phí đã bỏ ra. Xã Quỳnh Hải nằm gần trung tâm nhiệt đới gió mùa do đó hay
phải hứng chịu nhiều thiên tai do tự nhiên gây ra như hạn hán, lũ lụt…về mùa mưa và hiện tượng
sương muối về mùa đông, mà cây ớt là một loại cây ưa ấm nên khi xảy ra sương muối sẽ rất bất
lợi cho sự ra hoa, kết quả của cây ớt, do đó làm giảm năng suất, làm thiệt hại không ít của người
dân.
- Quy mô diện tích: có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và kết quả sản xuất mà cây ớt đem
lại. Khi diện tích tăng lên đồng nghĩa với việc năng suất ớt tăng và như vậy người dân có thêm
thu nhập.
3.2.2 Tiêu thụ sản phẩm ớt vụ đông
- Thị trường tiêu thụ:
Một trong những lợi thế của sản xuất ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải hiện nay là có thị trường
tiêu thụ sản phẩm khá lớn và ổn định từ nhiều năm nay. Thị trường tiêu thụ ớt vụ đông trong
nước chủ yếu là các tỉnh Hải Dương, Nam Định, Hải Phòng. Ớt được đưa đến các chợ lớn hoặc
các công ty chế biến ớt để là tương ớt hay bột ớt…Ớt ở Quỳnh Hải cũng được xuất sang một số
nước trong khu vực như Trung Quốc, Đài Loan, Singapo… đây là thị trường đầy tiềm năng của
sản phẩm ớt xã Quỳnh Hải nói riêng và huyện Quỳnh Phụ nói chung. Năm 2008 vừa qua, giá ớt
xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, …là 0,73 USD/kg ớt tươi và 0,9
USD/kg ớt khô. Hiện nay ở xã có hơn 20 xe ô tô tải và hàng nghìn xe máy thu mua và vận
chuyển sản phẩm ớt đi bán ở khắp mọi nơi, có 1 chợ ở giữa làng An phú họp lúc 10h trưa là nơi
thu mua và buôn bán các sản phẩm vụ đông của xã, có 5 đại lý tiêu thụ ớt lớn của tư nhân.
qua, giá ớt kim có lúc lên tới 30000 đồng/kg ớt tươi, còn ớt Hàn Quốc chỉ có giá từ 15000-20000
đồng/kg. Sau khi sấy khô thì giá bán ớt kim trong nước năm 2008 là 60000-70000 đồng/kg, còn
ớt Hàn Quốc có giá là 50000 đồng/ kg. Do ở xã Quỳnh Hải, chủ yếu ớt được sản xuất ra là để bán
tươi, nếu không thu hoạch và bán kịp ớt sẽ bị rụng và người dân sẽ mất trắng nên giá bán biến
động mạnh, đầu vụ người ta có thể bán 20000-30000 đồng/kg, đến chính vụ còn 10000 đồng/kg,
còn đến cuối vụ chỉ còn 4000 đồng /kgNhư vậy giá ớt cao chắc chắn sẽ khuyến khích người dân
mở rộng diện tích trồng ớt.
Giá vật tư đầu vào
15
Bên cạnh giá bán sản phẩm thì giá vật tư đầu vào cũng có ý nghĩa quyết định đến quy mô
sản xuất của người dân. Trong những năm gần đây, do tốc độ tăng trưởng kinh tế cao dẫn đến
lạm phát xảy ra làm cho giá cả vật tư đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu tăng lên. Đặc biệt là
năm 2008, giá vật tư tăng mạnh làm cho bà con nông dân không có đủ tiền để mua, cụ thể giá
đạm là 7500 đồng/ kg, giá lân là 2600 đồng/kg, giá kali là 14000 đồng/ kg. Đến năm 2009 giá vật
tư có phần giảm xuống, như giá đạm là 7000 đồng/kg, giá lân là 2500 đồng/ kg, giá kali là 13500
đồng/ kg, tuy mức giảm giá là không nhiều nhưng cũng giúp bà con bớt lo lắng trong việc chăm
sóc cây ớt vụ đông năm nay.
