BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BÃO, LŨ LỤT, HẠN HÁN ĐẾN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 - Pdf 27

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
NHIỆM VỤ “XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH HÀ TĨNH”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÊN CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BÃO, LŨ LỤT, HẠN
HÁN ĐẾN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ
HỘI TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU v
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH 6
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 6
1.1.1.Vị trí địa lý 6
1.1.2.Địa hình, địa chất 7
1.1.1.Khí hậu 8
1.1.2.Thủy văn, tài nguyên nước 8
1.2.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI 9
1.1.3.Dân số và lao động 9
1.1.4.Kinh tế xã hội 9
1.1.5.Điều kiện xã hội 15
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN XẢY RA TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN
2011 – 2015 18
1.3.ĐẶC ĐIỂM MỘT CỦA THIÊN TAI BÃO, LŨ LỤT VÀ HẠN HÁN TẠI HÀ
TĨNH 18

Bảng 2.1. Thống kê tần suất bão và ATNĐ tại khu vực từ Nghệ An – Quảng Bình
(1961 – 2010) 18
Bảng 2.2. Phân loại chỉ số hạn hán 24
iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh 6
Hình 2.2. Thống kê các cơn bão đổ bộ vào khu vực Hà Tĩnh (1961 – 2010) 19
Hình 3.3. Gió bão làm đổ lúa 32
Hình 3.4. Ngập lụt do lũ 33
Hình 3.5. Hạn hán ảnh hưởng đến đất trồng nông nghiệp 33
Hình 3.6. Cháy rừng tại Hà Tĩnh 34
Hình 3.7. Lũ lụt ảnh hưởng tới nguồn lợi thủy hải sản 35
iv
MỞ ĐẦU
Hà Tĩnh là một vùng đất nằm trên dải đất miền Trung thiên nhiên không mấy
ưu đãi, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển
tiếp của miền Bắc và miền Nam nên có khí hậu khắc nghiệt, cùng với đó là sự gia tăng
của các loại thiên tai có tác động không nhỏ tới các hoạt động của con người đặc biệt
là tác động tới các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Nhận thức rõ ảnh hưởng đó và nhằm đưa ra những nhận định, cảnh báo thiết
thực nhất cho tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và để giảm thiểu cho các kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, chuyên đề “đánh giá ảnh hưởng của các hiện tượng như bão, lũ lụt, hạn hán
đến kế hoạch phát triển kinh tế tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 – 2015” được trình bày
những nét chung nhất về tình hình thiên tai bão, lũ lụt, hạn hán ảnh hưởng tới kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Nội dung chính của chuyên đề bao gồm:
Chương 1: đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 2: đặc điểm thiên tai khí tượng thủy văn xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2015.
Chương 3: đánh giá ảnh hưởng của thiên tai bão, lũ lụt, hạn hán đến kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 – 2015.

đường sắt, đường Hồ Chí Minh, đường biển (trục giao thông Bắc, Nam); Quốc lộ 8 với
cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo và Quốc lộ 12 với cửa khẩu Cha Lo - Quảng Bình (trục
hành lang Đông Tây), nối với hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng đã và đang đầu
tư xây dựng.
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện với 262 phường xã, thị trấn, gồm
10 đơn vị huyện, 2 thị xã. Thị xã Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá
của tỉnh nằm cách Hà Nội 341 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Nam theo
Quốc lộ 1A.
6
Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế, giao lưu vận chuyển hàng hoá, vì có lợi thế nằm tiếp giáp với các đô thị lớn và
cửa khẩu Quốc tế quan trọng, có nhiều thế mạnh cả về giao thông đường thuỷ và
đường bộ.
1.1.2. Địa hình, địa chất
1.1.1.1. Vùng núi cao
Địa hình vựng núi cao thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn bao gồm các xã
phía Tây của các huyện Hương Sơn, Hương Khờ, Kỳ Anh. Địa hình dốc bị chia cắt
mạnh, hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ
thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sừu, Rào Trổ. Các thung lũng này cũng là vùng sinh sống
của cư dân các dân tộc. Sản xuất của dân cư trong vùng là hỗn hợp nông lâm nghiệp
theo phương thức khai thác tận dụng tự nhiên do vậy năng suất cây trồng và năng suất
lao động thấp. Mức thu nhập của dân thấp do chưa được đầu tư thích đáng, cơ sở vật
chất nghèo nàn, hạ tầng cơ sở yếu kém. Vùng này có tiềm năng phát triển cây công
nghiệp ngắn, dài ngày, cây ăn quả, nghề rừng và chăn nuôi gia súc.
1.1.1.2. Vùng trung du và bán sơn địa
Đây là vùng chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng. Vùng này
chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí Minh bao gồm các xã vùng thấp của huyện
Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc ven Trà Sơn, của các huyện
Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và

Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,8
0
C. Nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất đạt
17
0
C. Các tháng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt độ trung bình tháng đạt
28,7 ÷ 29,8
0
C vào tháng VII.
1.1.1.6. Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 85%. Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các
tháng có gió Tây khô nóng tháng VII và đạt 70%. Độ ẩm cao nhất xảy ra vào các
tháng cuối mùa đông, khi có mưa phùn hoặc các tháng mùa mưa và đạt 90 ÷ 92%.
1.1.1.7. Bốc hơi
Bốc hơi Piche trung bình năm đạt 800mm. Lượng bốc hơi lớn xảy ra vào tháng
VII với lượng bốc hơi trung bình tháng đạt từ 180 ÷ 200mm. Tháng II có lượng bốc
hơi nhỏ nhất đạt từ 27 ÷ 34mm.
1.1.1.8. Số giờ nắng
Số giờ nắng đạt từ 1.400 ÷ 1.600 giờ.
1.1.1.9. Tốc độ gió
Tốc độ gió trung bình năm 1,7 m/s - 2,3 m/s. Tốc độ gió lớn nhất khi có bão đạt
>40 m/s. Hướng gió mùa đông là hướng Đông Bắc, mùa khô thịnh hành gió Tây Nam
hoặc gió Đông Nam.
1.1.1.10. Chế độ mưa
Hà Tĩnh có lượng mưa năm khá phong phú, trung bình năm đạt từ 2.300 ÷
3.000mm. Những vùng mưa lớn như Kỳ Lạc (Kỳ Anh) lượng mưa đạt 3.220mm.
Những tâm mưa lớn thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ, Hoành Sơn có
năm lượng mưa năm đạt 4.586 mm năm 1978 ở Bàu Nước, 4.386mm tại Kỳ Anh năm
1990, 4.450 mm năm 1990 tại Kỳ Lạc.
Mùa mưa bắt đầu từ thỏng VIII tới tháng XI. Tuy nhiên tháng V, VI có mưa

hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Về chất lượng nước ở Hà
Tĩnh nhìn chung khá tốt, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng
như sinh hoạt. Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thuỷ
triều, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân, vì vậy cần kiểm tra độ mặn
nước sông trước khi bơm tưới cho cây trồng. Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở
Sơn Kim huyện Hương Sơn, vị trí thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu
Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh.
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
1.1.3. Dân số và lao động
Dân số tỉnh Hà Tĩnh tính đến 31/12/2005 có 1.289.058 người, chiếm 1,7% dân
số cả nước, trong đó dân số nông thôn chiếm 89,03%, (cả nước là 74%). Mật độ dân
số trung bình là 214 người/km
2
, cao hơn trung bình toàn vùng Bắc Trung bộ (203
người/km
2
), nhưng thấp hơn trung bình cả nước (246 người / km
2
).
Dân số gia tăng đã làm cho nhu cầu về đất ở, đất xây dựng, đất canh tác cây
lương thực, thực phẩm tăng theo tạo nên sức ép rất mạnh đến tài nguyên đất vốn đã
hạn hẹp của tỉnh. Dân cư phân bố không đồng đều: tập trung cao ở khu vực đồng bằng
phía Đông Bắc tỉnh, còn dọc đường Hồ Chí Minh dân cư thưa thớt. TP. Hà Tĩnh có
mật độ dân số 1389 người/ km
2
, trong khi huyện Hương Khê mật độ dân số chỉ có 83
người trên km
2
, Vũ Quang 52 người trên km
2

