VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
TỈNH HÀ TĨNH
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHÙ
HỢP NHƯ: QUY HOẠCH TỔNG THỂ LƯU VỰC SÔNG, THAY
ĐỔI CÁC TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT CÁC CÔNG TRÌNH KHAI
THÁC VÀ SỬ DỤNG NƯỚC, CÁC BIỆN PHÁP TIẾT KIỆM VÀ
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN NƯỚC, DUY TRÌ BẢO VỆ
NGUỒN NƯỚC, KIỂM SOÁT Ô NHIỄM NƯỚC, THOÁT LŨ,
TIÊU ÚNG, CHỐNG XÂM NHẬP MẶN VÀ GIỮ NGỌT
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 39)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG ii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU iv
CHƯƠNG 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH 5
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 5
1.1.1.Vị trí địa lý 5
1.1.2.Địa hình, địa chất 6
1.1.3.Khi tượng, Khí hậu 6
1.1.4.Thủy văn, tài nguyên nước 7
1.2.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 7
1.2.1.Dân số và lao động 7
1.2.2.Đặc điểm về kinh tế 8
1.2.3.Văn hoá – Giáo dục 9
Hình 2.5. Nhu cầu nước và lượng nước tưới thiệu hụt hệ thống sông Cả tính toán theo
kịch bản dùng nước hiện tại 16
Hình 2.6. Biến đổi lượng nước tưới thiếu hụt tháng theo 3 theo các kịch bản 17
iii
MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong
thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu đã làm cho các loại thiên tai đặc biệt là bão, lũ, hạn hán
ngày càng khốc liệt, tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên
phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng sẽ gây ngập lụt và xâm nhập
mặn ở những vùng đất thấp do đó ảnh hưởng đến nông nghiệp, công nghiệp và hệ
thống kinh tế - xã hội trong tương lai.
Hà Tĩnh có địa hình đa dạng, phức tạp, đồi núi nhiều, độ dốc lớn, với 137 km
bờ biển, trong những năm qua đã chịu ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu với các
hiện tượng nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng lên, lượng mưa nhiều vùng đã giảm
rõ rệt, hạn hán ngày càng trầm trọng hơn, tần suất và quy luật bão lũ có sự thay đổi
khó lường, đã có hiện tượng nước biển lấn sâu vào các sông và xuất hiện hiện tượng
xâm thực bờ biển ở một số địa phương ven biển…
Ngày 02 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
158/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi
khí hậu. Để chủ động ứng phó và tích cực phòng chống thiên tai do biến đổi khí hậu
gây ra, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của nhân dân và Nhà nước.
Chuyên đề “Xác định các giải pháp khoa học công nghệ phù hợp như: quy
hoạch tổng thể lưu vực sông, thay đổi các tiêu chuẩn kỹ thuật các công trình khai thác
và sử dụng nước, các biện pháp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn nước, duy trì bảo
vệ nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm nước, thoát lũ, tiêu úng, chống xâm nhập mặn và
giữ ngọt” đưa ra một số tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh Hà
Tĩnh từ đó đưa ra các giả pháp khoa học công nghệ phù hợp nhằm thích ứng với biến
đổi khí hậu.
iv
cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo và Quốc lộ 12 với cửa khẩu Cha Lo Quảng Bình (trục
hành lang Đông - Tây), nối với hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng đã và đang đầu
tư xây dựng.
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện với 262 phường xã, thị trấn, gồm
10 đơn vị huyện, 2 thị xã. Thị xã Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá
của tỉnh nằm cách Hà Nội 341 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Nam theo
Quốc lộ 1A.
Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế, giao lưu vận chuyển hàng hoá, vì có lợi thế nằm tiếp giáp với các đô thị lớn và
5
cửa khẩu Quốc tế quan trọng, có nhiều thế mạnh cả về giao thông đường thuỷ và
đường bộ.
