MỤC LỤC
Phần mở đầu
1. Cơ sở phương pháp luận
2. Ý nghĩa của học tập môn học
3. Lý do chọn đề tài
4.Đối tượng nghiên cứu
5.Phương pháp nghiên cứu
6.Phạm vi nghiên cứu
Phần nội dung
A. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN VÀ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC(1945-1954)
Chương 1: Cơ sở lý luận
1. Hoàn cảnh lịch sử của đường lối
1.1. Đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền Cách mạng (1945 - 1946)
1.2 Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
2. Chủ trương của Đảng
Chương 2: Thực trạng
1. Quá trình hình thành và nội dung chủ trương của đảng
2. lấy ví dụ một trận đánh minh họa( đưa số liệu hình ảnh , phân tích )
3. kết quả, ý nghĩa
4. Nguyên nhân thắng lợi
5. Bài học kinh nghiệm
Chương 3. Kết luận kiến nghị
B. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC THỐNG
NHẤT TỔ QUỐC (1954-1975)
Chương 1. Cơ sở lý luận
1. Giai đoạn (1954-1964)
1.1 Hoàn cảnh lịch sử
2.1 chủ trương, đường lối của đảng
2. Giai đoạn (1965-1975)
1.1 Hoàn cảnh lịch sử
mắt của đồng bào và đâ tộc ta và để đạt được thành tựu như thê không thể không nhắc
đến đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và
mỹ đảng chính là người đại biểu trung thành cho những lợi ích sống còn cho cả dân tộc
Việt nam, một Đảng có đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ và sáng tạo.
chính vì lẽ đó mà nhóm 10 chúng em xin chọn đề tài” Đường lối kháng chiến chống thực
dân pháp và đế quốc mỹ xâm lược 1945-1975” với mong muốn là được hiểu thêm về
truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc và hơn nữa muốn góp một phần nhỏ của mình
nhằm truyền đạt lại những truyền thống đó lại cho các bạn trẻ để các bạn hiểu thêm về
Đảng về dân tộc Việt nam mình góp một hành trang cho các ban sinh viên có vững tin
bước vào đời với tự hào về Đảng về đất nước Việt nam.
4. Đối tượng nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgic, ngoài ra có sự kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng
hợp, so sánh, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hoá và trừu tượng hóa thích hợp với từng
nội dung của môn học
6. Phạm vi nghiên cứu: đường lối kháng chiến của đảng trong hai cuộc kháng chiến
chống pháp và chống mi từ 1945-1975
Chương II. Nội dung
Chương III. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN
VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM
LƯỢC(1945-1954)
Chương IV. Chương 1: Cơ Sở Lý Luận
1. Hoàn cảnh lịch sử của đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng (1945 -
1946)
Chương V. -Hoàn cảnh Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám
Chương VI. Thuận lợi:
- Với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam dân chủ
Cộng hoà ra đời, Đảng ta đã trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền
trong cả nước.
- Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh kiên
dọn đường cho quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miền Nam. Chưa bao giờ, cùng
một lúc cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều kẻ thù như thời điểm này. Chúng có
thể mâu thuẫn với nhau về lợi ích kinh tế nhưng đều thống nhất với nhau trong âm mưu
chống cộng sản, thủ tiêu chính quyền cách mạng, xoá bỏ thành quả mà cuộc CMT8 vừa
giành được.
Chương XIV. Hoàn cảnh lịch sử của đường lối kháng chiến chống thực dân pháp
- Tháng 11/1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành
phố Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều
cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta ở phố Yên Ninh - Hàng Bún
(Hà Nội). Đồng thời Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ ta, đòi phải
tước hết vũ khí của tự vệ Hà Nội, đòi kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ
đô.