theo xu thế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ
trọng khu vực nông lâm thủy sản, được thể hiện như sau (bảng 2):
Bảng 2: Cơ cấu các ngành kinh tế qua một số năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị tính
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Cơ cấu GDP % 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1. Nông lâm thủy sản %
51,31 49,89 49,1 48,02 47,02 43,13
2. Công nghiệp xây dựng %
13,45 14,05 15,46 18,05 19,84 22,45
3. Dịch vụ %
35,24 36,06 35,44 33,93 33,14 34,42
Khu vực thủy sản nông lâm có tỷ trọng giảm đều trong cơ cấu GDP của tỉnh từ
51,31% năm 2000 xuống còn 43,13% năm 2005. Ngược lại tỷ trọng của khu vực công
nghiệp xây dựng và khu vực dịch vụ trong GDP tăng dần, tương ứng tăng từ 13,45%
và 35,24% năm 2000 lên 22,45% và 34,42% năm 2005.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa hiện đại

nuôi vào thu nhập của người dân tăng chậm.
Giá trị sản xuất chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp có xu
hướng tăng, năm 2001 chiếm 29,73% tăng lên 31,38% năm 2005.
Tuy vậy, trong suốt thời kỳ 1996 - 2005, số trâu bò bình quân trên hộ nông
nghiệp hầu như không tăng, bình quân 1,1 con / hộ.
Tổng đàn lợn năm 2005 có 453 nghìn con, tốc độ tăng bình quân 1996 - 2005 là
3,73%. Hình thức chăn nuôi hộ gia đình có quy mô ngày càng lớn. Đàn lợn tăng khá
nhanh trong giai đoạn 2001 - 2005, do lương thực bình quân đầu người tăng, từ 264kg
năm 1995 lên 378kg/ người năm 2005, và thị trường thức ăn gia súc khá phát triển,
nhưng hiện nay, thị trường tiêu thụ thịt lợn còn nhỏ, do quy mô dân số nhỏ và thu nhập
bình quân đầu người còn thấp, nhất là khu vực nông thôn.

Hà Tĩnh là tỉnh có ngư trường rộng với 137 km bờ biển, có điều kiện khá thuận
lợi cho phát triển thuỷ sản trong những năm gần đây. Nhưng có những hạn chế như
bão, lũ, nguồn lợi hải sản ven bờ cạn kiệt, suất đầu tư cho nuôi trồng và đánh bắt xa bờ
lớn.
11
Nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh phát triển khá cân đối từ nâng cấp cơ sở hạ tầng
nuôi trồng như hồ ao, đến phát triển các cơ sở cung cấp con giống.
Diện tích nuôi trồng năm 2004 là 5.400 ha, trong đó nước ngọt 2630 ha; nước
lợ 2.770 ha.
Hiện có 3 trại giống cá cấp 1 và nhiều trại giống cấp 2, 5 trại giống tôm. Năm
2005 chế biến xuất khẩu thuỷ sản đạt 3.600 tấn. Ngoài ra còn có các cơ sở chế biến
nước mắm phục vụ tiêu dùng nội địa.
• Lâm nghiệp
Hà Tĩnh là tỉnh có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, trên cơ sở tái trồng rừng ở
những nơi đã khai thác gỗ chỉ còn trảng cỏ và cây bụi. Trong những năm qua, các dự
án trồng rừng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến được thực hiện tốt, góp phần đưa
độ che phủ của rừng tăng nhanh từ 38% năm 2001 lên 43,5% năm 2005, nhưng đóng
góp của ngành vào tăng trưởng kinh tế còn thấp. Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005

