Tài liệu ôn tập cho hoc sinh lớp 9 - Pdf 27

TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM (Ngữ văn 9)
I- Truyện “Làng” – Kim Lân:
1- Truyện ngắn “Làng” đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình
yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai . Đó là tình huống nào?
Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân sở dĩ hấp dẫn người đọc từ đầu đến cuối, nhân
vật ông Hai sở dĩ trở nên thân quý với người đọc, chính là vì tác giả đã sáng tạo ra được
một tình huống truyện đặc sắc , Tình huống truyện đã làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê
và tinh thần yêu nước ở người nông dân. Đó là tình huống ông Hai tình cờ nghe được
tin dân làng Chợ Dầu yêu quý của ông đã trở thành Việt gian theo Pháp, phản lại
kháng chiến, phản lại Cụ Hồ.
Tình huống này xét về mặt hiện thực rất hợp lý; về mặt nghệ thuật nó tạo nên một
cái nút thắt của câu chuyện. Tình huống bất ngờ ấy đã khiến ông Hai đau xót, tủi hổ , day
dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước, mà tình cảm nào cũng
tha thiết, mạnh mẽ. Đặt nhân vật vào tình huống ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai
tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến đã chi phối
và thống nhất mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kỳ kháng chiến.
2-Nhận xét những nét nghệ thuật chính của truyện ngắn “Làng” (nghệ thuật miêu tả tâm
lý nhân vật, ngôn ngữ nhân vật) ?
-Miêu tả tâm lý nhân vật:Tâm trạng của nhân vật chính (ông Hai) là tâm trạng của người
nông dân Bắc Bộ được miêu tả rất cụ thể, tỉ mỉ, có diễn biến có quá trình, được biểu hiện
qua từng suy nghĩ, thái độ, cử chỉ, lời nói và hành động. Như thể là tác giả đã nhập thẳng
vào nhân vật ông Hai mà miêu tả, mà kể, mà phân tích , mà lý giải từng diễn biến nhỏ của
nỗi lòng.
+Đặt nhân vật trong một tình huống bất ngờ mà hợp lý không chỉ tạo thành nút truyện , tạo
sự căng thẳng và hấp dẫn của truyện mà còn là dịp tốt để đẩy câu chuyện đến cao trào, để
có dịp trình bày những day dứt, những đau khổ và giải tỏa của nhân vật và là dịp tốt để
khẳng định chủ đề, ca ngợi tình yêu làng yêu quê, yêu nước gắn bó như thế nào, mang màu
sắc riêng độc đáo như thế nào trong tâm hồn người nông dân Việt Nam.
+Nhân vật ông Hai vừa chân thật,vừa giản dị , vừa sống động lại có chiều sâu. Đó là hình
ảnh tiêu biểu và phổ biến của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp
với quyết tâm sẵn sàng:

nổi bật ở nhân vật ông
Hai.
II- Thân bài:(Triển
khai các nhận định về
tình yêu làng, lòng yêu
nước ở nhân vật ông
Hai và nghệ thuật đặc
sắc của nhà văn.)
a/ Tình yêu làng yêu
nước của nhân vật ông
Hai là tình cảm nổi bật,
xuyên suốt toàn truyện:
-Chi tiết đi tản cư nhớ
làng
-Theo dõi tin tức kháng
chiến
-Tâm trạng khi nghe
tin đồn làng chợ Dầu
theo Tây.
I-
1/(Đi từ khái quát đến cụ thể - từ nhà văn đến tác phẩm đến nhân
vật);
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một
giương mặt độc đáo. Do hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu
sâu sắc sinh hoạt , tâm lý của người nông dân. Kim Lân được
xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với
những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà . “Làng” là một trong những
truyện ngắn đặc sắc của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong
thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, thể hiện một cách
sinh động vẻ đẹp tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông dân.

-Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng
chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì
ông như bị sét đánh về cái tin cả làng Dầu “Việt gian theo Tây” .
+Ông sững sờ, “cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân,
lặng đi, tưởng như không thở được ”- một cái tin động trời mà
trước đó ông không thể tin, không thể ngờ lại có thể xảy ra như
thế . Ông Hai còn cố gắng hỏi lại để hy vọng đó chỉ là tin đồn
thất thiệt. Nhưng rồi, bằng những chứng cứ cụ thể, ông Hai đành
phải tin cái sự thật khủng khiếp ấy. Cử chỉ đầu tiên của ông là
lảng chuyện, cười cái nhạt thếch của sự bẽ bàng, rời quán về nhà
(nơi tản cư). Những câu nói mỉa móc, căm ghét của những người
tản cư nói về cái làng Việt gian ấy đuổi theo ông làm ông xấu hổ,
ê chề như là họ đang mắng chửi chính ông-vì ông là người chợ
Dầu, cái làng đốn mạt ấy. Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi : đi
trong sự trốn tránh vì xấu hổ và nhục nhã.
+Về đến nhà , ông nằm vật ra giường như bị cảm.Trong đau
khổ và xấu hổ, nhục nhã nhìn đàn con chơi đùa, ông Hai nghĩ đến
sự hắt hủi,khinh bỉ của nọi người dành cho ngững đứa trẻ của cái
làng Việt gian. Thương con, ông thoắt vô cùng căm giận dân làng
- những kẻ mà ông đã gọi là chúng bay một cách căm ghét và
khinh bỉ . Ông nguyền rủa họ đã làm một việc điếm nhục bậc
nhất hại đến danh dự của làng, và tội còn to hơn thế: đó là tội
phản bội, đầu hàng, bán nước.
+ Nhưng rồi ông lại khó tin là chuyện tày đình ấy có thể xảy
ra. Nhưng những chứng cứ hiển nhiên trở lại làm ông đành một
lần nữa cay đắng chấp nhận sự thật và sự nhục nhã, sự giày vò
tâm trí lại sôi réo trong lòng ông. Ông nghĩ tới sự tẩy chay của
mọi người, tới tương lai chưa biết làm ăn sinh sống như thế nào?
Cụ thể nhất là ông sắp phải đón đợi thái độ ghẻ lạnh , móc máy
của mụ chủ nhà khó tính, lắm điều.