- Trước tình hình đó, từ ngày 13 đến ngày 22/12/1946 Ban thường vụ
trung ương Đảng ta đã họp tại Vạn Phúc, Hà Đông dưới sự chủ trì
của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó. Hội
nghị đã cử phái viên đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không có
kết quả. Hội nghị cho rằng khả năng hoà hoãn không còn. Hoà hoãn
nữa sẽ dẫn đến hoạ mất nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ. Do
đó, hội nghị đã quyết định hạ quyết tâm phát động cuộc kháng chiến
trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực
hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh kháng chiến
được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946, tất cả các chiến trường
trong cả nước đã đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20/12/1946, lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên
Đài tiếng nói Việt Nam.
Chương XV. Thuận lợi của nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược là: cuộc chiến tranh của ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ nền độc lập tự
do của dân tộc, ta đã có sự chuẩn bị cần thiết về mọi mặt, nên về lâu dài, ta sẽ có khả năng
đánh thắng quân xâm lược.
Chương XVI. Khó khăn của ta là: Tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch. Ta bị bao vây
Chương XXIV. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng ta mà đứng đầu là chủ tịch Hồ
Chí Minh đã vạch ra đường 1ối kháng chiến để chỉ đạo mọi mặt kháng chiến của quân và
dân ta. Đường 1ối đó được xuất phát từ những văn kiện chính sau đây:
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946)
- Ban chi thị Toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ trung ương Đảng
(22/12/1946).
-Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh 1947.
Từ những văn kiện ấy dần dần hình thành đường 1ối kháng chiến của ta. Đường
1ối đó 1à: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, và tự lực cánh sinh. Đường 1ối
này đã thể hiện tính chất của cuộc kháng chiến của nhân ta 1à:
- Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh cách mạng chính nghĩa, chống lại một
cuộc chến tranh phi nghĩa của thực dân Pháp.
- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhằm mục đích: Giành độc 1ập và thống nhất
Tổ Quốc, bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân.
- Trong cuộc kháng chiến này, dân tộc Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứu mình, vừa đấu
tranh cho hòa bình thế giới.Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam do đó
còn là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc 1ập, vì dân chủ hòa bình.
3.2.2 Nội dung đường lối kháng chiến chống pháp
Chương XXV. + Mục đích kháng chiến: là để tiếp tục sự nghiệp cách mạng tháng Tám, đánh
thực dân Pháp xâm lược, hoàn thành giải phóng dân tộc, giành độc lập và thống nhất thật
sự cho Tổ quốc.
Chương XXVI. + Tính chất kháng chiến: Cuộc kháng chiến của ta là chiến tranh nhân
dân, chiến tranh chính nghĩa. Vì vậy, cuộc kháng chiến của ta có tính chất dân tộc giải
phóng và dân chủ mới.
Chương XXVII. + Chính sách kháng chiến: "Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản
động thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên - Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình.
Đoàn kết chặt chẽ toàn dân, thực hiện toàn dân kháng chiến phải tự cấp, tự túc về mọi
mặt".
Chương XXVIII. + Nhiệm vụ kháng chiến:
1. Đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược để giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc.
của Pháp, để có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hoá tương quan
lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
Chương XXXVIII. Kháng chiến dựa sức mình là chính, trước hết phải độc lập về đường lối
chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến, đồng thời coi
trọng viện trợ quốc tế.
Chương XXXIX. Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn, song nhất
định thắng lợi.
Chương XL. Đường lối kháng chiến của Đảng với những nội dung cơ bản như trên là đúng
đắn và sáng tạo, vừa kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với các nguyên lý về
chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa phù hợp với hoàn cảnh đất nước
lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến của Đảng được công bố sớm đã có tác dụng đưa cuộc
kháng chiến từng bước đi tới thắng lợi vẻ vang.