Nhờ sự nỗ lực của ngành, trong những năm qua công nghiệp đã có nhiều khởi
sắc, là do:
Công nghiệp và TTCN của tỉnh phát triển đúng hướng, dựa trên các thế mạnh
về tài nguyên và lao động. Tỉnh đã khai thác quặng Titan, khai thác vàng, chế biến
dăm gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng cho xuất khẩu và để sử dụng trong nước.
So với 10 năm trước, thiết bị và công nghệ được nâng cấp, trong đó thiết bị khai
thác quặng Titan được đánh giá vào loại hiện đại.
Một số cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản có quy mô khá đã đi vào hoạt
động. Từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh đã có ba doanh nghiệp có quy mô
khá đi vào hoạt động là: nhà máy thủy sản đông lạnh, chế biến dăm gỗ xuất khẩu và
chế biến hoa quả,
Cơ cấu theo ngành: Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản
xuất CNTTCN trên địa bàn Hà Tĩnh, nhưng có xu hướng giảm. Công nghiệp khai thác
mới được phát triển, có tỷ trọng ngày càng tăng. Công nghiệp sản xuất và phân phối
điện nước chưa phát triển, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp
tiểu thủ công nghiệp toàn tỉnh.
Năm 2005 giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến đạt 1081 tỷ đồng, trong
đó sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm 34,3%, sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản
chiếm 16,9%, sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại chiếm 16,4%, sản xuất đồ gia
dụng và bàn ghế chiếm 10,9%, các sản phẩm khác chiếm tỷ trọng nhỏ.
Về mạng lưới công nghiệp tiểu thủ công nghiệp của tỉnh bố trí khá hợp lý, đảm
bảo chi phí quy đổi thấp, trên cơ sở khai thác lợi thế về tài nguyên, gần nguồn nguyên
liệu, gần nơi tiêu thụ, và ở những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, như nhà máy gạch
Tuynen đã bố trí ở khu mỏ đất sét. Tuy vậy bố trí không gian còn bộc lộ một số hạn
chế: Sản xuất tiểu thủ công nghiệp xen kẽ trong dân vừa gây ô nhiễm môi trường vừa
khó quản lý về chất lượng và tài chính. Vì vậy trong các năm tới, cần xem xét bố trí
nhà máy trong các khu công nghiệp đã được hình thành.
c. Thương mại và du lịch
• Thương mại
Thương mại đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, mặc dù sản

chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số doanh thu. Trong hoạt động lữ hành, việc nối các
tour du lịch với các tỉnh và cả nước còn nhiều hạn chế. Hệ thống khách sạn có quy mô
vừa và nhỏ, trang thiết bị thiếu đồng bộ. Sử dụng nhà nghỉ, khách sạn tại các khu du
lịch biển còn thấp, mới đạt 2530% tổng số buồng phòng. Tỷ lệ lao động và cán bộ có
trình độ nghiệp vụ du lịch còn thấp.
1.1.1.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
 !"#$%&'(
Hiện nay toàn tỉnh có 14 đô thị, trong đó 1 thị xã loại IV, TP. Hà Tĩnh đã được
công nhận là đô thị loại III, còn 12 thị trấn đô thị loại V. Hầu hết các đô thị là trung
tâm hành chính, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước và thương mại. Dân số đô thị năm
2005 chiếm 10% tổng số dân. Dự báo đến 2020, dân đô thị chiếm 30% tổng số dân,
gấp 3 lần hiện nay. Điều kiện sống của người dân đô thị khá tốt. Bình quân đất ở đô thị
từ 150250 m
2
/hộ. Tầng cao bình quân của các công trình kiến trúc là 2,2 tầng.
Về cơ sở hạ tầng: có 8/14 đô thị có công trình cấp nước công nghiệp, tổng công
suất 32.000 m
3
/ ngày đêm. Hệ thống giao thông chính có khoảng 36 km, trong đó
80% đã được nhựa hóa. Tất cả các đô thị đều được cấp điện cho sinh hoạt và sản xuất
tốt. Dịch vụ bưu chính viễn thông ở các đô thị thuận lợi.
 !"#$%)*+!,(
Cũng như các vùng nông thôn khác ở miền Bắc Việt Nam, dân cư nông thôn
tỉnh Hà Tĩnh đã được hình thành từ rất lâu đời, đến nay đã định hình thành khu quần
14
cư là các làng, bản, thôn xóm. Đơn vị quản lý của các thôn bản là các hộ gia định, mỗi
hộ đều có diện tích nhà ở, sân, công trình phụ, chuồng trại gia súc, giếng nước, vườn
cây, ao cá.
Bình quân đất ở nông thôn toàn tỉnh là 53,52 m
2

