LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được
hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Đình Kiệm. Các số liệu và kết quả
có được trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Tác giả luận văn
Thiều Trang Nhung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CP : Chi phí
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
ĐT : Đầu tư
ĐZ : Đường dây
EVN : Tập đoàn Điện lực Việt Nam
HĐTV : Hội đồng thành viên
HĐQT : Hội đồng quản trị
QLTC : Quản lý tài chính
LN : Lợi nhuận
NPC : Tổng Công ty Điện lực miền bắc
NGC : Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc
SXKD : Sản xuất kinh doanh
SCL : Sửa hữa lớn
TBA : Trạm biến áp
TSCĐ : Tài sản cố định
TSLĐ : Tài sản lưu động
VCĐ : Vốn cố định
VLĐ : Vốn lưu động
XDCB : Xây dựng cơ bản
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU
công ty hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và vướng mắc, trong số đó có
cơ chế quản lý tài chính. Công ty vẫn chưa có quyền tự chủ tài chính, tự chủ
kinh doanh nên còn tồn tại cơ chế xin - cho, đồng thời cũng giảm tính năng
động trong sản xuất kinh doanh. Chính điều này là một trong những cản trở
đối với sự phát triển ổn định và bền vững của công ty. Mặt khác trong bối
cảnh hiện nay, ngành điện đang có những bước cải cách lớn nên cũng cần đòi
hỏi một cơ chế quản lý mơi phù hợp hơn. Đề tài "Nâng cao hiệu quả quản lý
tài chính tại Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc" với kỳ vọng giải quyết
được một số vấn đề về cơ chế quản lý tài chính cho công ty, giúp công ty phá
bỏ cơ chế cũ vốn đang không còn phù hợp và thích ứng với tình hình mới
2.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp.
- Cho thấy được những thay đổi to lớn của ngành điện.
- Trình bày thực trạng cơ chế quản lý tài chính hiện hành của Công ty
Lưới điện cao thế miền Bắc và những thành tựu đạt được.
- Nêu ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong cơ
chế quản lý tài chính hiện hành của Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc.
- Xuất phát từ lý luận về tài chính doanh nghiệp, các chính sách, chế độ
quản lý tài chính hiện hành, thực trạng công tác quản lý tài chính của Công ty
Lưới điện cao thế miền Bắc và định hướng phát triển của ngành điện để nêu
lên các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho công ty trong
hiện tại và tương lai.
2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý
luận cơ bản về quản lý tài chính của doanh nghiệp trong nước và thực trạng
hiệu quả quản lý tài chính tại Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc; thông qua
đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của
Công ty.
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. TÔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Hệ thống tổ chức và phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp
cũng như doanh nghiệp với bên ngoài được chi phối chủ yếu bởi các mối
quan hệ kinh tế theo những khuôn khổ luật pháp nhất định. Sự ra đời của các
doanh nghiệp là kết quả của việc phát triển nền kinh tế thi trường và phân
công lao động xã hội. Đồng thời, sự phát triển của các doanh nghiệp cũng
đóng góp tích cực vào việc đẩy mạnh sự phân công lao động và nâng cao hiệu
quả kinh tế cho các hoạt động sản xuất của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội.
Nền kinh tế hình thành bởi nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần
kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư
bản tư nhân), kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các
thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước
pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Từ những
thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh
nghiệp, Luật Doang nghiệp năm 2005 đã có định nghĩa mới về Doanh nghiệp
Nhà nước(DNNN). Theo luật này, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do
Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ
chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, Công ty Cổ phần, Công ty TNHH
(Điều 1 Luật DNNN năm 2005). Cũng có thể hiểu “DNNN là doanh nghiệp
trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% Vốn điều lệ (Khoản 22, Điều 4 Luật DN
năm 2005)
5
Trong điều kiện phát triển hiện đại, sự tồn tại của khu vực DNNN trong
nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào là không thể bác bỏ nhưng vai trò của nó
đối với mỗi nền kinh tế lại rất khác nhau.
Những đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp nói chung
- Mang chức năng sản xuất kinh doanh.
- Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục
tiêu xã hội.
- Phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Tức là: Tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ và sự vận động của
các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Phản ánh sự vận
động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp.
