Lời Mở Đầu
Kể từ sau đại hội Đảng VI, 1986 nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà
nớc dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Sự mở cửa nền kinh tế đã thổi một
luồng sinh khí mới làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của nớc ta vốn đang bế tắc, trì
trệ kém phát triển. Thực tế là sau đổi mới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội đã
thay đổi và khởi sắc,nền kinh tế nh đợc cởi trói phát triển nhanh chóng và liên tục đặc
biệt là hoạt động giao lu kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu. Hiện nay nớc ta
có hơn 7000 doanh nghiệp đợc xuất nhập khẩu trực tiếp. Một trong những khâu quan
trọng của hoạt động xuất nhập khẩu là vận tải và giao nhận.
Ngành giao nhận Việt Nam mới ra đời và vẫn còn non trẻ nhng hứa hẹn một tơng
lai phát triển mạnh mẽ. Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, việc xây dựng và củng
cố các mối quan hệ vừa là mục tiêu vừa là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp tồn
tại và phát triển. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển dợc trong cơ chế thị trờng
khắc nghiệt này không còn cách nào khác là phải thiết lập đợc một hệ thống các mối
quan hệ với tất cả các lực lợng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty.
Với hệ thống các mối quan hệ đó, công ty mới có đợc một nền tảng, một chỗ dựa
vững chắc để chống chải đợc với cạnh tranh, để thoả mãn tốt nhu cầu và ớc muốn của
khách hàng. Hơn bao giờ hết, giờ đây quan hệ đã trở thành mục tiêu tối thợng của
hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng đặc biệt là các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu.
Chính vì lẽ đó em đã chọn đề tài Giải pháp Marketing hớng tới các mối quan
hệ trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại chi nhánh
Hà Nội công ty TNHH dịch vụ hàng hoá TOP.
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là: tất cả các mối quan hệ vốn có trong hoạt động
kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu mà công ty TOP Hà Nội thiết
lập với các lực lợng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty từ khách
hàng, nhà cung ứng, nhà phân phối tới quan hệ nội bộ bên trong công ty. Tuy nhiên,
những quan hệ này sẽ đợc xem xét dới góc độ Marketing và bằng những biện pháp
Marketing để thiết lập, duy trì và củng cố những mối quan hệ đó.
bị nhng có những nhu cầu không thể đợc thoả mãn bằng những sản phẩm vật chất đó,
đó là nhu cầu dịch vụ. Dịch vụ ra đời ngay khi nền sản xuất hàng hóa xuất hiện và
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của ngành dịch vụ cũng
ngày càng đợc mở rộng không ngừng. Thời gian đầu khi nền kinh tế còn cha phát
triển, ngành dịch vụ chỉ đóng góp khoảng 10% 15% trong tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) về sau ngành dịch vụ có sự tăng trởng phi thờng và ngày càng đóng góp một
phần đáng kể vào GDP, GNP của các quốc gia. Ngày nay ở Hoa Kỳ các công việc
kinh doanh dịch vụ chiếm 77% tổng số việc làm và 70% GNP và dự kiến sẽ sẽ tạo
90% tổng số việc làm mới trong thời gian tới. Cũng nh vậy, ở các nớc công nghiệp
phát triển nh Anh, Pháp, Đức, Nhật ngành dịch vụ hết sức phát triển và đóng góp
vào GDP một tỷ trọng tuyệt đối từ 60% - 90%.
Các ngành dịch vụ hoàn toàn khác nhau. Khu vực nhà nớc với toà án, cơ quan giới
thiệu việc làm, bệnh viện quỹ tín dụng, các cơ quan hậu cần quân đội, cảnh sát và đội
cứu hoả, bu điện các cơ quan hoà giải và trờng học, đều thuộc lĩnh vực dịch vụ. Khu
vực phi lợi nhuận t nhân với các viện bảo tàng, các tổ chức từ thiện, nhà thờ, các tr-
ờng cao đẳng và đại học, các quỹ tài trợ và bệnh viện đều thuộc lĩnh vực dịch vụ. Một
phần không nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh với các công ty hàng không, ngân hàng,
văn phòng dịch vụ máy tính, khách sạn các công ty bảo hiểm, công ty t vấn pháp luật,
công ty t vấn quản lý, các phòng mạch, các hãng điện ảnh, công ty sửa chữa hệ thống
cấp nớc và các công ty buôn bán bất động sản cũng thuộc lĩnh vực dịch vụ.
Nhiều công nhân trong khu vực sản suất cũng làm dịch vụ, nh thao tác viên máy
tính, nhân viên kế toán và những ngời làm công tác pháp lý. Trên thực tế họ đã hợp
thành phân xởng dịch vụ đảm bảo dịch vụ cho phân xởng hàng hóa.