Chương XLI. Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, từ năm 1947 đến năm 1950, Đảng
ta chỉ đạo cuộc chiến đấu giam chân địch trong các đô thị, củng cố các vùng tự do lớn,
đánh bại cuộc hành quân lớn của địch lên Việt Bắc; lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng hậu
phương, tìm cách chống phá thủ đoạn "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt
đánh người Việt" của thực dân Pháp. Thắng lợi của chiến dịch Biên giới cuối năm 1950 đã
giáng một đòn nặng nề vào ý chí xâm lược của địch, quân ta giành được quyền chủ động
chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
- Đầu năm 1951, trước tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương
có nhiều chuyển biến mới. Nước ta đã được các nước xã hội chủ
nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng chiến của
nhân dân ba nước Đông Dương đã giành được những thắng lợi quan
trọng. Song lợi dụng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Điều
kiện lịch sử đó đã đặt ra yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường lối
cách mạng, đưa cuộc chiến tranh đến thắng lợi.
- Tháng 2/1951, Đảng cộng sản Đông Dương đã họp đại hội đại biểu
lần thứ II tại Chiêm Hoá - Tuyên Quang. Đại hội đã nhất trí tán thành
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí
tộc. Ngoài ra còn có những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp, tầng lớp
và phần tử đó họp lại thành nhân dân, mà nền tảng là công nông, lao động trí óc. Giai cấp
công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng.
Chương LIII. + Sắp xếp loại hình cách mạng: Đảng ta căn cứ vào 3 loại hình cách mạng của
Lênin (cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng tư sản kiểu mới và cách mạng vô sản)
gọi cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân. Đồng chí Trường
Chinh giải thích:
Chương LIV. Gọi là cách mạng dân tộc vì nó đánh đổ đế quốc giành độc lập cho dân tộc.
Chương LV. Gọi là cách mạng dân chủ vì nó đánh đổ giai cấp phong kiến giành lại ruộng
đất cho nông dân.
Chương LVI. Gọi là cách mạng nhân dân vì nó do nhân dân tiến hành cuộc cách mạng ấy.
Chương LVII. Đây là sự bổ sung và phát triển lý luận cách mạng của Đảng ta vào học thuyết
Mác- Lênin mà công lao to lớn thuộc về đồng chí Trường Chinh.
Chương LVIII.+ Phương hướng tiến lên của cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân: Cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một quá
trình lâu dài và đại thể trải qua ba giai đoạn:
Chương LIX. •Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc.
Chương LX. •Giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ những di tích phong kiến và
nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế
độ dân chủ nhân dân.
Chương LXI. •Giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội,
tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội
Chương LXII. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ, xen kẽ với nhau.
Chương LXIII. + Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: "Người lãnh đạo cách mạng
là giai cấp công nhân. Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của
nhân dân lao động Việt Nam. Mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân,
tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam.
Chương LXIV. + Chính sách của Đảng: có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ
dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến
Chương LXXII. Theo phương Tây:
Quân Pháp: 190.000
Các đồng minh ở thuộc địa Đông Dương: 55.000
Quốc gia Việt Nam: 150.000
Theo Việt Nam: 100.000 (1946) 239.000 (1950)
Chương LXXIII. Theo phương Tây:
125.000 lính chính quy
75.000 ở các quân khu
250.000 dân quân
Theo Việt Nam:
80.000 quân chính quy
-1.000.000 du kích (1946) 120.000 quân chính quy
1.000.000 du kích (1947)
230.000 quân chính quy
-3.000.000 du kích (1950)
Chương LXXIV. 166.000 quân chính quy
2.000.000+ du kích (1953)
Chương LXXV.
Chương LXXVI. Liên hiệp Pháp
Chương LXXVII. Pháp
Chương LXXXVII. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Chương LXXXVIII. Quân đội Nhân dân Việt Nam
1. Quân đoàn Viễn Đông Pháp
Chương LXXVIII. Liên bang Đông
Dương
Chương LXXIX. Nam Kỳ quốc
Chương LXXX. Quốc gia Việt
Nam
1. Quân đội Quốc gia Việt Nam
Chương LXXXI. Vương quốc Lào
Văn Tiến Dũng
Phạm Văn Đồng
Trường Chinh
Souphanouvong
Chương CII.
Chương CIII. Theo phương Tây:
Quân Pháp: 190.000
Các đồng minh ở thuộc địa Đông Dương: 55.000
Quốc gia Việt Nam: 150.000
[1]
Chương CV. Theo phương Tây:
125.000 lính chính quy
75.000 ở các quân khu
250.000 dân quân
[4]
Chương CIV.