1.1.2. Địa hình, địa chất
Hà Tĩnh là tỉnh có địa hình đa dạng, đủ các vùng đồi núi, trung du, đồng bằng
và biển. Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên. Đồng bằng có diện tích
nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối. Phía Tây là dãy Trường Sơn nằm dọc biên
giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên
2000m như Pulaleng (2711 m), Rào Cỏ (2.335 m).
Địa hình của Hà Tĩnh hẹp và dốc, nghiêng dần từ Tây sang Đông. Phía Tây là
núi cao (độ cao trung bình là 1500 m, kế tiếp là miền đồi bát úp, rồi đến dải đồng bằng
nhỏ hẹp (độ cao trung bình 5 m) và cuối cùng là các bãi cát ven biển.
Phần lớn diện tích của tỉnh là núi có độ cao dưới 1000m, cấu trúc địa chất tương
đối phức tạp. Một phần diện tích nhỏ là các thung lũng có độ cao chủ yếu dưới 300 m,
bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi,
cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực.
Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển có địa hình trung bình trên
dưới 5 m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về
phía Nam càng hẹp. Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình
thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung
C. Số giờ nắng trung bình năm vào
khoảng 1.800 giờ. Lượng mây trung bình năm ở Hà Tĩnh vào khoảng 70-80%. Lượng
6
mưa trung bình năm ở Hà Tĩnh vào khoảng 2.000 - 2700 mm, với số ngày mưa từ 140
- 160 ngày/năm. Độ ẩm trung bình năm rất cao, đạt tới 84 - 86%. Chênh lệch giữa độ
ẩm trung bình của tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%.
Hà Tĩnh là tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của bão (chịu trực tiếp từ 3-4 cơn bão/
năm, chịu ảnh hưởng từ 5-6 cơn bão/ năm). Tốc độ gió mạnh nhất khi có bão có thể
đạt tới 30m/s ở vùng núi và 40m/s ở vùng đồng bằng.
1.1.4. Thủy văn, tài nguyên nước
Hà Tĩnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là chiều
dài ngắn, lưu vực nhỏ, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn, nhất là về mùa mưa lũ.
Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Hà Tĩnh theo mùa rõ rệt, hầu hết
các con sông chịu ảnh hưởng của mưa lũ ở thượng nguồn, những vùng thấp trũng ở hạ
lưu đất thường bị nhiễm mặn do chế độ thuỷ triều ảnh hưởng xấu đến sản xuất, tuy
nhiên có thể tận dụng đặc điểm này để quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản
nước lợ.
Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s,
15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m
3
/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã phục
vụ tưới được 47.737 ha/vụ. Tuy nhiên việc sử dụng nước phục vụ cho sản xuất nông
là 1.399 người/km2, mật độ dân số thấp nhất tại huyện Hương Khê là 84 người/km2.
Sự chênh lệch mật độ dân số quá cao đã gây nên các áp lực tại các đô thị, nhất là thành
phố Hà Tĩnh, đó là vấn đề nhà ở, đất sản xuất, lưu lượng phương tiện giao thông, chất
thải sinh hoạt, Sau đây là diễn biến dân số thành thị và nông thôn trong năm 2002
đến 2007.
Hình 1.2. Diễn biến tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn
Theo dự kiến dân số toàn tỉnh đến năm 2020 là 1,6 triệu người (bao gồm tăng
dân số tự nhiên và cơ học), trong đó dân số đô thị là 650 nghìn người, chiếm 40% dân
số toàn tỉnh. Để có sự phát triển hài hoà trong tương lai, cần phải cải thiện đáng kể cơ
sở hạ tầng như: nhà ở, đường giao thông và các công trình phúc lợi khác nhằm giảm
thiểu các tác động do sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Đặc điểm về kinh tế
Hà Tĩnh là tỉnh có nền kinh tế phát triển ổn định. Trong 63 tỉnh thành trong cả
nước thì GDP của Hà Tĩnh đứng thứ 35, GDP bình quân đầu người đứng thứ 46, thu
ngân sách đứng thứ 17. Nền kinh tế của tỉnh đã và đang có sự chuyển dịch cơ cấu theo
ngành. Trong những năm qua, kinh tế có sự tăng trưởng theo hướng tăng tỉ trọng của
công nghiệp và dịch vụ, song chưa ổn định.