nhân vật
-Các hình thức trần
thuật.
đớn biết bao. Ông chỉ còn biêt san vợi phần nào nỗi đau ấy trong
câu chuyện với đứa con út còn thơ dại.
+Đoạn đối thoại đã biểu hiện tình cảm thiêng liêng và sâu
nặng của ông Hai với quê hương, đất nước, với kháng chiến, với
Cụ Hồ. Những lời tâm tình thủ thỉ của ông với đứa con nhỏ đó
chính là tiếng lòng sâu thẳm của ông, nó nói lên thành tiếng
quyết tâm và ý chí của ông, tâm sự của ông trong một hoàn cảnh
cụ thể của ông với quê hương, với kháng chiến , với vị lãnh tụ
kính yêu của toàn dân. Đó là tự nhủ giải bày lòng mình, như là tự
minh oan cho chính mình . Đó là tình yêu sâu nặng với cái làng
quê đang tạm thời phải xa, phải thù. Đó là tấm lòng chung thủy
với cách mạng và kháng chiến, tấm lòng biết ơn chân thành, bền
vững và thiêng liêng cho đến chết:
Anh em đồng chí biết cho bố con ông
Cụ Hồ trên đầu trên cổ soi xét cho bố con ông
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai.
Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.
quả là những suy nghĩ và lời lẽ chân thành rất mực, mộc mạc rất
mực của người nông dân nghèo Bắc Bộ.
+ Nhưng rồi cái tin làng theo giặc được cải chính. Đến lúc
này, mọi nỗi đau của ông Hai biến mất. Mới đến ngõ, chưa vào
nhà, ông đã “bô, bô”, rồi “lật đật” sang nhà bác Thứ, “lật đật”
bỏ lên nhà trên,“lật đật” đi nơi khác để khoe. Vừ khoe vừ múa
tay lên. Ông vui vì làng ông vẫn kiên gan đi theo kháng chiến ,
vui đến mức chuyện nhà ông bị Tây đốt nhẵn tở thành nhỏ bé,
không đáng lưu tâm. Chi tiết này khiến người đọc cảm thấy cảm
động hơn, trân trọng hơn tình yêu làng,tình yêu Tổ quốc, yêu

nào trong tâm hồn người nông dân Việt Nam.
+Tác giả nắm bắt, thể hiện rất sinh động và tài tình nét tâm lý
nổi bật của người nông dân là tình yêu làng và tâm lý cộng đồng.
Tình yêu làng của ông Hai tiêu biểu và độc đáo. Không chỉ diễn
tả chính xác, tinh tế các trạng thái tâm lý mà còn miêu tả thành
công những quá trình vận động chuyển biến của tâm trạng nhân
vật. Tác giả đã dùng nhiều biện pháp miêu tả tâm lý nhân vật :đối
thoại, độc thoại và qua những trạng thái cảm xúc trực tiếp
+Ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật rất sinh động, gần
gũi với lời ăn tiếng nói, cách nghĩ của người nông dân.
*Có thể nói Kim Lân đã thấu hiểu và diễn tả thực sinh động và
cảm động tâm lý của người nông dân mà hiếm thấy cây bút nào
đạt được như vậy.
III-
Ông Hai trong “Làng” là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc với
người đọc . Qua truyện ngắn này, bằng những tình huống, chi tiết
chân thực , thú vị, bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý sinh động, Kim
Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng hấp dẫn về người
nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp . Tình
yêu tha thiết, sự gắn bó sâu nặng với làng quê, đất nước của nhân
vật ông Hai luôn luôn có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các
thế hệ bạn đọc.
(Một kết luận khác: Ông Hai là một người nông dân chất phác có
tình yêu làng, gắn liền với tình yêu nước . Tinh yêu làng được thể
hiện độc đáo và cảm động. Tình yêu đó gắn liền với tình yêu
kháng chiến, căm ghét bọn Việt gian bán nước và giặc Pháp xâm
lược . Đặc sắc của truyện “Làng” là mieu tả tâm lý với diễn biến
phức tạp; giáo dục tình yêu quê hương đất nước, gắn với cội
nguồn, với truyền thống gia đình, quê hương.)
II- LẶNG LẼ SA PA - Nguyễn Thành Long

Sa Pa với vẻ đẹp trong suy nghĩ, cảm xúc và công việc của các nhân vật cùng mối quan hệ
của họ.
- Cốt truyện thật đơn giản, xoay quanh tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô
kĩ sư mới ra trường với anh thanh niên một mình sống và làm việc trên đỉnh Yên Sơn trong
trạm khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong chốc lát nhưng đã đủ để
các nhân vật xuất hiện, gây được ấn tượng và gợi được những suy nghĩ, cảm xúc với nhiều
âmvang.
- Lựa chọn được điểm nhìn trần thuật hợp lý, từ cái nhìn và tâm trạng của người họa sĩ già
- một nghệ sĩ nhiều từng trải và chiêm nghiệm về cuộc đời và nghệ thuật – là người thể
hiện những suy nghĩ , tình cảm của tác giả , nhân vật ông họa sĩ có vai trò quan trọng đặc
biệt trong truyện sau nhân vật chủ chốt anh thanh niên.
-Nhân vật chính xuất hiện sau , qua lời kể của nhân vật phụ có tác dụng làm cho người đọc
có ấn tượng mạnh với nhân vật chính và tò mò thích thú khi được trực tiếp tiếp xúc với
nhân vật.
- Tất cả các nhân vật không được đặt tên (cả nhân vật chính): tác giả muốn vô danh họ,
bình thường hóa họ, muốn nói rằng đó là những con người lao động bình thường, phổ
biến, thường gặp trong quần chúng nhân dân ta trên khắp nẻo đường đất nước.
4-TLV: Nhân vật anh thanh niên làm công tác quan trắc khí tượng trong truyện
ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.
(Tham khảo bài viết trong sách ngữ văn 9 tập II trang 62)
Bài viêt sau đây phân tích dựa theo trình tự mà nhà văn vận dụng để khắc họa nhân vật : từ
việc giới thiệu ban đầu của người lái xe, đến cuộc gặp gỡ,khung cảnh sống, những lời kể
của nhân vật về công việc, lời của nhân vật tự đánh giá mình, thái độ các nhân vật khác.
Dàn ý Bài viết tham khảo
I- Mở bài:
-Giới thiệu truyện ngắn “Lặng
lẽ Sa Pa
-Giới thiệu nhân vật chính:
anh thanh niên làm công tác
quan trắc khí tượng – nhân vật