Theo Việt Nam: 100.000 (1946)
239.000 (1950)
Theo Việt Nam:
80.000 quân chính quy
-1.000.000 du kích (1946)
120.000 quân chính quy
1.000.000 du kích (1947)
230.000 quân chính quy
-3.000.000 du kích (1950)
Chương CVI. 166.000 quân chính quy
2.000.000+ du kích (1953)
Chương CVII.
II. CÁC GIAI ĐOẠN CHỐNG PHÁP
nội thành.
[19]
Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành
phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "vườn không nhà
trống".
2. Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp
hòa bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Minh rải truyền
đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng
chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp,
rằng chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách
chia rẽ và gây chiến", rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và
thống nhất của Việt Nam thì thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau
giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi phục. Ngày hôm sau, đài Việt
Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán. Ngày 23
tháng 12, Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ
các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Henri Leclerc, đề nghị một cuộc
họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, ông chính thức đề
nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris
trong khuôn khổ Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3. Nhưng tất cả đều
không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân sự
mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. Emile Bollaert, Cao ủy
Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc
khuyên "đàm phán bằng mọi giá". Những người thân cận ông như
Pierre Messmer và Paul Mus cũng thiên về chiều hướng đối thoại.
Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích, và cộng
đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương
lượng với Việt Minh.
3. Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh
Giám, Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng
bắn lập tức và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại
của các phái Hòa Hảo, Cao Đài về phía Pháp.
6. Hoàn thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, Pháp quyết định
tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7 tháng
10 năm 1947, Chiến dịch Léa, cuộc tấn công vào chiến khu Việt
Bắc, bắt đầu. Quân Pháp tiến nhanh và mau chóng định vị được
những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương, nhưng Hồ
Chí Minh và chính phủ của ông đã đi thoát, lực lượng vũ trang của
Việt Minh lặng lẽ lẩn vào rừng rồi quay ra đánh quân Pháp tại
những nơi mà họ chọn. Tuy Pháp không đạt được mục đích tiêu diệt
căn cứ Việt Bắc, nhưng họ đã cắt được đường số 4 và kiểm soát
biên giới Việt Trung tại Cao Bằng, cô lập Việt Minh với thế giới
bên ngoài.
2. Pháp sa lầy và giải pháp Bảo Đại
Chương CXIII. Sau chiến dịch Léa, xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục
các chiến dịch tấn công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng
bằng. Nhưng cũng tại đồng bằng, Việt Minh tổ chức các đội du kích hoạt động bán công
khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân
Pháp. Các cán bộ Việt Minh vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát.
Những vùng này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men,
lương thực, vải vóc cho Việt Minh. Tại các chiến khu, Việt Minh củng cố căn cứ, tổ
chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể tự tồn tại lâu dài.
Chương CXIV.
Chương CXV.
Chương CXVI. Quân Pháp bắt giữ một người tình nghi là Việt Minh
Chương CXVII. Tại đồng bằng sông Hồng, các đội du kích được thành lập khắp các
vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp. Cuối chiến tranh, du kích cầm giữ phần lớn quân Pháp
trong vùng đồng bằng. Mỗi chuyến hàng của Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội phải tụ thành
đoàn lớn, nhiều xe tăng và lính bảo vệ mới đi thoát. Các đường bộ bị đào bới ngăn cản xe
cơ giới, đường sắt bóc hết gang thép làm vũ khí.
Chương CXVIII. Ở miền Trung Việt Nam, Việt Minh xây dựng được một vùng giải
sang thế chủ động tấn công.
Chương CXXIII.
Chương CXXIV.