Về nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp theo bình quân đầu người cao so với
các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã thu hút 73% số
lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, đóng góp 41% GDP của tỉnh. Ngành trồng
trọt còn mang tính độc canh. Cây lâu năm chiếm tỉ lệ quá nhỏ trong cơ cấu cây trồng,
chỉ khoảng 2%. Diện tích trồng cây hàng năm chiếm 82% đất trồng trọt, trong đó đất
dành cho cây lương thực lên tới 86% diện tích. Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, vừng,
dâu tằm, mía và rau), cây thực phẩm chỉ chiếm 10-12% diện tích gieo trồng.
Về lâm nghiệp, hiện nay cả tỉnh có 240,5 nghìn ha đất có rừng, bao gồm cả
rừng tự nhiên và rừng trồng. Sản lượng khai thác gỗ hàng năm khoảng từ 20-30 nghìn
m
3
. Hà Tĩnh cũng có khoảng 3000 ha rừng thông nhựa đã đến tuổi khai thác. Trong
tương lại, hướng chủ yếu của ngành lâm nghiệp là bảo vệ, cải tạo và tu bổ rừng tự
Xuân, bưởi Phúc Trạch (Hương Khê), cam đường Hương Sơn, quạt giấy Thịnh Xá,
nón Kỳ Anh, muối Hộ Độ, nghề mộc ở Vân Chàng, Thái Yên (Can Lộc), Xa Lang
(Hương Sơn).
1.2.3. Văn hoá – Giáo dục
Hà Tĩnh là một vùng quê nằm trên dải đất miền Trung, thiên nhiên không mấy
ưu đãi, nhưng Hà Tĩnh thường được coi là nơi "Địa linh nhân kiệt". Trong khó khăn
gian khổ, con người đã vươn lên tạo dựng được một đời sống tinh thần phong phú, để
lại cho muôn đời sau những giá trị văn hoá to lớn. Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng
về văn chương, khoa bảng và cũng rất đỗi anh hùng.
Hà Tĩnh có lịch sử lâu đời. Những di khảo cổ học cho thấy quần cư của người
Việt cổ đã tồn tại cách đây hàng ngàn năm. Cuộc sống sản xuất, đấu tranh với thiên
tai, giặc giã khiến con người nơi đây vừa gan dạ, vừa lạc quan yêu đời, gắn với một
nền văn nghệ dân gian dồi dào mà đậm đà, chân chất. Những câu chuyện kể dân gian,
truyện cười, những sự tích về núi sông đến các hình thức giao lưu bằng nghệ thuật
9
múa, hát dân ca, kể chuyện thật phong tình và mộc mạc. Quanh núi Hồng Lĩnh còn
có cả một kho tàng văn hoá tiềm ẩn đang được khơi dậy; truyền thuyết núi Hồng với
99 ngọn đang là nguồn cảm hứng vô tận của thi ca.
Hà Tĩnh có nhiều làng nổi tiếng về văn hoá, khoa bảng và làng nghề truyền
thống. Các làng Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung
Lễ, Bùi Xá nổi danh về truyền thống học hành, khoa bảng và văn chương.
Hà Tĩnh là vùng đất có truyền thống yêu nước, đóng góp rất nhiều vào công
cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, vùng đất này nổi
tiếng với phong trào Cần Vương và sau đó là cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh những năm
1930 -1931. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Tĩnh đã đóng góp nhiều sức người sức
của cho tiền tuyến với những địa danh ghi lại những chiến công oanh liệt của một thời
như Ngã ba Đồng Lộc - đèo Mười Cô, núi Nài
Trên mảnh đất này, cùng với sự định hình của cư dân nông nghiệp với nghề
trồng lúa nước, nghề rừng, nghề biển là quá trình hội tụ và phát triển của văn hoá
dân gian mà tiêu biểu là những làn điệu dân ca Nghệ - Tĩnh mượt mà, ấm áp. Hà Tĩnh
Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ tài nguyên
và Môi trường công bố năm 2009, LVS Cả nằm trong vùng Bắc Trung Bộ và chịu ảnh
hưởng lớn của BĐKH.