1.1.1.6. Thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng đầu tư
xây dựng, đang bước vào thời kỳ phát huy tác dụng. Tuy vậy, do điều kiện địa hình
chia cắt, đất dốc, thuỷ lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong nông
nghiệp, thiếu nước khá trầm trọng vào các tháng gió Tây nam hoạt động mạnh ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng.
1.1.1.7. Giáo dục và đào tạo
Hà Tĩnh là một trong các tỉnh có hệ thống giáo dục phổ thông phát triển nếu so
với cùng mặt bằng mức sống. Hệ thống giáo dục đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
học tập trong tỉnh. Đến năm 2005 tỉnh có 1 trường cao đẳng sư phạm, 4 trường trung
học chuyên nghiệp, 1 trường dân tộc nội trú.
15
Số học sinh trên 1 vạn dân tăng liên tiếp, năm sau cao hơn năm trước. Năm học
1994 - 1995, bình quân toàn tỉnh có 2.434 học sinh / vạn dân tăng lên 2.706 học sinh /
vạn dân năm học 2004 - 2005.
Ngành giáo dục đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Hà Tĩnh là tỉnh sớm
đạt tiêu chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ so với cả nước,
ngay từ năm 1999, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2003.
Về chất lượng giáo dục: Tỷ lệ học sinh đi học ở các cấp học đều cao hơn trung
bình cả nước. Tỷ lệ giáo viên trên lớp tính chung cho cả tỉnh năm học 2004 - 2005, ở
tiểu học là 1,28 (quy định là 1,15); ở trung học cơ sở là 1,94 (quy định là 1,85); ở
trung học phổ thông là 1,83 (quy định là 2,1). Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học
đạt tỷ lệ cao.
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, giáo dục đào tạo vẫn
còn một số khó khăn như:
Chương trình và trang thiết bị đào tạo còn lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế về lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Mạng lưới trường cần mở rộng để đáp ứng cho nhu cầu học tập ngày càng tăng.
Đối với địa hình các xã vùng núi, khoảng cách đến trường của học sinh còn xa,
cần xem xét lại quy mô, địa điểm trường lớp cho phù hợp.

cụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đến nay
100% số xã thị trấn được nghe phát thanh và xem truyền hình.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành văn hóa còn thiếu về số lượng và kém về
chất lượng chưa tương xứng với tên gọi của nó. Hiện nay cả tỉnh có 1 trung tâm văn
hóa cấp tỉnh và 11 trung tâm văn hóa huyện, thị nhưng đã xuống cấp, một số trung tâm
còn ở nhà tạm. Vùng sâu, vùng xa đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân còn kém,
thiếu thông tin, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Vì vậy để đem tri thức đến với dân,
công tác văn hoá, thông tin và thể dục thể thao cần được tiếp tục đẩy mạnh trong các
năm tới.
1.1.1.10. Bưu chính viễn thông
Bưu chính viễn thông trong thời kỳ 1996 - 2005 đã có bước phát triển tích cực,
tăng cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Năm 2004 số máy điện thoại là 3,2
máy/100 dân, cao hơn 10 lần so với năm 1995. Số bưu cục bình quân km2 là 1,1 cao
hơn trung bình toàn vùng. Đây là sự phát triển tích cực, tuy nhiên, mật độ sử dụng điện
thoại trên toàn tỉnh vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn vùng Bắc Trung bộ và phân
bố không đồng đều.
Xây dựng cơ sở hạ tầng đã đạt được nhiều thành tựu, song còn bộc lộ một số
hạn chế chủ yếu như: Đầu tư xây dựng còn dàn trải. Huy động nội lực trong dân còn
hạn chế do thu nhập của nhân dân còn thấp. Với cơ chế đầu tư như hiện nay, tỉnh thiếu
chủ động. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn thấp. Các dự án đầu tư nhỏ, thiếu
các dự án đầu tư lớn có đủ khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
17
CHƯƠNG 2.
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN XẢY RA TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
1.3. ĐẶC ĐIỂM MỘT CỦA THIÊN TAI BÃO, LŨ LỤT VÀ HẠN HÁN TẠI HÀ
TĨNH
1.3.1. Bão
Bão là hiện tượng đặc biệt nguy hiểm, gây ra gió rất mạnh, có thể đánh đắm tàu

Cơn bão số 5 (có tên là bão Lekina) được hình thành ngày 29 tháng 9 từ một
vùng Áp thấp Nhiệt đới trên khu vực đảo Lu Dông (Philipin). Sáng sớm ngày 30 tháng
9 mạnh lên thành bão và đổ bộ vào đèo Ngang khu vực giữa vùng biển tỉnh Hà Tĩnh
Quảng Bĩnh vào 19h tối ngày 3/10 với sức gió cấp 12, giật trên cấp 12. Đây là cơn bão
mạnh, hướng và tốc độ di chuyển thay đổi nhiều lần, khi vào gần bờ cường độ bão
đã không suy yếu mà còn mạnh lên cấp 12, giật trên cấp 12, gây mưa lũ lớn cho các
tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
19
Do mưa to nhiều ngày liền cùng với địa hình đồi núi đã hình thành đợt lũ quét
lớn và được cho là đợt lũ lịch sử tại các tỉnh miền Trung trong vài chục năm gần đây.
Theo Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, mưa lũ đã làm 37 người chết, 24
người mất tích và hơn 100.000 ha lúa, hoa màu hư hại.
Tỉnh Hà Tĩnh: Tại 4 vùng (Thị xã Hà Tĩnh, các huyện Kỳ Anh, Hương Sơn và
Hương Khê) lượng mưa trong thời gian bị ảnh hưởng của bão (29/910/10/2007) dao
động trong khoảng 290.3 – 554.4 mm; trong và sau bão (29/95/10/2007): 209.1 –
442.1 mm, trong đó có 5 ngày có lượng mưa > 100.0 mm. Nơi có lượng mưa lớn nhất
trong thời gian bị ảnh hưởng của bão là huyện Hương Sơn (554.4 mm), nơi có lượng
mưa lớn nhất trong thời gian trong và sau bão là huyện Kỳ Anh (442.1 mm). Trong 4
vùng nói trên, Thị xã Hà Tĩnh và các huyện lân cận là nơi có lượng mưa ít nhất trong
thời gian bị ảnh hưởng của bão (290.3 mm) và cả trong thời gian trong và sau bão
(209.1 mm).
2.1.1. Lũ lụt
1.1.1.11. Lũ lụt và nguy hại do lũ lụt
Trong mùa mưa, những trận mưa lớn trên lưu vực sông thường gây nên những
trận lũ trên sông suối. Khi lũ lớn từ thượng nguồn dồn về hạ lưu, nước lũ có thể tràn
bờ sông, bờ đê khi lòng sông không đủ khả năng tải nước lũ, gây nên hiện tượng ngập
lụt các vùng trũng ven sông và vùng đồng bằng rộng lớn ở hạ lưu các dòng sông. Lũ
đặc biệt lớn có thể gây vỡ đập, vỡ đê. Nước ta với địa hình dốc, đặc biệt là trên dải đất
miền Trung, nhiều con sông suối nhỏ khi có mưa cường độ lớn đều có nguy cơ sinh lũ
lụt cao. Nếu có mưa lớn dài ngày tại những nơi có độ dốc lớn và nền đất yếu, ẩm ướt