người tầm vóc nhỏ bé, thậm chí tên anh, tác giả cũng
không giới thiệu. Hình như tác giả muốn nói : tên anh
không phải là điều quan trọng đáng nhớ, bỡi mỗi người
trên đời này đều có thể giống như anh ta. Cũng như mọi
người, anh anh không muốn sống cô độc, anh sợ buồn .
Cái việc anh đẩy một khúc cây ra giữa đường, buộc xe đi
qua phải dừng lại , vừa ngộ nghĩnh buồn cười vừa thật
đáng yêu.
b/ +Với cuộc gặp gỡ chưa đầy nửa giờ , anh đã hoàn toàn
chinh phục một họa sĩ già và một cô kĩ sư trẻ . Bị chinh
phục không phải bỡi lời lẽ, mà bằng tất cả những gì toát
ra từ con người của anh, xung quanh anh , công việc của
anh, họ đã nhận ra ở anh những vẻ đẹp của một con người
cao quí.
Như nhận xét có tính chất vui đùa của bác lái xe, anh
là “một con người sống cô độc nhất thế gian” . Bởi anh
làm việc một mình trên đinh núi cao, quanh năm chỉ có
bầu trời với những đám mây , sương mù bao phủ và lạnh
buốt lúc nửa đêm . Nhưng trong sự cô độc ấy, anh, tâm
hồn anh gần gũi con người biết chừng nào,ấm áp tình
người biết chừng nào!
Khao khát được gặp con người, được trò chuyện với
con người, anh đã nghĩ ra cái mẹo vừa thông minh, vừa
-Biết quan tâm đến người khác
(tìm thuốc tặng vợ bác lái xe,
tặng hoa cho cô kĩ sư trẻ)
-Có tinh thần trách nhiệm cao
đối với công việc (không bỏ
qua một giờ quan trắc nào vì
hiểu được ý nghĩa quan trọng

công việc anh làm, cũng thấy hết sự tận tụy của anh.
Những quan trắc khí tượng theo giờ, và cả giữa ban đêm
gió lạnh, có cả mưa tuyết, cái im lặng đáng sợ của núi cao
vào lúc nửa đêm . Thế nhưng anh không bỏ qua một giờ
quan trắc nào, bỡi anh hiểu được rằng mỗi công việc làm
của anh là một mắt xích trong cái chuỗi công việc chung
của nhiều người. Cái sai, cái đúng của anh, dẫu bé
nhỏ,góp phần quyết định vào cái sai cái đúng, cái thất bại
hay thành công của những điều lớn lao . Việc dự báo
chính xác một đám mây bất ngờ có thể góp phần tạo nên
thắng lợi của một trận đánh quan trọng, là có sự tham gia
của anh. Sống ở vị trí của một người “cô đọc nhất thế
gian” mà anh không buồn, không chán nản, chính vì anh
đã tìm được ý nghĩa lớn lao trong công việc của mình như
thế.
+Có trách nhiệm đối với mọi người và công việc, anh
cũng sống có trách nhiệm đối với chính mình. Thông
thường, trong hoàn cảnh sống như anh , người ta rất dễ
sống cẩu thả. Chính ông họa sĩ cũng đã có ý nghĩ như vậy
: “Khách tới bất ngờ chắc cu cậu chưa kịp quét tước dọn
dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”. Không , nơi anh ở
-Rất khiêm tốn.
-Bao trùm lên tất cả là niềm
khao khát được sống có ích,
hạnh phúc là làm việc có ích
cho đất nước.
III-Kết luận:
Nguyễn Thành Long đã khắc
họa một nhân vật đẹp ( từ đặc
nghệ thuật, từ cảm nhận của

+Tại sao anh sống giản dị thế, tốt thế, đẹp thế? Đây là
chỗ xuất phát mọi điều. Anh là một con người trong lòng
luôn cháy rực ngọn lửa của một khát vọng :sống đẹp,
sống có ý nghĩa, sống có ích cho đất nước, cho mọi
người. Đất nước có chiến tranh, anh xin ra trận . Không
được ra trận, anh tận tụy làm công việc của mình . Khi
biết công việc của mình góp phần vào chiến thắng của
không quân ta đã hạ được máy bay địch, anh cảm thấy
thật hạnh phúc . Hạnh phúc của anh thật cụ thể, ý nghĩa
đời sống của anh thật rõ ràng . Một người cảm thấy hạnh
phúc vì công việc , vì được làm việc thì làm sao có thể
sống chán nản , buông thả, cảm thấy công việc nặng nề,
làm sao có thể không yêu quí và trân trọng con người,
làm sao có thể không chân tình quan tâm đến niềm vui và
hạnh phúc của người khác?
III- Bằng một cốt truyện khá nhẹ nhàng, những chi
tiết chân thực, tinh tế bằng ngôn ngữ đối thoại sinh động,
Nguyễn Thành Long đã kể lại một cuộc gặp gỡ tình cờ
mà thú vị nơi Sa Pa lặng lẽ. Chưa đầy ba mươi phút tiếp
xúc với anh thanh niên khiến người họa sĩ già thêm suy
ngẫm về vẻ đẹp cuộc đời mà mình không bao giờ thể hiện
hết được, khiến cô kĩ sư trẻ lòng bao cảm mến , bâng
khuâng . Với truyện ngắn này, phải chăng nhà văn muốn
khẳng định:Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao
phấn đấu, hi sinh lớn lao và thầm lặng ? Những con người
cần mẫn, nhiệt thành như anh thanh niên ấy thật đáng trân
trọng, thật đáng tin yêu.
III- TRUYÊN “CHIẾC LƯỢC NGÀ” - Nguyễn Quang Sáng
1- Những tình huống nào trong truyện đã bộc lộ thật sâu sắc và xúc động tình cha
con của ông Sáu và bé Thu? Nhận xét về nghệ thuật sáng tạo tình huống của tác giả?