Xét về mặt bản chất: Tài chính doanh nghiệp phản ánh các mối quan
hệ kinh tế gắn liền với việc phân phối dưới hình thái giá trị để tạo lập và sử
dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
1.2.2.Vị trí của tài chính doanh nghiệp trong hệ thống tài chính
Hoạt động tài chính doanh nghiệp (TCDN) là một trong các hoạt động
chủ chốt, quan trọng, mang tính sống còn đối với các doanh nghiệp hiện nay.
Hoạt động này rất rộng lớn, bao trùm và không thể tách rời với tất cả các hoạt
động còn lại của doanh nghiệp. Trong môi trường hoạt động ngày càng phức
tạp, hội nhập quốc tế, cạnh tranh cao và nhiều rủi ro, doanh nghiệp và các bên
có lợi ích lien quan, dù là liên quan trực tiếp hay gián tiếp, đều quan tâm đặc
biệt đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng cần phải có một lượng vốn ban đầu để mua sắm các yếu tố đầu vào
như nguyên liệu, công cụ lao động, máy móc, thuê nhân công từ đó, tiến
7
hành sản xuất, tạo ra sản phẩm và bán sản phẩm thu tiền về. Số tiền này sau
khi bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra như chi phí mua sắm thiết bị, máy móc,
tài sản, chi phí bán hàng, chi phí quản lý, nộp thuế cho Nhà nước, trả lương
cho công nhân viên phần còn lại chính là lợi nhuận doanh nghiệp.
Trong quá trình đó luôn có những luồng tiền vào và luồng tiền ra gắn
liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp. Sự vận động của các luồng tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử
Quản lý tài chính doanh nghiệp là hoạt động lựa chọn và đưa ra các
quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được các
mục tiêu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp trước hết là quản lý việc
tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ hợp lý và có
hiệu quả theo các mục đích đã định. Bên cạnh đó, quản lý tài chính còn phải
xử lý sao cho hợp lý nhất các quan hệ tài chính nảy sinh trong quá trình tạo
lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội.
Quản lý tài chính doanh nghiệp còn bao gồm việc lập các kế hoạch tài
chính dài hạn và ngắn hạn, quản lý việc huy động các nguồn vốn sao cho đáp
ứng nhu cầu vốn kinh doanh với chi phí thấp nhất. Quản lý tài chính còn bao
gồm việc tổ chức sử dụng, kiểm tra, giám sát chặt chẽ số vốn huy động được
đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả. Đồng thời quản lý
tài chính cũng đòi hỏi thực hiện có hiệu quả việc phân phối lợi nhuận, chính
sách lợi tức cổ phần, giải quyết hài hoà các lợi ích, tạo động lực cho doanh
nghiệp phát triển, mở rộng hoạt động kinh doanh.
Hệ thống tài chính là hệ thống các khâu tài chính và mối quan hệ giữa
chúng. Các đặc trưng cơ bản của một khâu tài chính là:
9
- Nơi tích tụ, tập trung các nguồn lực tài chính nhất định
- Có đặc điểm đồng nhất về mối quan hệ tài chính nhất định
- Có một chủ thể phân phối và sử dụng các nguồn lực
Tài chính doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính:
- Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính
- Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở, nền tảng của hệ thống tài chính
vì doanh nghiệp là nơi trực tiếp tạo ra giá trị mới cho xã hội, nguồn tài chính
được tạo ra ở doanh nghiệp là nguồn tài chính nguyên thuỷ để tạo lập nguồn
tài chính ở các khâu tài chính khác.
1.3. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG DOANH NGHIỆP
kinh doanh và vốn được sử dụng tiết kiệm nhất mà vẫn mang lại lợi nhuận
cao nhất.
1.3.2.2.Quản lý tài chính tốt góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
- Trong việc thẩm định, lựa chọn các dự án đầu tư từ góc độ tài chính,
sự đánh giá này càng chính xác bao nhiêu thì hiệu quả từ các dự án mang lại
càng lớn bấy nhiêu và ngược lại.