Không chỉ có những ngành dịch vụ truyền thống mà luôn xuất hiện những ngành
dịch vụ mới: với một khoản chi phí nhất định, giờ đây đã có những công ty giúp bạn
cân đối ngân sách của mình, chăm sóc cây cảnh của bạn vào những buổi sáng, chở
bạn đi làm hay giúp bạn tìm một căn nhà mới, một việc làm, một chiếc xe, một ngời
chăm sóc mèo hay một ngời chơi vĩ cầm lang thang. Có lẽ bạn muốn thuê một chiếc
máy kéo làm vờn chăng? một vài con gia súc chăng? một vài bức tranh độc đáo
chăng? hay có thể là vài ngời hippi để trang điểm cho bữa tiệc rợu cooktail sắp tới
I.2. Khái niệm chung về dịch vụ.
1. Định nghĩa dịch vụ
- 4 -
Ngành
Năm
Công nghiệp và
xây dựng
Dịch vụ Nông lâm ng
nghiệp
2002 38.5% 38.5% 23%
2003 39.9% 37.8% 22.3%
Từ trớc đến nay có rất nhiều khái niệm về dịch vụ, đây là vấn đề đã đợc quan tâm từ
rất sớm, tuy ngành kinh doanh này ra đời muộn hơn so với các ngành kinh doanh
khác nhng hoạt động dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trong lớn hơn trong tổng thu nhập
quốc dân.
Các Mác cho rằng: Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà
kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đòi hỏi một sự lu thông hàng hóa trôi chảy, thông
suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngời thì dịch vụ phát
triển.
Theo kinh tế học: Dịch vụ là một khu vực kinh tế, bao gồm một tổ hợp rộng rãi
các ngành nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, của đời
sống vật chất và tinh thần của dân c, đảm bảo sự hoạt động bình thờng, liên tục,
đều đặn và có hiệu quả của nền kinh tế.
Theo nghĩa rộng dịch vụ đợc coi là ngành kinh tế thứ 3. Nh vậy ngành kinh tế nh
hàng không, thông tin đều thuộc dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ khách hàng trớc, trong
và sau khi bán.
Một số ngời lại cho rằng:
Theo nghĩa rộng dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của
môi trờng hoạt động dịch vụ, chẳng hạn các trang thiết bị, dụng cụ, trang trí nội thất,
ánh sáng, màu sắc, con ngời có quan hệ trực tiếp tới hoạt động cung cấp dịch vụ
của doanh nghiệp.
- Dịch vụ có tính không đồng nhất:
Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hoá đợc, lý do trớc hết là do hoạt động cung
ứng. Các nhân viên cung ứng không thể tạo đợc những dịch vụ nh nhau trong những
thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng dịch vụ là ngời tham gia
quyết định chất lợng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Trong những thời gian khác
nhau sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau cũng có sự cảm
nhận khác nhau. Do vậy trong cung cấp dịch vụ thờng thực hiện cá nhân hoá, thoát ly
khỏi quy chế. Điều đó càng làm cho dịch vụ tăng thêm mức độ khác biệt giữa chúng.
Dịch vụ vô hình ở đầu ra nên không thể đo lờng và quy chuẩn hoá đợc. Vì những
nguyên nhân trên mà dịch vụ luôn luôn không đồng nhất, không giống nhau giữa một
dịch vụ này với một dịch vụ khác nhng những dịch vụ cùng loại chúng chỉ khác về l-
ợng trong sự đồng nhất để phân biệt với loại dịch vụ khác.
- Dịch vụ có tính không tách rời:
Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Các sản phẩm cụ thể là
không đồng nhất nhng đều mang tính hệ thống đều từ cấu trúc dịch vụ cơ bản phát
triển thành. Một sản phẩm dịch vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và là kết quả
của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó. Quá trình sản xuất gắn liền với việc
tiêu dùng dịch vụ. Ngời tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung ứng
dịch vụ cho chính mình.
Từ đặc điểm trên ta thấy việc sản xuất cung ứng dịch vụ không đợc tuỳ tiện, trái lại
phải rất thận trọng. Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình sản xuất mới có thể
thực hiện đợc.
- Sản phẩm dịch vụ có tính mau hỏng:
Dịch vụ không thể tồn kho, không thể cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực
này sang khu vực khác đợc. Dịch vụ có tính mau hỏng nh vậy việc sản xuất, mua bán
và tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian. Cũng vì đặc điểm này mà làm mất cân
đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các thời điểm khác nhau trong ngày trong tuần
môn hoá, tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất tăng năng suất lao động, đồng thời đáp
ứng đợc nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, nâng cao chất lợng cuộc
sống cho cộng đồng.
- Phát triển dịch vụ tạo ra nhiều ngành kinh doanh mới, tạo nhiều việc làm.
- Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hớng tối u, đảm bảo sự tăng tr-
ởng của tổng sản phẩm trong nớc.