+Người kể chuyện hoàn toàn chủ động điều khiển nhịp kể theo trạng thái cảm xúc của
mình, chủ động xen vào những lời bình luận, suy nghĩ để dẫn dắt sự tiếp nhận của người
đọc , người nghe . Ví dụ: đoạn “Trong cuộc đời kháng chiến của mình, mình chứng kiến
không biết bao nhiêu cuộc chia tay nhưng chưa bao giờ mình bị xúc động như lần ấy”
hoặc “Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần
nào tâm trạng của anh”.
+Người kể có thể kể linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật.
3 – Chi tiết “Chiếc lược ngà” có vai trò như thế nào trong truyện?
-Chi tiết “chiếc lược ngà” (cũng được lấy làm tên truyện) có một ý nghĩa quan trọng trong
tác phẩm. “Chiếc lược ngà” đã nối kết hai cha con ông Sáu và bé Thu trong sự xa cách của
hai người, và cả sau khi ông Sáu đã hi sinh. Chiếc lược ngà là biểu hiện cụ thể ủa tình yêu
thương, nỗi nhớ mong của ông Sáu với con và nó trở thành kỉ vật thiêng liêng, thành biểu
tượng của tình cha con sâu nặng.
4-Đề: (Đề 4 tr.65 NV 9 T.2): Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh
qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
A: Yêu cầu : - Nêu được nhận xét về tình cảm gia đình đó là tình cha con trong hoàn
cảnh chiến tranh
( khác với trong cuộc sống đời thường)
- Từ những tình huống cụ thể để làm rõ những biểu hiện tình cảm.
B: Tìm ý:
+ Tóm tắt nội dung đoạn trích
+Niềm khát khao của người lính sau những năm xa cách được trở lại quê hương là gì?
+ Điều gì đã xảy ra khi gặp lại con ? Tại sao?
+ Những biểu hiện của tình cảm cha con?Nó éo le ở những điểm nào ? Tại sao?
+Nêu những suy nghĩ cụ thể về tình phụ tử ; về chiến tranh
C: Gợi ý bài làm:
I - Mở bài : -Nêu được hoàn cảnh sáng tác “Chiếc lược ngà”.
-Truyện nói đến tình phụ tử (cha con) trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
-Nhận xét: đây là một tình cảm đáng trân trọng và thấy được nỗi đau của chiến
tranh

2-Tình cha con:
a/ Tình cha đối với con (nhân vật anh Sáu):
Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến khi con gái mới một hai tuổi. Mãi khi con gái tám tuổi,
anh mới có dịp về thăm nhà thăm con. Cái khao khát của một người lính sau những năm
xa cách được trở lại quê hương , được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba”
một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời chiến tranh. Lúc chia tay để ra đi , ông
mới có được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ nhận ra ba mình và
kêu thét lên “Ba Ba!”. Bom đạn chiến tranh làm thay đổi hình hài của ông. Vết thẹo dài
trên má - vết thương chiến tranh- đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé nhỏ không nhận
ra bóng dáng người cha nữa!
Anh đã ra đi ,mang theo hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho con chiếc lược cùng
với nỗi ân hận day dứt “sao mình lại đánh con” cứ giày vò ông mãi . Những ngày ở
rừngvô cùng thiếu thốn, gian khổ , nguy hiểm, anh Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Khi
kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông dành hết tâm trí, công sức vào làm một
cây lược. Chiếc lược ngà đã trở hành báu vật đối với ông. Nó làm dịu đi nỗi ân hận day
dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha trong
những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông
Sáu hy sinh khi chưa gặp lại con. Chiếc lược chưa tới được tay bé Thu. Chiếc lược ngà trở
thành vật ký thác thiêng liêng của người lính về tình cha con sâu nặng trong bom đạn quân
thù không thể nào tàn phá được Chiến tranh làm cắt đứt tình cảm cha con ngay với một
vật kỉ niệm chưa kịp trao.
b/ Tình con đối với cha (nhân vật bé Thu):
Gặp lại con sau bao ngày xa cách với nỗi nhớ thương nên anh Sáu vồ vập nôn nóng ,
ngược lại bé Thu lại ngỡ ngàng, xa lạ . Ba ngày phép của cha, Thu tỏ ra rất lạnh nhạt. Tình
cảm của em đối với cha ngày càng xấu đi, nó nhất định không gọi ba, không nhận sự chăm
sóc của anh Sáu. Sự phản ứng của Thu ngày càng quyết liệt, từ chỗ ngấm ngầm đến rõ
ràng, mạnh mẽ . Nó phản ứng vì anh Sáu có vết sẹo trên má ,không giống với hình mà
“ba” nó chụp chung với má nó mà nó được biết. Sự phản ứng của em chứng tỏ em có cá
tính mạnh mẽ, có tình yêu cha sâu sắc. Tình yêu ấy đã khắc ghi trong trái tim ngây thơ đầy
kiêu hãnh nên em không chấp nhận người đàn ông có sẹo là cha.Sự ngang ngạnh của bé

Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào hy sinh chiến đấu vì đất nước và dân tộc, vì
tình vợ chồng, tình cha con
Chiếc lược ngà với dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mang theo bao tình cảm
sâu nặng của người cha đối với đứa con bé bỏng ; mãi mãi là kỷ vật, là nhân chứng về nỗi
đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt để lại nhiều ám ảnh đau thương trong lòng ta.
III –KL
Truyện “Chiếc lược ngà” tập trung vào chủ đề tình cha con, nhưng ở đây tình cha con
của anh Sáu và bé Thu đã không mất đi sau khi anh Sáu hy sinh. Tình cảm ấy vẫn sống
mãi trong lòng con gái anh, trong lòng người bạn của anh là bác Ba và các đồng chí. Tình
cha con được nối dài trong tình cảm cách mạng, tình cảm của những người đồng chí. .Nhà
văn khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le, thời chiến
tranh chống Mỹ ở miền Nam thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy
càng cao đẹp trong những hoàn cảnh khó khăn.Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là bài thơ về
tình cha con.
Đề luyện Tập:
Câu hỏi:
Câu 1 : Cho các câu thơ: a/Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng
(Nguyễn Khoa Điềm)
b/ Ngày xuân em hãy còn dài
Xót lời máu mủ thay lời nước non
(Nguyễn Du)
Hai từ “mặt trời” và “xn” từ nào là từ chuyển nghĩa lâm thời, từ nào chuyển nghĩa theo
cách phát triển từ vựng? Chuyển nghĩa theo phương thức nào? (nêu trong từng trường hợp)
Câu 2 : Tình huống nào trong truyện “Làng” của Kim Lân đã làm bộc lộ sâu sắc tình u
làng q, tinh thần u nước ở nhân vật ơng Hai ?
Câu 3:
a -Nhận xét về đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn “Những ngơi sao xa xơi” của Lê Thị
Minh Kh ?
b - Tóm tắt ngắn gọn truỵện ngắn “Những ngơi sao xa xơi” (Lê Minh Kh)?Truyện được
trần thuật từ nhân vật nào? Việc chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện

Đặc điểm nhgệ thuật của truyện ngắn “Những ngơi sao xa
xơi”:
-Về phương thức trần thuật :
Truyện được trần thuật từ ngơi thứ nhất, cũng là nhân vật
chính của truyện đã tạo thuận lợi cho tác giả miêu tả thế
giới nội tâm nhân vật với những ý nghĩ, cảm xúc, hồi
tưởng, được thể hiện một cách trực tiếp qua nhân vật. Đồng
thời, các biến cố, sự kiện, ngoại cảnh cũng được thể hiện
qua cái nhìn và tâm trạng của nhân vật kể chuyện, nên có
3.b
-Tóm tắt

-Nêu đúng ngơi kể và tác
dụng
màu sắc chủ quan rõ rệt. Mặt khác, cách kể từ ngơi thứ nhất
tạo được mối quan hệ gần gũi, thân mật giữa người kể và
người đọc để dễ dàng chuyển tải nội dung tác phẩm đến
người tiếp nhận
- Một nét đặc sắc nổi bật là nghệ thuật xây dựng nhân
vật, chủ yếu là miêu tả tâm lí và ngơn ngữ nhân vật. Tác
giả đã diễn tả một cách tự nhiên và sinh động những tâm
trạng, cảm xúc , ý nghĩ của những cơ gái giữa chiến trường,
ln đối mặt với cái chết mà vẫn sống hồn nhiên, lạc quan,
giàu tình cảm và khơng ít mơ mộng. Chiến tranh làm cho
họ dày dạn và cứng cỏi hơn, nhưng khơng thể làm mất đi ở
họ sự nhạy cảm, hồn nhiên và mơ mộng của tuổi trẻ.Tâm lí
nhân vật Phương Định một lần phá bom được miêu tả cụ
thể, tinh tế đến từng cảm giác, ý nghĩ dù chỉ thống qua
trong giây lát. Mặc dù, đã rất quen cơng việc nguy hiểm
này, thậm chí một ngày có thể phải phá tới năm quả bom,

truyện- giới thiệu nhân vật:
3.Nhân vật Phương
Định:
a/Cơ gái Hà Nội xinh
đẹpvào chiến trường,hồn
nhiên u đời giàu cá tính
(thích hát)
b/Dũng cảm trong lửa đạn,
giàu u thương đồng đội
(thể hiện trong một lần phá
bom)
và đặc biệt là họ rất gắn bó, yêu thương nhau trong tình
đồng đội, dù mỗi người một cá tính.
+Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất và người
kể chuyện cũng là nhân vật chính. Sự lựa chọn ngôi kể
như vậy phù hợp với nội dung tác phẩm và tạo thuận lợi
để tác giả miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn, những cảm
xúc và suy nghó của nhân vật. Truyện viết về chiến tranh,
cố nhiên có những chi tiết , sự việc về bom đạn, chiến
đấu, hi sinh, nhưng chủ yếu vẫn hướng vào thế giới nội
tâm, làm hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của con người trong
chiến tranh. Tạo được hiệu quả đó, một phần là nhờ cách
lựa chọn nhân vật kể chuyện.
c/ Nhân vật Phương Định
1: Giới thiệu tác phẩm :Lê Minh Khuê sinh năm 1949,
quê ở Thanh Hoá, là cây bút nữ chuyên về truyện ngắn.
-Truyện “Những ngôi sao xa xôi”ở trong số những tác
phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm 1971, lúc
cuộc kháng chiến chống Mó đang diễn ra ác liệt. Truyện
viết về cuộc sống chiến đấu của tổ trinh sát mặt đường, trên