- Trong việc huy động vốn, đáp ứng đủ nhu cầu về vốn và kịp thời giúp
doanh nghiệp có đủ vốn kinh doanh và nắm bắt được các cơ hội.
- Trong việc lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn
thích hợp, có thể giảm bớt được chi phí sử dụng vốn góp phần tăng lợi nhuận.
- Trong việc sử dụng hợp lý đòn bẩy kinh doanh và đặc biệt là sử dụng
đòn bẩy tài chính để gia tăng tỷ lệ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
- Trong việc huy động tối đa số vốn hiện có đưa vào kinh doanh tránh
11
tình trạng ứ đọng vốn, gây lãng phí trong quá trình sử dụng vốn, tăng vòng
quay tài sản, giảm được số vốn vay, giảm số lãi vay góp phần tăng lợi nhuận
sau thuế của doanh nghiệp.
1.3.2.3.Quản lý tài chính sẽ giúp các nhà quản lý kiểm tra, giám sát được
tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có liên quan đến mọi hoạt động của doanh nghiệp
vì thế thông qua quản lý tài chính cho phép các nhà quản lý nắm được tình
hình thu chi tiền tệ hàng ngày, lượng hàng hoá tồn kho, các khoản phải thu,
tình hình sử dụng tài sản, đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn, số nợ phải trả
Đồng thời thông qua các chứng từ, sổ sách, các báo cáo tài chính ngày, tháng,
quý và năm, các nhà quản lý có thể so sánh đối chiếu với các kế hoạch tài
chính ngắn hạn, dài hạn của doanh nghiệp, các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của
ngành để nhanh chóng phát hiện ra những thiếu sót, hạn chế, những tiềm năng
chưa được khai thác, những mặt đã làm được, chưa được để có biện pháp
khắc phục cũng như điều chỉnh các kế hoạch tài chính cho phù hợp và linh
từng nguồn vốn để lựa chọn một nguồn vốn tối ưu nhất. Một cơ cấu nguồn
vốn tối ưu là một cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa
những ưu điểm của từng nguồn với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất.
Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước: Là số vốn do Ngân sách Nhà nước cấp
cho các doanh nghiệp Nhà nước ngay từ khi mới thành lập. Nguồn vốn này số
lượng thường hạn chế. Các doanh nghiệp chỉ được quyền sử dụng chứ không
có quyền sở hữu và định đoạt nên thường gặp nhiều khó khăn khi đưa vào sử
dụng vì cần có sự chấp thuận của cơ quan quản lý cấp trên do Nhà nước uỷ
quyền. Do vậy, để đảm bảo cho nhu cầu vốn trong kinh doanh, các doanh
nghiệp thường phải huy động thêm vốn từ nhiều nguồn khác nhau.
13
Nguồn vốn tự có hay vốn chủ sở hữu: Là số vốn do chủ doanh nghiệp
tự bỏ ra đầu tư cho nên doanh nghiệp có đầy đủ các quyền về chi phối, sở
hữu và định đoạt. Nguồn vốn này có ưu điểm là giúp doanh nghiệp hoàn
toàn chủ động trong việc ra các quyết định về sản xuất và đầu tư, chớp được
cơ hội kinh doanh kịp thời. Nguồn vốn này thường do các thành viên đóng
góp từ khi mới thành lập tạo ra vốn điều lệ và trong quá trình hoạt động,
nguồn vốn chủ sở hữu thường được bổ sung từ lợi nhuận để lại hàng năm để
tài đầu tư, phát hành cổ phiếu hay từ các quỹ trong doanh nghiệp như quỹ
đầu tư phát triển
Huy động vốn từ phát hành cổ phiếu: Là một phương thức huy động
vốn có hiệu quả vì nó cho phép huy động một lượng vốn lớn từ trong xã hội,
ổn định trong đầu tư kinh doanh, chi phí sử dụng vốn không cao, ít rủi ro và
không phụ thuộc vào các nhà tài trợ. Tuy nhiên, số vốn này chỉ giới hạn
trong phạm vi những cổ đông của doanh nghiệp nên chỉ bị hạn chế về quy
mô, không đáp ứng được mọi nhu cầu vốn khi hoạt động kinh doanh ngày
càng mở rộng. Còn huy động vốn từ lợi nhuận để lại bị phụ thuộc vào kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì số
vốn này lại phụ thuộc vào tỷ lệ để lại để đầu tư cho nên số vốn này khá hạn
chế về số lượng.
đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình cụ thể của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ.
Cơ cấu nguồn vốn là sự kết hợp các nguồn vốn mà doanh nghiệp có
khả năng huy động được theo tỷ lệ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của
mình. Cơ cấu nguồn vốn này được gọi là tối ưu khi sự kết hợp này là phù hợp
15
với điều kiện của doanh nghiệp trong thời kỳ đó và sự kết hợp giữa vốn chủ
sở hữu và vốn vay sao cho chi phí sử dụng vốn và rủi ro tài chính là thấp nhất,
lợi nhuận thu được và giá trị doanh nghiệp là cao nhất.
Hoạch định một cơ cấu nguồn vốn có liên quan đến việc đánh đổi giữa
lợi nhuận và rủi ro, vì sử dụng nhiều nợ làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp
nhưng tỷ lệ nợ cao nói chung thường đưa đến lợi nhuận kỳ vọng cao. Rủi ro
gia tăng có khuynh hướng làm hạ thấp giá cổ phiếu do đem lại sự bất an về
tình hình tài chính cho các nhà đầu tư, trong khi lợi nhuận cao lại có khuynh
hướng làm gia tăng giá cổ phiếu do làm tăng lòng tin cho các nhà đầu tư. Do
vậy cần thiết phải lựa chọn một cơ cấu nguồn vốn hợp lý.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ cấu nguồn vốn. Trước
hết, đó là rủi ro doanh nghiệp, bất kỳ doanh nghiệp nào thì cũng có rủi ro phát
sinh đối với tài sản của mình ngay cả khi không sử dụng nợ, nhưng doanh nào
có rủi ro doanh nghiệp càng lớn thì càng phải hạ thấp tỷ lệ nợ hơn. Thứ hai,
thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm khi lãi vay lớn vì lãi vay được tính trừ
khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Thứ ba, sự chủ động về tài chính sẽ
giảm khi sử dụng nhiều nợ đồng thời làm xấu đi tình hình bảng cân đối kế
toán khiến cho nhà đầu tư thường ngần ngại khi mua cổ phiếu của doanh
nghiệp hay đầu tư vốn cho doanh nghiệp. Thứ tư, phong cách và thái độ của
nhà quản lý là thận trọng sẽ không sử dụng nhiều nợ trong tổng nguồn vốn
của doanh nghiệp. Thứ năm, có thể chắc chắn rằng sự thay đổi cơ cấu vốn sẽ
làm thay đổi giá trị doanh nghiệp. Thứ sáu, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của
ngành sẽ ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu nguồn vốn.
Những ngành kinh doanh có chu kỳ sản xuất dài, vòng quay vốn chậm
- Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợp
để hạn chế tối đa ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình.
17
- Chú trọng đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất đồng thời nâng
cao hiệu quả sử dụng TSCĐ hiện có cả về thời gian và công suất, kịp thời
thanh lý các TSCĐ không cần dùng hoặc đã hư hỏng, không dự trữ quá mức
các TSCĐ chưa cần dùng.
- Thực hiện tốt các chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng TSCĐ,
không để xảy ra tình trạng TSCĐ hư hỏng trước thời hạn hay hư hỏng bất
thường gây thiệt hại ngừng sản xuất.
- Tiến hành mua bảo hiểm cho TSCĐ đề phòng mất mát hay hư hỏng
do những điều kiện bất khả kháng xảy ra. Lập quỹ dự phòng tài chính, trích
trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính.
Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động gồm:
- Xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết để
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên
tục, tiết kiệm mà hiệu quả kinh tế lại cao. Xác định đúng đắn nhu cầu vốn sẽ
tránh được hiện tượng ứ đọng vốn, không gây căng thẳng giả tạo về nhu cầu
vốn từ đó xác định được các nguồn tài trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp.