- Dịch vụ đóng vai trò to lớn trong việc giải phóng phụ nữ, một lực lợng quan trọng
mà các nớc văn minh hiện đang có xu hớng tiến tới bình đẳng giữa nam và nữ, khai
thác tiềm năng lao động lớn lao này.
- Dịch vụ đóng vai trò thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, nâng
cao dân chí và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Phát triển dịch vụ quốc tế trong hoạt động thơng mại có vai trò là cầu nối giữa nền
kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho quá trình hợp tác hội nhập.
I.3. Dịch vụ quốc tế.
1. Sự mở rộng giới hạn địa lý trong kinh doanh dịch vụ.
- 7 -
Hoạt động giao lu kinh tế quốc tế, buôn bán ngoại thơng đã xuất hiện từ rất lâu trên
thế giới. Từ thời kỳ con đờng tơ lụa với hoạt động buôn bán giao lu giữa Trung
Quốc và ấn Độ cho đến thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản chủ nghĩa, rồi thời kỳ
khai thác các nớc thuộc địa á, Phi, Mỹ La Tinh của đế quốc thực dân Anh, Pháp và
cho đến ngày nay hoạt động buôn bán quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
ngoại thơng giữa các quốc gia trên thế giới diễn ra hết sức sôi động và trở thành một
phần tất yếu trong phát triển kinh tế của các quốc gia.
Giờ đây một quốc qia muốn phát triển không thể tách mình ra khỏi các quốc gia
khác mà trái lại muốn phát triển các quốc gia phải dựa vào nhau, quan hệ chặt chẽ
với nhau nh một thể thống nhất trên toàn thế giới. Sản phẩm, dịch vụ của quốc gia
này không chỉ đợc sản xuất, phân phối, tiêu thụ ở chính quốc gia đó mà còn đợc sản
xuất, phân phối, tiêu thụ cả ở những quốc gia khác, thị trờng ở đây không chỉ của
riêng ai mà nó là thị trờng chung của toàn thế giới.
triển.
- Giúp các quốc gia triệt để tận dụng những lợi thế của mình so với các quốc gia
khác đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn thế giới.
-Rút ngắn sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia đã phát triển
với các quốc gia kém phát triển.
- Đẩy nhanh sự phân công lao động quốc tế, tạo nhiều việc làm với thu nhập cao
góp phần nâng cao mức sống của dân c.
- Tăng cờng các hoạt động giao lu văn hoá giữa các quốc gia có nền văn hoá khác
nhau trên thế giới.
- Thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các hiệp hội hợp tác kinh tế trong khu vực và
trên thế giới.
II. Cơ sở lý luận về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập
khẩu.
II.1. Khái niệm chung về dịch vụ vận tải quốc tế.
1. Định nghĩa phân loại vận tải.
1.1. Định nghĩa.
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con ngời nhằm đáp ứng nhu cầu
di chuyển vị trí của đối tợng vận chuyển. Đối tợng vận chuyển gồm con ngời và vật
phẩm (hàng hóa). Sự di chuyển vị trí của con ngời và vật phẩm trong không gian rất
đa dạng phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải chỉ bao gồm
những di chuyển do con ngời tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng
nhu cầu về sự di chuyển đó mà thôi. (theo sách Vận tải- Giao nhận hàng hóa xuất
nhập khẩu của PGS,TS Hoàng Văn Châu).
1.2. Phân loại vận tải.
Có nhiều cách phân loại vận tải, phụ thuộc vào các tiêu chuẩn lựa chọn:
- Nếu căn cứ vào tính chất của vận tải, có thể phân ra: vận tải nội bộ xí ngiệp và vận
tải công cộng.
- Căn cứ vào môi trờng sản xuất, có thể chia vận tải thành các phơng thức sau đây:
vận tải đờng biển, vận tải thuỷ, vận tải hàng không, vận tải ô tô, vận tải đờng sắt, vận
tải đờng ống, vận tải vũ trụ.
ngành vận tải có những điểm khác biệt về quá trình sản xuất, về sản phẩm và tiêu thụ
sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Môi trờng sản xuất của vận tải là không gian, luôn di động chứ không cố định nh
các ngành khác;
- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tợng lao
động chứ không phải là sự tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình
dáng kích thớc của đối tợng.
- Sản phẩm của vận tải mang tính vô hình.
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ
làm thay đổi vị trí của hàng hóa và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hóa.
Từ những đặc điểm trên C. Mác cho rằng vận tải là một ngành sản xuất đặc biệt.