Về nhiệt độ: Theo kịch bản B1, cuối thể kỷ 21 nhiệt độ trung bình năm tăng từ
1.4
0
C đến 2.2
0
C. Với kịch bản B2 là từ 2.0
0
C đến 3.1
0
C, kịch bản A2 từ 2.7
0
C đến
11
3.4
0
C. Trong giai đoạn đầu xu thế tăng của nhiệt độ của 3 kịch bản tương đối đồng
đều. Đến nữa sau thế kỷ 21 xu thế tăng bắt đầu mới có sự phân tách.
Khu vực lưu vực sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố nhiệt độ tăng cao nhất. Đến thời kỳ
2080 -2099, nhiệt độ trung bình thời kỳ có thể tăng lên đến 3.7
0
C tại trạm Hà Tĩnh,
3.3
0
C tại trạm Hương Khê
Về lượng mưa: Lượng mưa mùa khô giảm rõ rệt. Các tháng mùa lũ lượng mưa
đều tăng. Lượng mưa tăng mạnh nhất vào tháng 7, tháng 12 và giảm mạnh các tháng
1, 5. Tại các trạm thủy văn trên nhánh chính sông Cả, đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa
3,62% ) và 531(m
3
/s) (tăng 2.07%). Trên lưu vực sông Ngàn Sâu tương ứng cùng thời
kỳ 2080 – 2099, dòng chảy năm thấp hơn thời kỳ nền và thời kỳ tương lai gần. Tại
trạm Hòa Duyệt, dòng chảy năm tính toán theo kịch bản A2 là (124 m
3
/s) giảm 0.89%
so với thời kỳ nền. Kết quả dòng chảy năm tương ứng theo các kịch bản B2, B1 lần
lượt giảm so với thời kỳ nền 0.96% và 0.89%.
12
Hình 2.4. Lượng mưa, Bốc hơi, dòng chảy trung bình năm ứng với các kịch bản lưu vực
trạm Yên Thượng
Như vậy tổng lượng nước trên lưu vực sông Cả tập hợp từ nhiều nhánh sông
khác nhau. Sự biến thiên dòng chảy năm trên các nhánh sông cũng có sự khác nhau do
biến đổi giữa lượng mưa và bốc hơi theo từng kịch bản cũng như từng lưu vực bộ phận
có sự khác nhau. Dòng chính sông Cả, lưu lượng trung bình năm có xu hướng tăng rõ
rệt so với thời kỳ nền, trong khi các sông nhánh như sông La, sông Ngàn Sâu có xu
hướng giảm nhẹ, hầu như không biến đổi so với thời kỳ nền. Trên Cả hệ thống dòng
chảy năm có xu thế tăng phù hợp với xu thế biến đổi của bốc hơi và nhiệt độ trong các
kịch bản biến đổi khí hậu. Hệ số dòng chảy trên hệ thống giảm rất ít trong tương lai
1.3.1.2. Tác động đến xá trình xâm nhập mặn
Diễn biến xâm nhập mặn trên hệ thống sông Cả được tính toán dựa trên cơ sở
kịch bản nước biển dâng theo các kịch bản phát thải. Theo đó, mực nước biển trong
tương lai tăng dần theo thời gian, với thời kỳ 2020 – 2039 15cm và đến cuối thế kỷ có
2 giả thiết tăng 75cm và 100cm Từ kết quả tính toán cho thấy, xét theo tỷ lệ tăng của
13
độ mặn trong sông, khoảng cách càng xa biển, tỷ lệ tăng độ mặn trong sông càng
nhanh. Xét theo giá trị tuyệt đối, độ mặn trong sông tăng lớn nhất trên đoạn sông cách
từ 15km đến 25km so với cửa biển.