Chương CXXV. Bác sĩ Pháp chăm sóc cho 1 binh sĩ Việt Minh bị thương
Chương CXXVI. Không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, Pháp tổ
chức Phòng tuyến Taxinhi để bảo vệ vùng đồng bằng. Từ khi chuyển sang chủ động tiến
công, các chiến dịch liên tiếp của Việt Minh, Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch Hoàng
Hoa Thám, Chiến dịch Hà Nam Ninh, Chiến dịch Hoà Bình, Chiến dịch Tây Bắc, Chiến
dịch Thượng Lào đã bóc vỏ Phòng tuyến Taxinhi khỏi đồng bằng, buộc Pháp duy trì một
lực lượng lớn bên trong để bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ
Chương CXXVII. Năm 1951, Việt Minh bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô lớn theo
kiểu kinh điển. Nhưng họ đã phải chịu thiệt hại lớn, các chiến dịch Hoàng Hoa Thám và
Hà Nam Ninh bị thất bại trước quân Pháp do tướng de Lattre de Tassigny chỉ huy. Trận
Hòa Bình mà de Lattre mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành "cối xay thịt" đối với cả
hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Việt Minh chịu thương vong lớn,
nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm
nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp.
Chương CXXVIII. Cuối năm 1952, Việt Minh đánh sang vùng núi phía Tây Bắc Việt Nam
rồi vượt sang lãnh thổ Lào. Chỉ huy mới của Pháp, tướng Raoul Salan cố gắng chặn đứng
cuộc tấn công này bằng cách đánh vào các tuyến hậu cần của Việt Minh, nhưng không có
kết quả. Đến tháng 12, quân Việt Minh vẫn chiếm giữ vùng biên giới Việt-Lào trong khi
quân Pháp đã quay trở lại bên trong tuyến phòng thủ mạnh bảo vệ đồng bằng sông Hồng.
Ở miền Trung, Việt Minh đã đạt được những thành công quan trọng. Vùng kiểm soát của
Pháp ở Tây Nguyên đã bị thu hẹp lại chỉ còn vài vùng ven biển hẹp ở quanh Huế, Đà
Nẵng, và Nha Trang. Những khu vực duy nhất mà Pháp còn có thành công là Nam Kỳ và
Campuchia.
Chương CXXIX. Mùa xuân năm 1953, Việt Minh tổ chức một lực lượng lớn đánh sang
Lào với sự hỗ trợ của Pathet Lào. Quân Pháp thành công trong việc ngăn không để Việt
Minh chiếm được Cánh đồng Chum và đến tháng 4 thì chặn được Việt Minh. Mùa mưa
đến buộc Việt Minh phải quay trở lại căn cứ.
nhiều tầng, nhiều lớp đánh địch ở bên ngoài. Hai bộ phận ấy dựa vào nhau mà chiến
đấu, làm cho địch trong ngoài đều bị đánh không thể tập trung lực lượng mau chóng
đánh rộng ra. Nội thành được chia là ba liên khu, Liên khu I là nơi quân ta chốt lại giữa
thành phố, còn Liên khu II và III cùng 5 khu ngoại thành là nơi quân ta xây dựng vành
đai bao vây địch.
Phía Pháp, bọn thực dân phản động xúc tiến phá hoại Hiệp định sơ bộ và rồi cả Tạm
ước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp ngày 14-9-1946 tại Paris.
Chúng đẩy mạnh những hoạt động quân sự lấn chiếm để đi đến thôn tính toàn bộ Việt
Nam.
Ngày 20-11-1946, chúng đánh chiếm thành phố Hải Phòng và thị xã Bắc Ninh, đồng
thời cho hàng nghìn quân đổ bộ lên Đà Nẵng.
Ở Hà Nội, chúng tăng quân trái phép lên tới 6.500 tên được trang bị vũ khí đầy đủ, hiện
đại, đóng ở 45 cứ điểm then chốt trong thành phố. Hàng nghìn Pháp kiều cũng được
trang bị vũ khí, tổ chức thành những ổ tác chiến nằm ở những đường phố quan trọng.