3. Vai trò tác dụng của vận tải trong nền kinh tế quốc dân.
Vận tải giữ vai trò rất quan trọng và có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế quốc dân
của mỗi nớc. Hệ thống vận tải đợc ví nh mạch máu của cơ thể con ngời, nó phản ánh
trình độ phát triển của một nớc. Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội: sản xuất, lu thông, tiêu dùng, quốc phòng. Trong sản xuất ngành vận tải vận
chuyển nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, lao động để phục vụ quá
- 10 -
trình sản xuất. Vận tải là yếu tố quan trọng của lu thông. C. Mác nói Lu thông có
nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian đợc giải quyết bằng vận
tải. Vận tải là sự tiếp tục của quá trình sản xuất ở bên trong quá trình lu thông và
vì quá trình lu thông đó . Ngành vận tải có nhiệm vụ đa hàng hóa tới nơi tiêu dùng.
Vận tải tạo ra khả năng thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa. C. Mác nói Sản
phẩm chỉ sẵn sàng để tiêu dùng khi nó kết thúc quá trình di chuyển đó
Tác dụng của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:
- Ngành vận tải sáng tạo ra một phần đáng kể tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân;
- Vận tải đáp ứng nhu cầu di chuyển ngày càng tăng của hàng hóa và con ngời
trong xã hội;
đóng gói, lu kho, đa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải
hàng hóa dọc đờng, dỡ hàng hóa ra khỏi tàu và giao cho ngời nhận.
Lúc đầu khi hoạt động buôn bán ngoại thơng cha phát triển, những công việc trên
đợc các hãng cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế đảm nhận. Đến khi thơng mại quốc tế
phát triển mạnh mẽ, lợng hàng xuất nhập khẩu lớn, các hãng cung ứng dịch vụ vận tải
quốc tế nhận thấy rằng: nếu chỉ chuyên môn hoá vào việc vận tải hàng hóa thôi thì
hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn bởi vì hai lý do, thứ nhất là: thơng mại quốc tế phát triển,
lợng hàng hóa xuất nhập khẩu nhiều đòi hỏi hãng vận tải phải mở rộng quy mô, quy
mô lớn lên dẫn đến chi phí cố định phân bổ giảm dần và đạt tới điểm tối u. Thứ hai
là: theo hiệu ứng đờng cong kinh nghiệm, nếu chỉ chuyên vào việc vận tải hàng hóa
sẽ làm giảm tiếp cả chi phí biến đổi dẫn đến việc đạt đợc hiệu quả cao trong kinh
doanh. Chính vì vậy những công việc giao nhận trên đã tách ra và phát triển thành
một ngành kinh doanh riêng và do ngời giao nhận đảm nhiệm. Từ đó, trong vận tải
hàng hóa quốc tế xuất hiện sự chuyên môn hoá gồm hai ngành kinh doanh, ngành
vận tải quốc tế và ngành giao nhận.
II.3. Định nghĩa giao nhận và ngời giao nhận.
1. Định nghĩa về giao nhận.
Dịch vụ giao nhận, theo Quy tắc mẫu của FIATA (Liên đoàn quốc tế các hiệp hội
giao nhận) về dịch vụ giao nhận, là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận
chuyển, gom hàng, lu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng nh các
dịch vụ t vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài
chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa.
Theo luật thơng mại Việt Nam thì giao nhận hàng hóa là hành vi thơng mại, theo
đó ngời làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ ngời gửi, tổ chức vận
chuyển, lu kho, lu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để
giao hàng cho ngời nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của ngời vận tải hoặc ngời
giao nhận khác.
2. Định nghĩa về ngời giao nhận.
Ngời kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là ngời giao nhận( forwarder, freight
forwarder, forwarding agent). Ngời giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty
với lô hàng xuất); thuê tàu lu khoang, thông báo cho ngời nhận, dỡ hàng và xử lý
hàng nhập, khai báo hải quan hay chuyển tiếp hàng quá cảnh, lu kho và phân phối
hàng, giao hàng tại địa phơng, gián nhãn hiệu, khảo sát đơn hàng (đối với lô hàng
nhập).
Tiếp sau đây sẽ trình bày về những dịch vụ mà ngời giao nhận tiến hành:
- Chuẩn bị hàng để chở
- Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga cảng
- Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
- Làm t vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
- Ký kết hợp đồng vận tải với ngời chuyên chở, thuê tàu, lu cớc
- Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
- Làm thủ tục hải quan kiểm nghiệm kiểm dịch
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa
- Lập chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh toán
- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
- Nhận hàng từ chủ hàng giao cho ngời chuyên chở và giao cho ngời nhận
- Thu xếp chuyển tải hàng hóa
- Nhận hàng từ ngời chuyên chở và giao cho ngời nhận hàng
- Gom hàng, lựa chọn tuyến đờng vận tải, phơng thức vận tải và ngời chuyên chở
thích hợp
- Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa
- Lu kho, bảo quản hàng hóa
- Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hàng hóa
- 13 -
- Thanh toán cớc phí, chi phí lu kho lu bãi
- Thông báo tình hình đi, đến của các phơng tiện vận tải
- Thông báo tổn thất tới ngời chuyên chở
- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thờng.