Trong thời kỳ 2020 – 2039: Mức độ gia tăng xâm nhập mặn theo 2 kịch bản A2
/
00
so với thời kỳ nền
Thời kỳ 2080 – 2099: Độ mặn trong sông tăng khoảng 0.1 ÷ 5.5
0
/
00
với trường
hợp có điều tiết của hồ chứa và 0.1 ÷ 0.45
0
/
00
trong trường hợp không có sự điều tiết
của hồ chứa Vị trí mặt cắt cách cửa biển 15km độ mặn tăng nhanh nhất, khoảng
5.5
0
/
00
. Từ vị trí này, khoảng cách tới biển càng lớn thì chênh lệch giữa độ mặn thời kỳ
nền và thời kỳ tương lai càng giảm.
Bảng 2.1. Diễn biến xâm nhập mặn lớn nhất dọc sông Cả đến cửa biển khi có điều tiết hồ
chứa
Khoảng
cách tới
cửa biển
(km)
Độ mặn theo các kịch bản (
0
/
00
Bảng 2.2. Diễn biến xâm nhập mặn lớn nhất dọc sông Cả đến cửa biển khi không có điều
tiết
Khoảng
cách tới
cửa biển
(km)
Độ mặn theo các kịch bản (
0
/
00
)
baseline A2 B2
14
0.00 30.0 30.1 30.1 30.1 30.2 30.2 30.1 30.1 30.1 30.2 30.2
3.83 26.5 26.7 27.0 27.4 27.7 28.1 26.7 27.0 27.4 27.7 28.0
8.0 22.6 23.1 23.6 24.3 25.0 25.6 23.1 23.6 24.3 24.9 25.5
11.5 18.6 19.3 19.9 20.9 21.7 22.4 19.2 19.9 20.8 21.7 22.3
14.9 14.0 14.8 15.5 16.6 17.7 18.5 14.8 15.5 16.6 17.6 18.4
16.9 11.5 12.3 13.0 14.2 15.3 16.2 12.3 13.0 14.2 15.2 16.1
20.8 8.16 8.84 9.55 10.7 11.8 12.6 8.83 9.55 10.7 11.7 12.6
23.5 6.73 7.42 8.09 9.26 10.3 11.1 7.41 8.09 9.21 10.2 11.0
25.4 5.82 6.48 7.14 8.29 9.34 10.2 6.47 7.14 8.23 9.26 10.1
30.0 3.71 4.23 4.78 5.79 6.78 7.52 4.22 4.78 5.74 6.70 7.44
31.7 2.64 3.08 3.54 4.41 5.25 5.92 3.07 3.54 4.37 5.18 5.85
34.8 1.48 1.81 2.18 2.86 3.56 4.12 1.82 2.18 2.83 3.50 4.06
38.7 0.70 0.93 1.18 1.71 2.32 2.82 0.93 1.18 1.68 2.27 2.77
42.9 0.47 0.47 0.47 0. 80 1.22 1.65 0.47 0.47 0.78 1.19 1.61
Trường hợp có điều tiết, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất ứng với độ mặn
4
0
/
00
, khi nước biển dâng 15 cm có sự điều tiết
của hồ, khoảng cách xâm nhập mặn chỉ giảm khoảng 0.2 km. Với kịch bản nước biển
dâng 100cm khoảng cách xâm nhập mặn có thể thể giảm được khoảng 0.9 đến 1.0 km
theo 2 kịch bản A2 và B2
Bảng 2.3. Khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất dọc sông Cả ứng với độ mặn 4
0
/
00
và
1
0
/
00
đến cửa biển theo các kịch bản
Kịch bản Không điều tiết Có điều tiết
4
0
/
00
1
0
/
00
4
0
/
00
1
54,6 % ), 98.7 triệu m3 (50.3%) và 88.3 triệu m3 (34.4%).