Ngày 11-12-1946, chúng đốt Nhà thông tin Bờ Hồ. Ngày 10-12, chúng đặt mìn phá
công sự tự vệ ở nhiều nơi. Ngày 16-12, chúng xả súng vào công an ta đang làm nhiệm
vụ giữ trật tự. Ngày 17-12, chúng tiến công tự vệ, tàn sát nhân dân ở phố Yên Ninh.
Ngày 18-12, chúng đưa tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ, chiếm Sở công an Hà Nội,
nắm quyền kiểm soát thành phố. Chúng khước từ đề nghị thương lượng do ta đưa ra.
Chúng công khai đòi tước bỏ chủ quyền của ta, bắt ta phải đầu hàng, quyết cướp nước
ta một lần nữa. Chúng đã xoá bỏ hoàn toàn mọi hiệp định. Khả năng hoà bình không
còn nữa.
Để bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Hà Nội cùng với nhân dân cả
nước đứng dậy kháng chiến chống thực dân Pháp.
20 giờ 00 ngày 19-12-1946, quân dân Hà Nội nổ súng, mở đầu cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp xâm lược.
Tất cả các vị trí của địch ở thành phố đều bị tiến công, nhiều ổ tác chiến của chúng đã
bị tiêu diệt, như ở Nhà máy đèn Bờ Hồ, Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phu, rạp
chiếu bóng Majestic… Địch bị giáng một đòn bất ngờ, thế trận bị đảo lộn, phải lúng
túng đối phó khắp nơi. Sau đó, địch phản kích lại, đánh chiếm những đầu mối giao
ngã tư Sở, Ô Cầu Giấy… Đến 25-1, chúng kiểm soát được vòng cung bao quanh thành
phố. Quân ta lui ra ngoại thành sau khi gây cho địch nhiều tổn thất. Từ ngày 6-2, giặc
Pháp mở đợt tổng công kích vào Liên khu I. Quân ta chiến đấu ngoan cường, liên tục
bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch vào nhà Xô-va, Trường Ke; giành giật với địch từng
căn nhà, từng góc phố. Đêm 17-2-1947, sau khi hoàn thành việc giam chân địch, chiến
sĩ Liên khu I đã rút ra ngoài an toàn.
Sau 60 ngày chiến đấu ngoan cường (từ 19-12-1946 đến 17-2-1947), quân và dân Hà
Nội đã tiêu diệt hơn 2000 tên địch, phá huỷ hàng chục xe cơ giới, bảo toàn được lực
lượng để kháng chiến lâu dài.
Quân dân Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Trung ương giao phó.
Phong trào đấu tranh trong Hà Nội bị tạm chiếm
Sau khi Trung đoàn Thủ đô rút ra ngoài, Hà Nội tạm thời bị Pháp chiếm đóng. Chúng
một mặt tổ chức bộ máy cai trị, mặt khác bổ sung quân số, đóng ở nhiều vị trí, càn quét
nống ra ngoại thành.
Trong tình hình đó, Đảng bộ Hà Nội đã gây dựng và phát triển cơ sở Đảng, cơ sở quần
chúng, tổ chức lực lượng chính trị và vũ trang, phát động chiến tranh du kích, phá tề trừ
gian, phá kế hoạch lập phòng tuyến của địch. Nhiều trận đánh của du kích gây tiếng
vang như ở Xuân La, Cổ Nhuế, Nam Dư… Từ giữa năm 1949, Đảng bộ Hà Nội đẩy
mạnh xây dựng lực lượng, biến Hà Nội hậu phương của địch thành một chiến trường.
Cán bộ quân sự và công an được đưa nhiều vào thành phố. Đầu năm 1950, đã phát
động một chiến dịch xây dựng lực lượng vũ trang nội thành. Phối hợp với chiến trường
chính, đêm 18-1-1950, một đơn vị bộ đội tiến công sân bay Bạch Mai, phá 25 máy bay,
đốt 60 vạn lít xăng, diệt một số sĩ quan,binh lính địch.