+ Đánh giá chung, tác dụng
giáo dục của truyện
trong tổ trinh sát mặt đường, những con người khao khát
làm nên nhưng sự tích anh hùng.
b/Định, cô gái Hà Nội xinh đẹp, dũng cảm trong lửa
đạn, giàu yêu thương đồng đội. “Những ngôi sao xa xôi”
đã ghi lại một cách chân thực chiến tích thầm lặng của tổ
trinh sát mặt đường. Trọng điểm đang chìm trong mưa bom
bão lửa, cảnh tượng chiến trường vắng lặng đến phát sợ.
Cảnh vật bị hủy diệt: cây xơ xác, đất nóng, khói đen vật vờ
từng cụm trong không trung. Phương Định dũng cảm và
bình tĩnh tiến đến gần quả bom. Thần chết đang đợi chờ!
Hai mươi phút trôi qua, tiếng còi chị Thao rúc lên, Định
cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi
vào dây mìn. Cô khỏa đất rồi chạy nhanh về chỗ
nấp Bom nổ, mảnh bom xé không khí, nổ váng óc Nguy
hiểm căng thẳng không thể nào kể xiết Nho bị thương.
Bom nổ hầm sập. Chị Thao và Định phải moi đất bế Nho
lên. Máu tua ra ngấm vào đất. Chị Thao nghẹn ngào.Định
rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc cho Nho, pha sữa cho
Nho Rồi chị Thao lại giục Phương Định hát. Đó là cuộc
sống chiến đấu thường nhật của họ. Tác giả đã tái hiện cảnh
phá bom vô cùng nguy hiểm, dựng lên một tượng đài về
khí phách anh hùng lẫm liệt của tổ trinh sát mặt
đường.Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng
và lòng người.
c/ Định, cũng như bao nhiêu thiếu nữ trẻ , cô thích làm
duyên như cô thôn nữ ngày xưa soi mình xuống giếng
làng vừa mỉm cười vừa vuốt tóc. Định “thích ngắm” đôi
mắt mình trong gương. Cô tự hào về cặp mắt của mình “nó

tỏa sáng hồn ta với bao ngưỡng mộ
Đề :
Câu 1/Sửa lỗi dùng từ trong hai câu sau:
a- Anh ta là một nhân vật rất đáng khả nghi.
b- Người ta dự đoán những cái chum này đã có cách đây 3000 năm.
Câu2/Vận dụng kiến thức đã học về một số phép tu từ từ vựng để phân tích nét nghệ thuật
độc đáo trong những câu (đoạn ) sau:
a- Khi tâm hồn ta đã rèn luyện thành một sợi dây đàn sẵn sàng rung động trước mọi vẻ
đẹp của vũ trụ, trước mọi cái cao quý của cuộc đời, chúng ta là người một cách hòan
toàn hơn.
(Thạch Lam – Theo
dòng)
b- Gậy tre , chông tre chống lại sắt thép quân thù.Tre xung phong vào xe tăng đại bác.
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh bảo vệ con
người. Tre, anh hùng lao động ! Tre, anh hùng chiến đấu!
(Thép mới – Cây tre Việt
Nam).
Câu 3/ Truyện “Bến quê” tập trung vào một tình huống khá đặc biệt, đó là tình huống nào?
Hãy chỉ ra những nghịch lí trong tình huống ấy và nêu ý nghĩa của nó?
Câu 4/Phân tích ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh và chi tiết trong truyện ngắn “Bến
quê”
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Gợi ý Bài làm
Câu1:
-Xác định từ dùng không
chính xác .
-Giả thích lý do.
-Dùng từ ngữ thay thế.
Câu1:
a/ Anh là một nhân vật rất đáng khả nghi. Câu này dùng sai

- Nêu ý nghĩa :( phát hiện
những quy luật, và chiêm
nghiêm, triết lí về cuộc đời)
Câu 4:
I-MB:
việc nào đó có thể xảy ra trong tương lai. Trong câu trên
dùng dự đoán là chưa chính xác (vì sự việc đã xảy ra rồi) .
Ta có thể dùng từ “phỏng đoán”:
Người ta phỏng đoán những cái chum này đã có
cách đây 3000 năm
Câu 2:
a- Phép tu từ ẩn dụ : dùng sợi dây đàn để chỉ tâm hồn cong
người, nhằm nói đến một tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động
trước cuộc sống.
b- Phép điệp ngữ và nhân hóa : những từ tre, giữ, anh hùng
được lặp đi lặp lại nhiều lần và tác giả cũng nhân hóa tre,
coi tre như một con gười, một công dân xả thân vì quê
hương đất nước. Ngoài tác dụng tạo nhịp nhàng cho câu
văn, phép điệp ngữ còn có tác dụng nhấn mạnh đến hình
ảnh cây tre gần gũi với con người hơn, gây ấn tượng với
người đọc nhiều hơn.
Câu 3:
-Cũng như nhiều truyện ngắn khác của Nguyễn Minh
Châu , truyện ngắn “Bến quê” xây dựng trên một tình
huống nghịch lý. Nhân vật chính của truyện – anh Nhĩ –
từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, về cuối đời lại bị cột chặt
vào giường bệnh bỡi một căn bệnh hiểm nghèo , đến nỗi
không thể tự mình dịch chuyển lấy vài mươi phân trên
chiếc giường hẹp bên cửa sổ.
-Khai thác tình huống này, tác giả phát hiện và nhấn mạnh