Bảng 2.4. Nhu cầu tưới các thời kỳ theo các kịch bản phát triển hiện tại
A2
2020 - 2039 1165 72.7
2040 - 2059 1175 81.4
2060 - 2079 1184 92.8
2080 - 2099 1196 101
B2
2020 - 2039 1165 72.4
2040 - 2059 1175 81.6
2060 - 2079 1183 91.0
2080 - 2099 1194 98.7
B1
2020 - 2039 1165 72.4
2040 - 2059 1173 80.7
2060 - 2079 1178 85.6
2080 - 2099 1180 88.3
Hình 2.5. Nhu cầu nước và lượng nước tưới thiệu hụt hệ thống sông Cả tính toán theo
kịch bản dùng nước hiện tại
16
Xét phân phối nhu cầu nước trong năm cho thấy nhu cầu tưới từ tháng 7 đến
tháng 12 trong năm giảm. Các tháng còn lại từ tháng 1 đến tháng 12 nhu cầu tưới tăng.
Thời kỳ nhu cầu nước tăng mạnh nhất là tháng 5. Các tháng 5 và 6 có lượng nước
thiếu hụt tăng mạnh nhất. Như thống kê trong phụ lục, lượng nước thiếu hụt trong
tháng 5 thời kỳ 2020 – 2039 tăng khoảng 21.1% đến 25.8% so với thời kỳ nền. Đến
cuối thế kỷ 21, lượng nước thiếu hụt tăng lên tới 90.0% so với thời kỳ nền (kịch bản
A2). Kịch bản B1 tăng thấp nhất cũng lên đến 60.6%.
Hình 2.6. Biến đổi lượng nước tưới thiếu hụt tháng theo 3 theo các kịch bản
1.3.2. Các biện pháp quản lý tổng hợp lưu vực sông
Trong khi phương thức quản lý hiện nay cần phải quản lý tổng hợp gồm giải
vời rồi.
Các biến động chính của hệ thống thường do các yếu tố chủ chốt gây ra. Các
yếu tố còn lại ảnh hưởng không lớn, và nếu chúng ta đi vào nghiên cứu nó thì sẽ hao
tốn nhiều công sức không tương xứng với hiệu ích đem lại.
Tính đến trường hợp chúng ta bỏ công nghiên cứu tất cả các yếu tố, thì khả
năng chi phối được tất cả các yếu tố đó cũng không dễ dàng do đó hiệu quả nghiên cứu
sẽ không cao.
Giải pháp tổng hợp cho phép các chiến lược có thể thực hiện trong thời gian
hợp lý hơn.
Cần phải nói rằng cho tới nay, mặc dù quan niệm về quản lý tổng hợp lưu vực
sông được trình bày trong khá nhiều báo cáo và tài liệu quy hoạch nhưng trên thực tiễn
hiếm khi thực hành được giải pháp này. Lý do chính là do sự phân tán về quản lý đối
với tài nguyên nước về ranh giới hành chính cũng như theo các Bộ, ngành chuyên môn
mà sự phối hợp đa ngành liên lãnh thổ hiện nay rất khó thực hiện.
Theo tài liệu của GWP, quản lý tổng hợp tài nguyên nước được định nghĩa: “Là
một quá trình đẩy mạnh, phối hợp phát triển và quản lý nguồn nước, đất đai và tài
nguyên liên quan, để tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng
mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu”.
Quản lý tổng hợp ngày nay quan tâm đặc biệt đến tác động qua lại giữa con
người và thiên nhiên, do đó tổng hợp được xem xét theo cả hai hệ: Hệ tự nhiên và hệ
con người.
Tổng hợp về mặt tự nhiên bao gồm các khía cạnh sau:
- Tổng hợp quản lý nước ngọt và và quản lý vùng ven biển.
- Tổng hợp quản lý “nước xanh lá cây” và “nước xanh da trời”.