Sau thất bại nặng nề ở biên giới phía Bắc, thu đông năm 1950, Pháp thực hiện kế hoạch
Đơtatxinhi, tập trung lực lượng phòng ngự đồng bằng Bắc Bộ, trong đó Hà Nội là cái
chốt quan trọng nhất. Vì vậy địch tăng cường phòng thủ Hà Nội. Trên địa bàn nội ngoại
thành ken dầy thêm đồn bót. Đồng thời địch quyết phá hết các cơ sở kháng chiến trong
thành phố, bình địch ngoại thành củng cố và mở rộng nguỵ quyền, nguỵ quân.
Về phía ta, do Hà Nội nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, Đảng bộ đã chuyển hướng
hoạt động, kết hợp đấu tranh chính trị, kinh tế với đấu tranh vũ trang; kết hợp hoạt
Phong trào đấu tranh chống văn hoá nô dịch cũng có những chuyển biến mới. Ngày 23-
2-1954, trong “Hội nghị giáo dục toàn quốc” của bù nhìn, họp ở Hà Nội, đại biểu của
giáo viên và học sinh yêu cầu dùng tiếng Việt ở bậc đại học, chống học nhồi sọ… Ngày
10/03, nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng, phụ nữ tổ chức nói chuyện ở Nhà Hát Lớn,
công khai lấy kiến nghị chống truỵ lạc hoá thanh niên.
Thực hiện chủ trương của Thành uỷ, hưởng ứng bản kiến nghị đòi lập lại hoà bình của
trí thức Sài Gòn, ngày 12/04/1954, một số trí thức tiêu biểu ở Hà Nội đã ký bản kiến
nghị các bên tham chiến thương lượng chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình. Cuộc vận
động ký kiến nghị hoà bình cũng được phát động trong các tầng lớp nhân dân và phát
triển nhanh chóng. Đến tháng 6/1954, cuộc vận động đã thu hút được hàng vạn chữ ký.
Phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội, đấu tranh kinh tế, văn hoá kết hợp với đấu
tranh chính trị và những hoạt động quân sự đã tiến công quân thù ở ngay sào huyệt của
chúng và giành được thắng lợi to
(a) Cuối năm 1946, sau một thời gian hòa hoãn tạm thời, thực dân Pháp bắt
đầu tỏ ra khiêu khích chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa một cách
không che đậy. Chúng cướp chính quyền ở Hải Phòng, Lạng Sơn. Ngày 17
tháng 12 năm 1946 chúng gây ra vụ thảm sát tại phố Hàng Bún, ngày
18/12/1946 là vụ thảm sát tại phố Yên Ninh. Sự nhẫn nhịn của chính phủ
và nhân dân ta trước hàng loạt những vụ nổ súng vô cớ của quân Pháp càng
làm chúng thêm hung hăng hơn. Đến cao trào là ngày 18, 19 tháng 12 năm
1946, chúng gửi tối hậu thư cho chính phủ ta đòi giải tán lực lượng bảo vệ
thủ đô và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng. Trước tình hình đó,
chúng ta không thể nhân nhượng thêm được nữa. Đúng 20 giờ ngày 19-12-
1946, theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quốc bước vào cuộc
kháng chống thực dân Pháp xâm lược. Trước đó, ngày 12/12/1946 Đảng đã
nhận định và đưa ra “Chỉ thị toàn dân kháng chiến”. Những tư tưởng và nội
dung cơ bản đó được đồng chí Trường Chinh phát triển đầy đủ trong tác
phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" vào cuối năm 1947. Tập hợp 3 tác
phẩm này gọi là “Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp. Ba văn kiện
trên đã chỉ ra những tư tưởng cơ bản đặt nền móng cho đường lối kháng
thiệt mạng của Pháp và đồng minh. Khoảng 25.000 dân thường Việt Nam bị thiệt mạng.
Chương CXXXIX. Cuộc chiến đã góp phần làm nước Pháp suy sụp và phân hóa. Các
chính phủ hiếu chiến bị lật đổ liên tiếp. Pháp chi phí 3.000 tỷ quan, tương đương 7 tỷ
USD (trung bình 1 tỉ quan/ngày). Chính phủ Pháp thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính
phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày). 7 lần cao uỷ Pháp bị triệu
hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận.