- Đẩy nhanh tốc độ vốn lưu động ở các khâu trong quá trình sản xuất và
tiêu thụ: ở khâu dự trữ có các mức dự trữ tồn kho hợp lý giúp sản xuất không
bị gián đoạn và tối thiểu hoá các chi phí lưu kho, tránh lãng phí vốn. Chỉ để
một lượng tiền tồn quỹ và vật tư tồn kho vừa đủ theo điều kiện thực tế của
doanh nghiệp đảm bảo thanh toán và sản xuất được bình thường; ở khâu sản
xuất cần áp dụng tiến bộ kỹ thuật để rút ngắn chu kỳ sản xuất, giảm sản phẩm
hỏng, hợp lý hoá dây chuyền công nghệ; ở khâu tiêu thụ thực hiện các biện
pháp tiếp thị bán hàng, giảm hàng hoá tồn kho, lựa chọn khách hàng và
phương thức thanh toán tránh hiện tượng chiếm dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ
tiêu thụ sản phẩm
18
chi phí đó.
+ Kiểm tra, giám sát thường xuyên các chi phí phát sinh, chỉ thanh toán
những chi phí hợp lý trong định mức đã quy định và có chứng từ tài chính
hợp lệ kèm theo.
+ Xây dựng thường xuyên ý thức tiết kiệm chi phí đến mỗi cán bộ công
nhân viên để đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đặt ra.
1.3.3.3. Thực hiện việc phân phối kết quả kinh doanh và các quỹ của
doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện ở doanh thu và lợi
nhuận. Quản lý tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải góp phần thực hiện có
hiệu quả việc phân phối kết quả kinh doanh, tạo động lực cho sự phát triển
của doanh nghiệp.
1.3.3.3.1.Quản lý doanh thu
Doanh thu của một doanh nghiệp là toàn bộ số tiền thu được nhờ đầu tư
kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Doanh thu của doanh nghiệp gồm các bộ phận sau:
- Doanh thu tiêu thụ sản phẩm (chiếm chủ yếu trong tổng doanh thu)
- Doanh thu từ hoạt động liên doanh liên kết với các đơn vị tổ chức
khác, từ các nghiệp vụ tài chính.
- Doanh thu khác như thu từ thanh lý, nhượng bán vật tư, hàng hoá ứ
đọng, các khoản được bồi thường, các khoản nợ không ai đòi
Doanh thu là nguồn để trang trải mọi chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra
ban đầu và đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra cũng như thực hiện
nghĩa vụ với Nhà nước, khách hàng, cổ đông và xã hội. Doanh thu tăng chứng
tỏ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, các chiến lược phát triển kinh tế đang
20
thực hiện đi đúng hướng. Do vậy tăng doanh thu có ý nghĩa rất to lớn đối với
doanh nghiệp mà trong đó quan trọng nhất là phải tăng được doanh thu tiêu
thụ sản phẩm. Để làm được việc này doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện
pháp sau:
+ Trả các khoản tiền bị phạt, bồi thường
+ Trả lợi tức cổ phiếu, trái phiếu, lợi tức cho các bên tham gia liên doanh
+ Bù đắp bảo toàn vốn
+ Phần còn lại trích lập các quỹ chuyên dùng như quỹ đầu tư phát triển,
quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng,
quỹ phúc lợi.
B/ .Quản lý việc phân chia lợi nhuận trong doanh nghiệp Nhà nước
*Các nguyên tắc phân chia lợi nhuận
Sau khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sẽ thu được
lợi nhuận. Lúc này nhà quản trị phải đóng vai trò quan trọng trong việc định
hướng phân chia số lợi nhuận đó. Để đảm bảo công bằng hợp lý trong phân
chia lợi nhuận các doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người
lao động, trước hết phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (nộp
thuế TNDN) một cách đầy đủ, kịp thời, trách trốn thuế hoặc lậu thuế.
- Doanh nghiệp phải dành phần lợi nhuận thích đáng để giải quyết các
nhu cầu SXKD, đồng thời chú trọng đảm bảo lợi ích của các thành viên trong
DN; đảm bảo hài hoà giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.
*Trình tự phân phối lợi nhuận trong Công ty Nhà nước tuỳ thuộc chế
độ chính sách của từng thời kỳ mà đơn vị áp dụng trình tự và tỷ lệ phân phối
22