- Tổng hợp nước mặt và nước dưới đất.
18
- Tổng hợp số lượng và chất lượng trong quản lý tài nguyên nước.
- Tổng hợp những lợi ích liên quan đến nước ở thượng lưu và hạ lưu.
Tổng hợp về mặt con người bao gồm những khía cạnh sau:
- Khi phân tích tài nguyên nước phải kết hợp phân tích các hoạt động của
công tác quản lý được tiến triển và tích luỹ ngày càng nhiều thông tin liên quan đến
các quá trình quản lý.
Sau cùng nếu việc quản lý tổng hợp lưu vực sông có giá trị thiết thực thì nó
phải là một sản phẩm. Điều này có nghĩa là việc quản lý tổng hợp lưu vực sông phải
mang lại kết quả và những thành quả này được thể hiện qua việc chuẩn bị và thực hiện
một kế hoạch hành động. Cũng cần thiết phải nhấn mạnh rằng kế hoạch quản lý này tự
nó không phải là mục tiêu mà là phương tiện để đạt tới mục tiêu. Nó phải mang lại
19
hiệu quả thông qua những hoạt động thực tiễn trong lưu vực sông nhằm đạt được
những mục tiêu của công việc quản lý
1.4. CÁC CÔNG TRÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NƯỚC
1.4.1. Tình hình khai thác sử dụng nguồn nước tỉnh Hà Tĩnh
Tổng lượng nước ngọt được dùng để tưới lúa, cấp nước sinh hoạt, sản xuất công
nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh ước tính khoảng 750 triệu m
3
/năm,
bằng khoảng 1,3% so với lượng nước dùng của cả nước, trong đó, cấp nước tưới lúa
87%; cấp nước sinh hoạt 6% (đô thị 1% và nông thôn 5%); sản xuất công nghiệp 1%
và nuôi trồng thuỷ sản (nước ngọt) 7%.
1.4.1.1. Khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt
Tổng lượng nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt ở đô thị và thị trấn hàng năm
vào khoảng 6 triệu m
3
/năm; ở khu vực nông thôn vào khoảng 34 triệu m
3
/năm. Tổng
lượng nước dùng để ăn uống và sinh hoạt khoảng 40 triệu m
3
/năm (bằng 6% tổng
lượng nước dùng của tỉnh).
3
/năm. Toàn tỉnh có 197 công trình cấp
nước tưới. Trong đó có 92 hồ đập, chủ yếu tập trung ở trung du và miền núi với tổng
dung tích 630 triệu m
3
( một số hồ chứa lớn như: Kẻ Gỗ, dung tích 345 triệu m
3
; Sông
Rác, 124 triệu m
3
; Bộc Nguyên, 24 triệu m
3
, ). Ngoài ra, còn có 84 trạm bơm với tổng
công suất bơm nước 63 m
3
/s, chủ yếu ở khu vực đồng bằng, một số ít ở khu vực trung
du ( một số trạm bơm chính như: trạm bơm Linh Cảm ở huyện Đức Thọ, công suất
20
bơm 18 m
3
/s; trạm bơm Nghi Xuân 1 và Nghi Xuân 2 ở huyện Nghi Xuân có tổng
công suất bơm 20 m
3
/s, ).
1.4.2. Một số biện pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên nước
a. Giảm nhu cầu nước.
- Tưới tiết kiệm nước.
- Giảm tổn thất nước:
- Cứng hoá kênh mương
- Nâng cấp công trình đầu mối
21
- Hiểu và thực hiện đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước,
Luật Đê Điều, Chiến lược quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020 và các
Nghị định, Qui định của Chính phủ có liên quan.
- Thực hiện người gây ô nhiễm phải trả phí.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội cộng đồng tham gia quản lý và bảo vệ môi
trường nước.
- Cải tạo, cải thiện khôi phục có kiểm soát các dòng sông bị ô nhiễm, bị tù như
sông Đáy, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Sài Gòn và các sông, kênh nội đô.