nghĩa).
1- Hình ảnh bãi bồi và nhan
đề của tác phẩm có quan hệ
như thế nào?
2- Hình ảnh bãi bồi, bến
sông và toàn bộ khung cảnh
thiên nhiên được dựng lên
trong truyện thực ra cũng
mang ý nghĩa khái quát, biểu
tượng như thế nào?
3-Cảnh vật thiên nhiên trong
một buổi sáng đầu thu, qua
cái nhìn của nhân vật Nhĩ có
ý nghĩa gì?
4- Những chùm hoa bằng
lăng cuối mùa thưa thớt
nhưng lại đậm sắc hơn ;tiếng
những tảng đất lở ở bờ sông
bên này, khi cơn lũ đầu
nguồn dồn về, đổ ụp vào
trong giấc ngủ của Nhĩ lúc
gần sáng . Hai chi tiết này
gợi ra điều gì?
5- Điều khát khao nhưng vô
vọng của Nhĩ lúc này là
cả đời người, qua những suy ngẫm của nhân vật Nhĩ “con
người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái
điều vòng vèo hoặc chùng chình” và sự giàu có lẫn mọi vẻ
đẹp rất gần gũi như cái bãi bồi bên kia sông hay người vợ
tần tảo, giàu tình yêu và đức hi sinh thì phải đến lúc này,

2-Hình ảnh bãi bồi, bến sông và toàn bộ khung cảnh thiên
nhiên được dựng lên trong truyện thực ra cũng mang ý
nghĩa khái quát, biểu tượng. Đó là vẻ đẹp của đời sống
trong những cái gần gũi, bình dị , thân thuộc, như một bến
sông quê, một bãi bồi, rộng ra là quê hương ,xứ sở.
3-Cảnh vật thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, qua
cái nhìn của nhân vật Nhĩ hiện ra với vẻ đẹp riêng. Những
chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc
hơn ; con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm
ra; vòm trời như cao hơn. Không gian và những cảnh sắc
vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại như rất mới với tất cả
vẻ đẹp và sự giàu có của nó.
được đặt chân lên bãi bồi
bên kia sông có ý nghĩa gì?
6-Hình ảnh người con trai
không hiểu ý muốn của cha
nên làm việc một cách miễn
cưỡng bị hút vào trò chơi
hấp dẫn bên đường và có thể
lỡ chuyến đò ngang duy nhất
trong ngày đã giúp anh nhận
ra một qui luật gì của cuộc
đời ?
7-Hành động cuối cùng của
Nhĩ ở cuối truyện khi anh
thu hết tàn lực “giơ một
cánh tay gầy guộic ra ngoài
cửa sổ khoát khoát y như
đang khẩn thiết ra hiệu cho
một người nào đó’ vừa có ý

hết tàn lực “giơ một cánh tay gầy guộc ra ngoài cửa sổ
khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người
nào đó” vừa có ý nghĩa là anh đang thúc giục cậu con trai
đừng để lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày vừa có ý
nghĩa khái quát tượng trưng. Đó là muốn thức tỉnh mọi
người hãy thoát ra khỏi cái vòng vèo , chùng chình trong
cuộc sống mà chúng ta đang sa vào để hướng tới giá trị
đích thực, bền vững mà gần gũi trong cuộc sống đời
thường.
III-KL:
“ Bến quê” quả thực là một tác phẩm đã sáng tạo được
nhièu hình ảnh vừa có ý nghĩa thực vừa có ý nghĩa biểu
tượng. “Mặt sông”, “vòm trời”, “bãi bồi” , là những hình
ảnh cụ thể biểu tượng cho quê hương xứ sở. Những bông
hoa bằng lăng cuối mùa, tiếng những tảng đất lở bên bờ
sông là biểu tượng cho sự sống của Nhĩ đang ở vào những
ngày cuối cùng. Đứa con trai của Nhĩ với sự “chùng chình”
của nó gợi cho ta hình ảnh của Nhĩ trước đây cũng luôn
chùng chình và vòng vèo Đặt nhân vật vào những tình
huống nghịch lí để khám phá, phát hiện ra những điều có
tính qui luật trong cuộc đời, Nguyễn Minh Châu đã thức
tỉnh mọi người: những giá trị và vẻ đẹp đích thực của đời
sống chính là những cái gần gũi, bình dị quanh ta.
Đề Tập làm Văn :
Nhân vật Nhĩ và những suy nghĩ về cuộc đời , về con người trong truyện ngắn “Bến quê”
của Nguyễn Minh Châu.
Gợi ý bài làm
Dàn ý Gợi ý bài làm
I- MB:
- Giới thiệu truyện

qua tạt vào hỏi thăm Nhĩ.
2-Cốt truyện của “Bến quê” rất bình dị “bằng phẳng”nhưng lại
mang hàm nghĩa triết lý sâu sắc. Qua nhân vật Nhĩ, một bệnh nhân
“sắp từ giã cõi đời”,Nguyễn Minh Châu nói lên những suy ngẫm
về con người, về cuộc đời và cách sống, thức tỉnh mọi người hãy
biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp, những giá trị bình dị, gần
gũi, quen thuộc của cuộc sống, của quê hương.
3-
Nhĩ nhân vật chính của truyện là người đã từng đi rất nhiều nơi
trên trái đất. anh đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa
lạ Có thể nói , bao cảnh đẹp, những nơi phồn hoa đô hội xa gần,
những miếng ngon nơi đất khách quê người, anh đều được thưởng
thức, được hưởng thụ. Nhưng trớ trêu thay một căn bệnh quái ác
bắt anh phải nằm liệt giường hàng tháng trời không nhúc nhích
được một bước chân . Chính trong những ngày cuối đời, Nhĩ đã
phát hiện ra những vẻ đẹp của những cảnh vật tưởng như cũ mà
lại rất mới lạ. Chẳng hạn như hoa bằng lăng trong tiết lập thu đẹp
hơn, đậm sắc hơn. Sông Hồng “màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng
thêm ra”. Bãi bồi phù sa lâu đời ở bên kia sông Hồng đang phô ra
một thứ màu vàng thau xen lẫn với màu xanh non , những màu sắc
thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Và bầu trời,
vòm trời quê nhà như cao hơn.
Nhìn qua cửa sổ nhà mình, Nhĩ xúc động trước những cảnh đẹp
bình dị của que nhà mà trước đây anh không nhìn thấy, cảm
thấy.Phải chăng vì cuộc sống bận rộn ,tất tả, ngược xuôi? Hay tại
bỡi vô tình? Qua việc miêu tả thiên nhiên, Nguyễn Minh Châu
muốn nhắn gởi mọi người đừng vô tình, phải biết gắn bó, trân
trọng những cảnh vật quê hương xứ sở vì đó là máu thịt, là tâm
hồn của mỗi chúng ta. Phải biết phát hiện ra vẻ đẹp bình dị, thân
thuộc của quê nhà để nâng niu , yêu quí.