II.5. Đặc điểm và vai trò của dịch vụ giao nhận.
- 14 -
Trớc đây ngời giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của ngời chuyên chở. Anh ta
chỉ hoạt động nh một cầu nối giữa ngời gửi hàng và ngời chuyên chở nh là một đại lý
của ngời chuyên chở hoặc của ngời gửi hàng. Ngời giao nhận nhận uỷ thác từ chủ
hàng hoặc từ ngời chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau nh nhận hàng,
giao hàng, làm thủ tục hải quan, lu kho trên cơ sở hợp đồng uỷ thác.
- Ngời gom hàng (Consolidator).
ở châu âu, ngời giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho
vận tải đờng sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hóa bằng container dịch vụ gom hàng là
không thể thiếu đợc nhằm biến hàng lẻ thành hàng nguyên để tận dụng sức chở của
container và giảm cớc phí vận tải. Khi là ngời gom hàng ngời giao nhận có thể đóng
vai trò là ngời chuyên chở hoặc chỉ làm đại lý.
- Ngời chuyên chở (Carrier).
Ngày nay trong nhiều trờng hợp ngời giao nhận đóng vai trò là ngời chuyên chở,
tức ngời giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm
chuyên chở hàng hóa từ một nơi này đến một nơi khác. Ngời giao nhận đóng vai trò
là ngời thầu chuyên chở nếu anh ta ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở. Nếu
anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta là ngời chuyên chở thực tế.
- Ngời kinh doanh dịch vụ vận tải đa phơng thức (Multimodal Transport Operator).
Trong trờng hợp ngời giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hay còn gọi là vận
tải từ cửa đến cửa thì ngời giao nhận đã đóng vai trò là ngời kinh doanh vận tải đa ph-
ơng thức ( MTO ).
MTO cũng là ngời chuyên chở và phải chịu trách nhiệm với hàng hóa
Ngời giao nhận còn đợc gọi là kiến trúc s của vận tải vì ngời giao nhận có khả
năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất.
II.6. Nội dung của hoạt động giao nhận.
Thông thờng thì ngời làm công tác giao nhận sẽ làm tất cả các thủ tục, giải quyết
các vấn đề liên quan đến vận chuyển hàng hóa quốc tế từ tay ngời bán đến tay ngời
mua, ngoại trừ trờng hợp ngời bán hoặc ngời mua trực tiếp can thiệp vào một khâu
- Giúp đỡ ngời gửi hàng tiến hành việc khiếu nại với ngời vận chuyển về tổn thất
hàng(nếu có).
2. Thay mặt ngời nhận hàng hay ngời nhập khẩu.
- Thay mặt ngời nhận hàng giám sát việc chuyển dịch hàng khi ngời nhận hàng lo
việc vận tải hàng nh nhập khẩu theo FOB chẳng hạn.
- Nhận và kiểm soát mọi chứng từ thích hợp liên quan đến việc chuyển dịch hàng.
- Nhận hàng từ ngời vận tải và nếu cần, trả cớc phí.
- Sắp xếp việc khai hải quan và trả thuế, lệ phí và các chi phí khác cho hải quan và
các cơ quan công quyền khác.
- Sắp xếp việc lu kho quá cảnh nếu cần.
- Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho ngời nhận.
- Giúp đỡ ngời nhận hàng tiến hành khiếu nại đối với hãng tàu về mất mát hàng hay
bất cứ h hại nào đối với hàng.
- Giúp ngời nhận hàng trong việc lu kho và phân phối hàng nếu cần.
3. Các dịch vụ khác.
Ngoài các dịch vụ đã nêu ở trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng của mình,
ngời giao nhận cũng có thể làm các dịch vụ khác phát sinh trong các nghiệp vụ quá
- 16 -
cảnh và các dịch vụ đặc biệt khác nh các dịch vụ gom hàng hay tập trung hàng liên
hệ đến hàng hóa theo dự án, các dự án chìa khoá trao tay( cung cấp thiết bị, nhà x-
ởng ) sẵn sàng cho vận hành. Ng ời giao nhận cũng có thể thông báo cho khách
hàng của mình về nhu cầu tiêu dùng, các thị trờng mới, tình hình cạnh tranh, chiến l-
ợc xuất khẩu, các điều khoản thơng mại thích hợp cần phải có trong hợp đồng ngoại
thơng và tóm lại mọi việc liên quan đến việc kinh doanh của mình.
III. Các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh dịch
vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
Cũng nh các ngành kinh doanh khác, ngành dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập
khẩu chịu ảnh hởng mạnh mẽ bởi các nhân tố thuộc môi trờng vĩ mô và vi mô.
III.1. Những nhân tố thuộc môi trờng vĩ mô.