như: địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc long sông/suối lớn, độ ổn định của
lớp đất trên bề mặt lưu vực yếu do quá trình phong hóa mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn
phá… ở những nơi này, khi xẩy ra mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn thì dễ
xảy ra lũ quét.
1.1.1.12. Tình trạng lũ lụt tại Hà Tĩnh
Ngập lụt trong mùa mưa bão:Vùng Kỳ Anh Thường xuyên bị ngập lụt trong
mùa mưa bão là các khu vực có địa hình thấp dọc theo sông Quyền, sông Cái và sông
Vinh.
Trong mùa mưa bão, đa phần khu vực đồng bằng địa hình thấp phía đông bắc
vùng nghiên cứu (theo QL.1A) đều bị ngập, khu vực xã Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Văn,
Kỳ Trinh, Kỳ Hưng Kỳ Thịnh, Kỳ Lợi ,chỉ các nơi tập trung dân cư có địa hình cao là
ít bị ngập nước. Khu vực cánh đồng thấp ngập sâu 1 1,5m, đoạn đường QL.1A chạy
qua địa phận xã Kỳ Thư bị ngập 0,5m, khu dân cư bị nước tràn vào nhà 0,3 - 0,5m.
Khu vực phía tây nam do có địa hình cao nên không bị ngập nước, nước mưa
chỉ chảy qua dạng chảy tràn theo các suối, sau khi mưa tạnh thì nước rút hết. Ngoài ra,
khu vực xóm Hòa Lộc (xã Kỳ Trinh) do có hệ thống đê ngăn nước tốt nên không bị
ngập
Nguyên nhân vùng thường xuyên bị ngập lụt vào mùa mưa:
 /;9<&'=>
Đây là vùng có địa hình tương đối phức tạp, có mặt khá đầy đủ các dạng địa
hình núi cao, núi trung bình, núi thấp, đồi và đồng bằng ven biển.
Địa hình núi cao và trung bình với độ cao tới gần 1000m có dải núi thuộc sườn
phía bắc núi Hoành Sơn nổi tiếng nằm ở phía nam vùng nghiên cứu, kéo dài theo
phương á vĩ tuyến. ở khu vực phía đông bắc vùng các núi đá phun trào có độ cao vừa
phải và thấp (50m - 350m), nằm sát bờ biển tạo nên các vũng biển kín thuận lợi cho
việc xây dựng cảng (Vũng áng, Vũng Ná ).
Vùng Kỳ Anh là vùng có địa hình phân dị từ miền núi, đồi thoải đến đồng bằng.
Địa hình có độ dốc nhìn chung nghiêng về phía đồng bằng ven biển
21
Khu vực đồng bằng ven biển trên vùng nghiên cứu có diện tích lớn, chiếm đa số