1.5. HỆ THỐNG GIÁM SÁT, KIỂM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC
1.5.1. Tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên Thế giới và ở Việt Nam
Các nguồn gốc phát thải ô nhiễm có thể do hoạt động con người hoặc có thể do
các hoạt động thiên nhiên làm tổn hại đến môi trường cũng như đến chất lượng cuộc
sống của con người. Sự phân loại thể loại giám sát môi trường cũng vì thế được chia ra
làm hai loại khác nhau, đó là:
• Giám sát nguồn thải.
• Giám sát chất lượng môi trường.
Mục tiêu chính của chương trình giám sát chất lượng môi trường không bao
gồm kiểm soát các nguồn thải do đó trong cuốn sách này chương trình giám sát nguồn
thải chỉ liệt kê một số thông tin chính để tham khảo.
Giám sát nguồn thải
Mục tiêu
• Để xác định lượng thải hoặc tốc độ thải của các chất ô nhiễm vào môi trường
từ những nguồn thải cụ thể nhằm phục vụ cho một hay nhiều mục đích đã nêu ở các sơ
đồ nói trên.
• Để đánh giá hiệu quả xử lý của trạm xử lý chất thải.
• Để đánh giá sự tuân thủ pháp luật hoặc tiêu chuẩn thải vào môi trường v.v.
Để phục vụ mục đích này người ta có thể giám sát bằng hệ thống giám sát cố
định hoặc di động cho cả ba loại chất thải: rắn, lỏng và khí. Một số thể loại giám sát
này được vắn tắt như sau:
Tổ chức bộ máy quản lý kiểm soát môi trường : gồm có Cục môi trường
thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, các sở KHCN&MT tại các tỉnh. Tuy nhiên do lực
lượng quản lý còn rất mỏng nên hiện tại chưa kiểm soát chặt chẽ tất cả các biến đổi
môi trường xẩy ra trên thực tế mà mới chỉ tập trung tại các điểm ô nhiễm gay cấn nhất
như các đô thị và các khu công nghiệp
Xây dựng mạng lưới giám sát chất lượng: Nhà nước xây dựng một hệ
thống các trạm quan trắc và giám sát chất lượng nước để theo dõi quan trắc các thông
số chất lượng nước phục vụ cho quản lý, xây dựng các kế hoạch, chính sách bảo vệ
môi trường
Tuyên truyền giáo dục: tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo
vệ môi trường cho nhân dân và động viên tất cả mọi công dân tuân theo đúng các quy
định của luật môi trường.
1.5.2.2. Biện pháp quản lý và kỹ thuật
Biện pháp quản lý để giảm các chất ô nhiễm tại nguồn
Thu gom hết các rác thải không để đổ vào sông, hồ gây ô nhiễm nước
Xử lý sơ bộ nước thải vệ sinh bằng các hệ thống bể tự hoại gia đình
Quy hoạch hợp lý các xí nghiệp nhà máy trong các vùng trọng điểm, áp dụng
biện pháp di chuyển một số xí nghiệp lớn ra khỏi các khu vực đông dân cư, trung tâm
đô thị
23
Quản lý chặt nước thải của các xí nghiệp, nhà máy trước khi thải ra sông hồ
theo tiêu chuẩn chất lượng nước
Biện pháp kỹ thuật để cải thiện các điều kiện của dòng sông để hạn chế ô nhiễm
Cải tạo lòng sông tăng khả năng tự làm sạch của nước
Cải tạo mặt cắt và nạo vét lòng sông để tăng khả năng tiêu thoát nước mưa,
nước thải, tăng khả năng thâm nhập của oxy không khí vào nước
Dùng các kỹ thuật khác như bơm không khí, khuấy đảo nước, để đưa nồng độ
oxy hòa tan trong nước sông tăng lên tại những vị trí ô nhiễm nhiều
Biện pháp kỹ thuật xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn để bổ sung nước hạ du trong
các thời kỳ mùa cạn để cải tạo môi trường.