Sự ảnh hởng đầu tiên thể hiện ở chỗ: yếu tố tự nhiên ảnh hởng tới lợi thế so sánh về
các sản phẩm xuất nhập khẩu do đó nó ảnh hởng đến ngành dịch vụ giao nhận.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hởng quyết định tới các hình thức vận tải có thể đợc sử
dụng.Việt Nam có bờ biển dài thuận lợi phát triển phơng thức vận tải hàng hoá xuất
nhập khẩu bằng đờng biển, có mật độ sông ngòi lớn phát triển vận tải thuỷ nội địa, có
đờng biên giới kế cận nhiều nớc và với địa hình dài, hẹp thuận lợi phát triển vận tải đ-
ờng sắt Bắc Nam, đờng sắt xuyên Việt.
Kinh doanh dịch vụ giao nhận chịu ảnh hởng trực tiếp của sự phát triển ngành vận
tải, ngành vận tải tới lợt mình chịu sự tác động mạnh mẽ bởi giá xăng dầu, nhiên liệu,
năng lợng.
Ngày nay, sự thiếu hụt tài nguyên, nhiên liệu năng lợng đang là một vấn đề bức xúc
trên toàn thế giới, giá nhiên liệu năng lợng liên tục gia tăng ảnh hởng mạnh mẽ tới
ngành vận tải và do đó cũng ảnh hởng không nhỏ tới ngành dịch vụ giao nhận.
Yếu tố khí hậu, thời tiết có ảnh hởng tới hoạt động giao nhận thông qua sự tác động
của nó tới ngành vận tải. Khí hậu, thời tiết ảnh hởng tới tuyến đờng vận tải, phơng
thức vận tải thích hợp, thời gian vận chuyển
3. Môi trờng kinh tế.
Môi trờng kinh tế có ảnh hởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp. Sự biến động
hay thay đổi trong nền kinh tế có ảnh hởng đến tất cả các doanh nghiệp, song mức độ
ảnh hởng đối với mỗi doanh nghiệp là không giống nhau. Khi một nền kinh tế đang
trên đà phát triển, mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng, nhng các nhà
Marketing vẫn tìm đợc nhiều cơ hội phát triển. Ngợc lại khi nền kinh tế suy yếu, thất
nghiệp gia tăng, lãi suất tăng, doanh số bán hàng giảm kèm theo số lợng và chất lợng
dịch vụ giảm. Trong điều kiện đó thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp rất hạn
chế.
Dịch vụ vận tải quốc tế hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đờng biển nói chung và dịch
vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đờng biển nói riêng là một ngành chịu
ảnh hởng rất lớn bởi sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là chính
sách kinh tế, mức độ tăng trởng GDP, hoat động và hiệu quả xuất nhập khẩu hàng
hóa trên thị trờng Việt Nam. Ngoại thơng có phát triển thì các nhu cầu vận chuyển
quyết đợc tình trạng ùn tắc tại các cảng.
6. Môi trờng văn hoá.
Văn hoá là một trong hai lực lợng quyết định tới mong muốn của khách hàng. Xã
hội mà con ngời lớn lên trong đó đã định hình niềm tin cơ bản, giá trị và các chuẩn
mực đạo đức của họ. Con ngời hấp thụ, hầu nh một cách không có ý thức, một thế
giới quan xác định mối quan hệ của họ với chính bản thân mình, với ngời khác, với tự
nhiên và với vũ trụ.
Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, các đối tác có liên quan đến hoạt động của
công ty có thể ở những quốc gia khác nhau với nền văn hoá không giống nhau. Chính
vì lẽ đó, để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, công ty nhất thiết trong từng mối
quan hệ phải tìm hiểu văn hoá của đối tác có nh vậy mới biết đợc đâu là những giá trị
văn hoá cơ bản, những niềm tin bất biến, những điều cấm kỵ và những điều nên
tránh, bên cạnh đó cần tìm ra những nét tơng đồng và những điều khác biệt giữa văn
hoá của các nớc khác nhau từ đó đa ra những biện pháp phù hợp đáp ứng, thoả mãn
nhu cầu của từng đối tác trong từng mối quan hệ của công ty.
Ngoài ra, trong cùng một nền văn hoá còn có những nhánh văn hoá khác nhau, do
vậy trong kinh doanh công ty không những chỉ tìm hiểu về nền văn hoá mà còn phải
có những hiểu biết về từng nhánh văn hoá khác nhau có nh vậy mới không phạm vào
điều cấm kỵ của từng nhánh văn hoá, mới có những chính sách thích hợp với từng
nhánh văn hoá khác nhau.
Tóm lại muốn có đợc mối quan hệ bền chặt với đối tác, không còn cách nào khác là
công ty phải hiểu và học theo văn hoá của đối tác đó.
- 19 -
III.2. Những nhân tố thuộc về môi trờng vi mô.