lụt, ứ đọng. Đường đi của sông Vinh và sông Quyền gấp khúc và đổi hướng liên tục.
Với đường đi như vậy thì sự thoát nước chậm vào mùa mưa bão là hiển nhiên.
Bề ngang sông Quyền thay đổi, có chỗ bị thu hẹp lại, có chỗ phình to hơn và
dao động từ 100m đến 200m. Tại Cửa Khẩu bề rộng trung bình hiện tại là 300m (bề
rộng tại đây năm 1968 là 600m).
Tại khu vực xã Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hưng và Kỳ Thịnh có di tích dòng chảy
cổ. Sông Quyền và sông Vinh có xu hướng chuyển dòng khá phức tạp.
 /;9<!BC!"!!
Vùng nghiên cứu có cấu trúc địa chất phức tạp. Theo tài liệu đo vẽ, nghiên cứu
địa chất Miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 (ĐojikovA.E và nnk., 1965) thì vùng
thuộc phạm vi của đới Hoành Sơn.
22
Nền địa chất gốc của vùng có thành phần khá đa dạng gồm các đá lục nguyên
(cát kết, bột kết, đá phiến sericit ), lục nguyên màu đỏ, đá vôi quét, phun trào axit,
xâm nhập axit có tuổi từ Ordovic đến Jura.
Trầm tích Đệ tứ vùng Kỳ Anh bao gồm các thành tạo cát, sét, bột, sỏi, sạn
nguồn gốc sông, sông lũ, sườn tích, biển, sông biển, biển gió, sông biển đầm lầy
thuộc Pleistocen thượng, Holocen hạ trung, Holocen thượng và Đệ tứ không phân
chia với tổng bề dày đạt trên 70m. Dọc sông Quyền, sông Vinh là các thành tạo sét,
cát, vôi nguồn gốc sông biển đầm lầy tuổi Holocen muộn. Chiều dày trầm tích 2 -
22m. Chúng là tầng đất yếu về mặt cơ lý. Các thân đê ngăn nước của đa số hệ thống đê
lại được định vị trong diện phân bố của tầng đất yếu này nên rất dễ xảy ra hiện tượng
sụt lún thân đê, nứt thân đê, thậm chí vỡ thân đê, nhất là trong mùa mưa bão.
Các thành tạo đá gốc gắn kết ở xung quanh đồng bằng tạo nên các dạng địa
hình dương là các bức tường thành tự nhiên cản trở cho việc thoát nước của vùng
trũng vào mùa mưa, nhất là các khối núi đá nằm kề sát bờ sông và bờ biển.
Trong vùng có một đứt gãy kiến tạo đang hoạt động và nhiều đứt gãy kiến tạo
nhỏ khác chạy theo phương TB - ĐN, ĐB - TN và á vĩ tuyến. Một số đứt gãy kiến tạo
đóng vai trò đặt lòng cho dòng chảy của các sông suối hiện đại.
 /;9<+)E"6

hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy
sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước ngầm dưới đất
v.v
Để đánh giá mức độ hạn hán người ta dùng chỉ số khô hạn. Chỉ số khô hạn
tháng là tỉ lệ giữa lượng bốc hơi tháng trên lượng mưa tháng. Chỉ số khô hạn năm là
lượng bốc hơi năm trên lượng mưa năm.
Người ta dùng chỉ số khô hạn tháng để phân định mùa khô, mùa ẩm cho từng
khu vực và chỉ số khô hạn năm để phân vùng khô hạn theo lãnh thổ.
Tại vùng biển và ven biển Việt Nam chỉ số khô hạn phổ biến là 0.2 - 0.8.
Những nơi có chỉ số khô hạn dưới 0,2 là các rốn mưa Trà My (0.17). Những nơi có chỉ
số khô hạn trên 1.0 là Nha Hố (2.44), Cam Ranh (1.54), Phan Thiết (1.27), Nha Trang
(1.04). Đây là các địa điểm có lượng mưa ít và quanh năm nắng nóng.
Theo chỉ số khô hạn tháng, hạn hán được phân loại như sau:
Bảng 2.2. Phân loại chỉ số hạn hán
Loại Mức độ khô hạn Chỉ số khô hạn tháng phổ biến
A
B
C
D
E
Rất ẩm
µm
Hơi khô
Khô
Rất khô
<0.5
0.51.0
1.02.0
2.04.0
>4.0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status