3.2.4 Khoa học kỹ thuật và hệ thống kênh mương
Khoa học kỹ thuật nếu được khai thác đúng sẽ tạo động lực cho sự phát triển. Hàng năm
hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp của xã đều tổ chức các đợt tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất như quy trình sản xuất, công tác chăm sóc, bảo vệ ớt vụ đông trong điều
kiện thời tiết khó khăn và phòng chống các bệnh trên cây ớt như bệnh thán thư, bệnh rầy xanh
Cán bộ khuyến nông của xã thường xuyên đi kiểm tra và hướng dẫn bà con nông dân sản xuất.
Tuy nhiên công tác tuyên truyền, chuyển giao khoa học kỹ thuật tới người dân còn chưa đem lại
hiệu quả cao.
Bên cạnh đó hệ thống kênh mương cũng có vai trò quan trọng quyết định đến năng suất cây
ớt vụ đông. Hiện nay, hệ thống kênh mương của xã nhìn chung đã hoàn thiện, phục vụ tưới tiêu
đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn một số nơi đang xuống cấp nghiêm trọng, chưa đáp ứng với yêu cầu
sản xuất, vẫn còn tình trạng úng hạn cục bộ.
3.2.5 Lao động trong xã
trường mà xã có thế mạnh.
-Phát triển cây ớt vụ đông của xã cần dựa trên cơ sở phát huy tối đa những tiềm năng, thế
mạnh và khắc phục có hiệu quả những khó khăn, hạn chế. Cụ thể là từng bước đưa diện tích trồng
ớt vụ đông tăng lên qua các năm, tăng cường đầu tư thâm canh để nâng cao năng suất cây trồng.
Đây được xác định là động lực quan trọng để tạo ra sự đột phá trong quá trình phát triển.
Bảng: Kế hoạch gieo trồng cây vụ đông của xã Quỳnh Hải
Diễn giải Năm 2009 Năm 2010 Năm 2015
DT(ha) CC(%) DT(ha) CC(%) DT(ha) CC(%)
Tổng diện tích
vụ đông
280 100 285 100 290 100
Ngô 20 7.14 20 7.02 20 6.90
Đậu tương 20 7.14 20 7.02 20 6.90
Khoai tây 15 5.36 15 5.26 15 5.17
Khoai lang 20 7.14 20 7.02 10 3.45
Ớt 125 44.64 130 45.61 140 48.27
Cây xuất khẩu 30 10.71 30 10.53 40 13.79
Rau màu khác 50 17.86 50 17.54 45 15.52
Qua bảng ta thấy xã đang rất chú trọng đến phát triển cây ớt trong những năm tới. Diện tích
ớt được tăng dần lên qua các năm, năm 2009 là 125 ha (chiếm 44,64%), năm 2010 tăng lên là 130
ha (chiếm 45,61%) và đến năm 2015 tăng lên là 140 ha (chiếm 48,27%).
17
3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải
Trên cơ sở đánh giá thực trạng những năm vừa qua, để sản xuất ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải
phát triển mạnh mẽ hơn nữa cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Giải pháp về phòng chống thiên tai
Xã cần có kế hoạch cụ thể và kịp thời trong việc phòng chống các hiện tượng thời tiết xấu
ảnh hưởng đến năng suất cây ớt như tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho người dân cách
phòng chống sương muối như che lưới, bón do ủ ấm cho cây…Ngoài ra nếu gặp thời tiết khô hạn
cần có biện pháp tưới tiêu phù hợp để không bị chết cây.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức đoàn thể như: hội nông dân, hội phụ nữ… trong công tác
triển khai, khuyến khích người dân tích cực tham gia sản xuất.
- Tiến hành tu sửa, nạo vét các đoạn kênh mương bị hư hỏng để nhanh chóng đưa vào sản
xuất phục vụ tưới tiêu nước.
- Công tác phòng chống sâu, bệnh cần được triển khai tích cực như tổ chức các đợt diệt
chuột phá hại cây ớt vụ đông, phun thuốc trừ sâu bệnh hợp lý…
Phần 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Sản xuất ớt vụ đông tại xã Quỳnh Hải đang ngày càng phát triển cả về quy mô diện tích,
năng suất cây trồng và giá trị sản xuất, đã khẳng định được vị trí quan trọng trong sản xuất vụ
đông của xã. Tuy nhiên, sản xuất cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải vẫn còn nhiều hạn chế, đầu tư
cho sản xuất cây ớt còn thấp, năng suất cây ớt vẫn còn thấp hơn so với năng suất tiềm năng.
Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải bao
gồm: quy mô các yếu tố đầu vào, đất đai, phân bón, lao động càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng
cao; thị trường tiêu thụ ổn đinh và có thể mở rộng trong những năm tới, tình trạng đất nông
nghiệp manh mún đã được xóa bỏ nhờ thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, năng suất cây ớt
còn có khả năng tăng mạnh nếu được đầu tư thâm canh đúng mức là yếu tố thuận lợi thúc đẩy sản
xuất cây ớt vụ đông. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu thông tin thị trường, thông tin khoa học kỹ
thuật, trình độ nhận thức của người dân và cơ sở vật chất đang ngày càng xuống cấp đang là
những cản trở lớn trong quá trình phát triển cây ớt vụ đông ở xã Quỳnh Hải.
Trên cơ sở thực trạng, phương hướng và mục tiêu phát triển cây ớt vụ đông tại xã Quỳnh
Hải, đề tài đã đề xuất một số giải pháp về tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, thị trường tiêu
thụ. Trong các giải pháp thì vai trò của cán bộ trong xã đặc biệt là cán bộ khuyến nông là quan
trọng nhất, là cầu nối giữa người dân với tiến bộ khoa học kỹ thuật, là hạt nhân thúc đẩy sản xuất
phát triển.
4.2 Khuyến nghị
Để sản xuất cây ớt vụ đông phát triển ổn định và góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ
nông dân, tôi có đưa ra một số khuyến nghị như sau:
- Với Nhà nước: cần có chính sách bình ổn giá một số vật tư nông nghiệp chủ yếu như đạm,
lân, kali để giảm giá thành sản xuất cho các hộ nông dân.
- Phân chuồng (tạ/sào):
- Dây nilon, lưới, cọc làm giàn (nghìn đồng/sào):
- Chí phí thu hoạch (nghìn đồng/sào):
5. Giá bán ớt:
- Bán cho hộ thu gom:
- Tự mang đi bán:
- Bán cho cơ sở chế biến:
6. Một số câu hỏi mở:
- Gia đình thường sử dụng giống ớt gì trong vụ đông?
a. Ớt kim b. Ớt Hàn Quốc c. Cả hai d. Khác
Ông bà có sử dụng giống ớt mới trong sản xuất vụ đông không?
a. có b. không
Xin cho biết nguyên nhân?
+ Giống đắt
+ Giống không phù hợp với điều kiện đất đai
+ Không tìm được nguồn giống tin tưởng
+ Không hiểu biết kỹ thuật chăm sóc
+ Không có nhu cầu
+ Nguyên nhân khác
- Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ớt vụ đông mà gia đình đang áp dụng hiện nay là do:
+ Các thế hệ trước truyền lại
+ Học của gia đình khác
+ HTX dịch vụ nông nghiệp hướng dẫn
+ Cán bộ khuyên nông xã hướng dẫn
+ Do những người bán giống hướng dẫn
- Gia đình bán sản phẩm cho ai?
+ Tư thương đến mua tại nhà
+ Tư vận chuyển đến điểm thu gom
21
+ Tự vận chuyển đến các cơ sở chế biến
Theo gia đình hình thức tập huấn nào dưới đây là thích hợp nhất?
+ Mở lớp tập huấn
+ Tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh
+ Phổ biến trong sinh hoạt đoàn thể
+ Xây dựng điểm trình diễn kỹ thuật
- Ông bà có muốn mở rộng diện tích trồng ớt vụ đông không?
+ có
+ không. Tại sao?
* Thiếu đất * Giá vật tư nông nghiệp cao
* Thiếu giống chất lượng cao * Thiếu kỹ thuật
* Tiêu thụ sản phẩm khó khăn * Điều kiện tưới tiêu kém
* Thiếu vốn * Thiếu lao động
Những đề xuất, kiến nghị của ông bà:
Chân thành cảm ơn ông bà đã trả lời phỏng vấn!
Người phỏng vấn
22
MỤC LỤC
Phần 1: Mở đầu…………………………………………………………………………………. 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………………………………… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu …………………………………………………………………………2
1.2.1 Mục tiêu chung .……………………………………………………………………………2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể …………………………………………………………………………….2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………………………………2
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………………… 2
Phần 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu …………………………… 3
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu …………………………………………………………………3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên ………………………………………………………… 3
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội ………………………………………………………………… 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………….8