1.Bản thân doanh nghiệp:
Doanh nghiệp bản thân là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, tự đa ra những
quyết định kinh doanh và quyết định Marketing. Doanh nghiệp bao gồm một hệ
thống khác nhau những hoạt động, những mối quan hệ giữa các bộ phận tạo ra môi
trờng Marketing trong nội bộ doanh nghiệp.
chính cạnh tranh sẽ thúc đẩy ngành ngày càng phát triển và cạnh tranh giống nh một
chiếc máy chọn lọc tự nhiên, ai thắng trong cạnh tranh thì tồn tại, bại thì tất yếu sẽ bị
đào thải và kết quả là những doanh nghiệp còn tồn tại trên thị trờng là những doanh
- 20 -
nghiệp có đầy đủ năng lực, có khả năng thoả mãn tốt nhu cầu và mong muốn của
khách hàng.
Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, bên cạnh việc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp giao nhận với nhau còn có sự cạnh tranh giữa ngành giao nhận và ngành vận
tải. Các hãng cung cấp dịch vụ vận tải nh các hãng tàu, hãng hàng không cũng
kiêm luôn cả việc kinh doanh dịch vụ giao nhận. Do vậy số lợng các đối thủ cạnh
tranh trong thị trờng giao nhận là rất lớn, tiềm lực thờng mạnh, với những biện pháp,
chiến lợc kinh doanh tinh vi và biến đổi khôn lờng luôn là thử thách đầy cam go cho
mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong ngành.
4. Những nhà phân phối.
Phạm vi kinh doanh trong dịch vụ giao nhận không chỉ giới hạn trong một quốc gia
mà nó vợt ra ngoài biên giới của quốc gia đó. Lý do là ngời mua và ngời bán trong
quan hệ ngoại thơng ở những quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, muốn kinh doanh
trong ngành dịch vụ giao nhận bắt buộc công ty phải có một mạng lới các đại lý rộng
khắp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Các đại lý này vừa là nguồn hàng của công ty vừa là những nhà phân phối giúp
hoàn tất các khâu dịch vụ mà công ty đã đảm nhận với khách hàng.
Mạng đại lý vừa là điều kiện tồn tại của công ty vừa là động lực giúp công ty phát
triển. Với vai trò quan trọng đó, công ty cần phải tìm hiểu nhu cầu, ớc muốn của các
đại lý, có chính sách khuyến khích hỗ trợ, tìm hiểu mục tiêu và giải quyết các mâu
thuẫn giữa các thành viên nhằm tăng c ờng sự hợp tác giữa công ty với mạng đại lý
tạo điều kiện cho công ty tồn tại và phát triển.
5. Khách hàng.
Khách hàng là lực lợng quan trọng nhất mà công ty hớng tới, muốn tồn tại và phát
triển công ty phải thoả mãn đợc nhu cầu của khách hàng và tất nhiên sự thoả mãn đó
Hà Lan, Mỹ đặc biệt là Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận gọi tắt là
FIATA.
2. Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận.
Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận ( FIATA), thành lập năm 1926 là một tổ
chức giao nhận vận tải lớn nhất thế giới. FIATA là một tổ chức phi chính trị, tự
nguyện, là đại diện của 35.000 công ty giao nhận ở 130 nớc trên thế giới. Thành viên
của FIATA là các hội viên chính thức và các hội viên hợp tác. Hội viên chính thức là
liên đoàn giao nhận của các nớc còn hội viên hợp tác là các công ty giao nhận riêng
lẻ.
FIATA đợc sự thừa nhận của các cơ quan Liên Hợp Quốc (LHQ), Hội đồng kinh tế
xã hội LHQ, Hội nghị của LHQ về thơng mại và phát triển, uỷ ban Châu âu của
LHQ.
FIATA cũng đợc các tổ chức liên quan đến buôn bán và vận tải nh phòng thơng
mại quốc tế, hiệp hội vận chuyển hàng không quốc tế và các tổ chức của ngời chuyên
chở, chủ hàng thừa nhận.
Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và tăng cờng lợi ích của ngời giao nhận trên
phạm vi quốc tế; nâng cao chất lợng dịch vụ giao nhận; liên kết nghề nghiệp; tuyên
truyền dịch vụ giao nhận, vận tải; xúc tiến quá trình đơn giản hoá và thông nhất
chứng từ và các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nhằm cải tiến chất lợng dịch vụ của
hội viên; đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế; tăng cờng các quan hệ phối hợp giữa
các tổ chức giao nhận với chủ hàng và ngời chuyên chở.
IV.2. Tại Việt Nam.