những ngày này.
Điều khát khao nhưng vô vọng của Nhĩ là được đặt chân lên bãi
bồi bên kia sông. Đây là khát khao muốn tìm đến những giá trị
gần gũi nhưng đích thực sâu xa trong cuộc sống nơi quê hương mà
con người vì những bồng bột và ham muốn lúc trẻ bỏ qua nó. Giờ
đây anh phải nhờ đứa con trai thay mình sang bên kia sông “qua
đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh, một lát rồi về”.
Với Tuấn (con trai Nhĩ) thì đó là việc lạ mà bố sai làm, khi cậu
đang mãi mê xem cuốn truyện dịch. Cậu chưa hiểu được cái điều
ham muốn cuối cùng của đời bố nên làm việc một cách miễn
cưỡng để rồi bị hút vào đám phá cờ thế và lỡ chuyến đò ngang
duy nhất trong ngày. Điều ấy đã giúp Nhĩ nhận ra một quy luật
của đời người “Nhĩ nghĩ một cách buồn bã con người ta trên
đường đời thật khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng
chình ” và nó không thấy có gì hấp dẫn bên kia sông đâu.Ý nghĩ
ấy mang hàm nghĩa triết lý sâu sắc về đời người và mục tiêu cuộc
sống. Con người trong suy nghĩ của Nhĩ là “vòng vèo” là “chùng
chình"”, vì nhiều người bị lạc đường, lạc hướng, thiếu trí tuệ,
không bền chí , hay nản lòng. Tuổi trẻ và thời gian bị lãng phí.
Tâm hồn nông cạn , sống thiếu lý tưởng, không có mục tiêu, tầm
nhìn hạn hẹp, sao không khỏi vòng vèo, chùng chình, và sẽ không
bao giờ tìm thấy và sẽ không bao giờ tìm thấy “hấp dẫn” ở phía
trước trên đường đời.
Cảnh những đứa trẻ(Huệ Vân, Tam,Hùng) nghe Nhĩ gọi chúng
ríu rít chạy lên, xúm vào, nương nhẹ giúp anh xê dịch từ mép tấm
nệm làm cho Nhĩ như trẻ lại.Hạnh phúc ở đâu, hạnh phúc đâu
phải cái gì cao siêu, mà rất bình dị, rất nho nhỏ, có khi chỉ là một
ánh mắt một nụ cười trẻ thơ, một bàn tay bé nhỏ
Cụ giáo Khuyến sáng nào cũng tạt qua thăm Nhĩ là một hình
ảnh ân tình ân nghĩa nuôi dưỡng tâm hồn. Một câu hỏi thăm về

nhận như thế nào về cuộc sống của đất nước, con người trong giai đoạn đó?
Gợi ý
-Xác định các truyện, nội dung của từng truyện.
-Điểm nổi bật của giai đoạn lịch sử (1945 -1975 ):hai cuộc kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ cứu nước.
-Con người trong giai đoạn ấy : gồm các tầng lớp, các thế hệ ,những biểu hiện
tinh thần, hành động
- Chú ý thế hệ trẻ.
*Những truyện ngắn đã học : Làng (Kim lân),Chiếc lược ngà(Nguyễn Quang sáng),
Lặng lẽ Sapa (Nguyễn Thành Long) , Những ngôi sa xa xôi (Lê minh Khuê): tập
trung thể hiện cuộc sống của đất nước, con người Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.
-Qua những tác phẩm này, ta có thể hình dung phần nào về đất nước và con người
trong giai đoạn lịch sử ấy. Giai đoạn lịch sử nổi bật với 2 cuộc kháng chiến đầy gian
khổ, hy sinh nhưng cũng rất anh dũng.
*+Các tác phẩm đã cho ta hình dung được về cuộc chiến tranh nhân dân ở mọi miền
đất nước, với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp, thế hệ . Truyện “Làng” của Kim
Lân viết về đề tài nông dân và kháng chiến trong những ngày đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp. Nhân vật chính của truyện là ông Hai, một lão nông, cần cù , chất
phác, giàu lòng yêu quê hương đất nước. Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi
theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Hồ Chí
Minh. Những con người trong “Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là hình ảnh
những con người mới đã sống đẹp , giàu tình nhân ái, hết lòng phục vụ đất nước và
nhân dân. Sống nơi lặng lẽ non xanh nhưng họ chẳng lặng lẽ chút nào! Trái lại cuộc
đời của họ vô cùng sôi nổi, đầy tâm huyết và giàu nhiệt tình cách mạng. Họ là những
con người đang sống và cống hiến giữa Sa Pa lặng lẽ góp phần vào công cuộc xây
dựng đất nước và sự nghiệp giải phóng miền Nam trong thời chống Mỹ. Nhân vật
Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là nữ chiến sĩ giao
liên trong kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam đang đi tiếp con đường
chiến đấu gian khổ, vô cùng oanh liệt vẻ vang của cha anh dào dạt sức sống trẻ trung
và dũng mãnh.Truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm sống lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status