1. Sự ra đời của ngành dịch vụ giao nhận Việt Nam là sự kết hợp của ba nhân tố.
Sự ra đời của ngành dịch vụ giao nhận kho vận Việt Nam là kết quả của sự kết hợp
giữa ba điều kiện sau:
Sự phát triển của ngành dịch vụ giao nhận trên thế giới:
- 22 -
Bất cứ quốc gia nào trên thế giới so với các quốc gia khác đều có u thế trong việc
sản xuất một số mặt hàng nào đó, nó có thể là lợi thế tuyệt đối hoặc lợi thế so sánh.
thuê tàu, đóng gói hàng hoá, làm thủ tục hải quan, thuê kho bãi
Về sau, cùng với quá trình chuyên môn hoá sâu rộng, các nhà xuất nhập khẩu của
Việt Nam muốn tập trung nguồn lực của mình vào quá trình sản xuất do họ nhận thấy
việc đầu t cho quá trình phân phối không đem lại hiệu quả cao. Từ đây, nhu cầu về sự
ra đời của những chuyên gia giao nhận kho vận xuất hiện.
- 23 -
Ngành dịch vụ giao nhận kho vận ra đời là một tất yếu khách quan, nó đem lại hiệu
quả cho hoạt động xuất nhập khẩu, buôn bán ngoại thơng nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế quốc dân nói chung.
2. Các công ty giao nhận quốc tế ở Việt Nam.
Những năm 60, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt Nam nang tính chất phân tán.
Các đơn vị xuất nhập khẩu tự đảm nhận việc chuyên chở hàng hóa của mình, vì vậy
các công ty xuất nhập khẩu thành lập riêng phòng kho vận, chi nhánh xuất nhập
khẩu, trạm giao nhận ở các cảng ga liên vận đờng sắt.
Những năm gần đây nền kinh tế nớc ta chuyển dần sang cơ chế thị trờng, dịch vụ
giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu không còn do Vietrans ( Tổng công ty giao nhận
và kho vận ngoại thơng) độc quyền nữa (trong thời kỳ bao cấp Vietrans là cơ quan
duy nhất đợc phép giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu) mà do nhiều cơ quan, công ty
khác tham gia, trong đó có nhiều chủ hàng ngoại thơng tự đảm nhiệm công tác giao
nhận.
Do sự phát triển mạnh mẽ của thị trờng giao nhận Việt Nam, để bảo vệ quyền lợi
của các nhà giao nhận, Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFAS) đã đợc thành
lập năm 1994 và đã trở thành viên chính thức của FIATA.
Cho đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng gần 200 doanh nghiệp kinh doanh
trong lĩnh vực giao nhận - vận tải thuộc đủ các thành phần kinh tế: nhà nớc, t nhân,
liên doanh
V. Marketing quan hệ, một phần tất yếu trong kinh doanh
dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
V.1. Quan hệ và vai trò của các mối quan hệ.
xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp mình và cả những đối tác đó. Quan hệ là
điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một chủ thể kinh tế nào.
Khi mà các chủ thể nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết phải thiết lập mối
quan hệ với nhau họ sẽ cố gắng cùng nhau xây dựng, duy trì và củng cố mối quan hệ
đó.
Mối quan hệ nh một chất kết dính, một thứ keo không màu liên kết các chủ thể lại
với nhau thành một hệ thống. Khi môi trờng kinh doanh biến động, hệ thống nào có
sự liên kết bền chặt sẽ tồn tại và vợt qua đợc những biến động đó, ngợc lại hệ thống
nào với sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ sẽ tan dã và các chủ thể trong đó sẽ gặp
khó khăn trong kinh doanh và rất có thể sẽ tiêu vong (phá sản) khi biến động xảy ra.
Ngày nay cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp đơn lẻ mà nó diễn ra
giữa các hệ thống với nhau. Muốn thắng trong cạnh tranh mỗi hệ thống cần có đợc sự
liên kết chặt chẽ giữa các thành viên, liên kết càng chặt chẽ bao nhiêu thì cơ hội
thắng càng lớn bấy nhiêu.
Trong mục tiêu thoả mãn khách hàng, mỗi hệ thống đều hớng các hoạt động của
mình tới khách hàng, các thành viên biết hy sinh những lợi ích riêng vì mục tiêu
chung của toàn hệ thống. Tính thống nhất trong hệ thống càng cao, mối liên kết giữa
các thành viên càng chặt chẽ thì khả năng thoả mãn khách hàng càng hiện thực hơn.
V.2. Những mối quan hệ chính trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa
xuất nhập khẩu.
Cũng nh các ngành kinh doanh khác, ngành dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập
khẩu cần thiết có đợc những mối quan hệ với các đối tợng sau: với khách hàng, với
nhà cung ứng, với đại lý phân phối, với cơ quan công quyền và quan hệ nội bộ.
Hơn nữa, các mối quan hệ đó là vô cùng quan trọng đối với ngời kinh doanh dịch
vụ giao nhận vì bản thân ngời giao nhận khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng họ
phải thuê các nhà cung ứng và thông qua mạng lới đại lý để hoàn tất các khâu dịch vụ
đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- 25 -