Chương CXL. Theo kết quả của hiệp định Geneva, Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng
vừa giành được thắng lợi quan trọng trên chiến trường, tập kết về miền Bắc. Lực lượng
Quốc gia Việt Nam trực thuộc Liên Hiệp Pháp, và cả những người mong muốn độc lập
cho Việt Nam nhưng bác bỏ lý luận đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của những
người cộng sản quân đội Pháp tập kết về miền Nam. Trên 1 triệu người dân từ miền Bắc
đã di cư vào Nam (trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, chiếm khoảng 2/3 số
người Công giáo ở miền Bắc), và 140.000 người (đa số là cán bộ kháng chiến của Việt
Minh) từ miền Nam tập kết ra Bắc.
Chương CXLI.
Chương CXLII.
Chương CXLIII. Người di cư vào Nam theo chương trình Passage to Freedom (Con
đường đến Tự Do) (8.1954)
Chương CXLIV. Ngày 10 tháng 10 năm 1954, quân Pháp chính thức rút khỏi Hà Nội,
Quân đội Nhân dân Việt Nam vào tiếp quản thủ đô. Thời kỳ hòa bình tại miền Bắc Việt
Nam bắt đầu. Ở miền Nam, quân đội Pháp dần dần rút đi và trao quyền lực cho chính
quyền Quốc gia Việt Nam.
Chương CXLV. Tuy nhiên, hiệp định Geneva không đem lại được hòa bình cho Đông
Dương. Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam không được chính quyền Quốc gia Việt Nam
thực hiện (với cái cớ đưa ra là chính quyền này không tham gia ký kết hiệp định). Việt
Nam bị chia cắt thêm 20 năm nữa với chiến tranh tiếp tục nổ ra trên toàn Đông Dương với
sự tham gia của Mỹ thay thế cho Pháp. Cuộc chiến mới có quy mô và sức tàn phá lớn hơn
nhiều.
Chương CXLVI. Trên phạm vi thế giới, sự kết thúc của Chiến tranh Đông Dương cũng
đánh dấu sự sụp đổ của chế độ thuộc địa trên toàn thế giới. Chẳng bao lâu sau đó, các
già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng
lên đánh thực dân Pháp cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm,
không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp
cứu nước".
Chương CLII. + Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch HCM không chỉ động viên,
cổ vũ cho toàn dân. Các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhân sĩ yêu nước trong khối
đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức của cho kháng chiến.
Chương CLIII. + Đảng ta đã chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc kháng chiến
là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự. Đảng ta sớm
xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ bản nhất, là điều kiện đi đến
thực hiện toàn dân kháng chiến. Do đó, trong kháng chiến, đảng ta đã biết tổ chức động
viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh giặc. Đảng đã phát động toàn dân tham gia
kháng chiến bằng nhiều biện pháp đa dạng, phong phú và phù hợp, làm cho toàn dân thấy
rõ mục đích kháng chiên, từ đó xác định trách nhiệm phải đứng lên giết giặc cứu nước cứu
nhà. Đồng thời, trong quá trình kháng chiến, đảng còn chăm lo thực hành những cải cách
dân chủ, giải quyết từng bước vấn đề ruộng đất, nhằm bồi dưỡng sức dân; nhân dân hăng
hái, phấn khởi, tự nguyện đóng góp ngày càng nhiều cho kháng chiến.
b) Kháng chiến toàn diện:
Chương CLIV.Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến, đảng chủ trương kháng
chiến toàn diện. Kháng chiến toàn dân gắn liên với kháng chiến toàn diện. Kháng chiến
toàn dân, toàn diện là nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân, có mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ.
Chương CLV. + Thực dân Pháp tiến hành chiến tranh tổng lực, đánh phá ta trên tất cả các
mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Để đánh bại chiến tranh tổng lực của
địch ta phải đánh chúng trên tất cả các mặt đó, tạo thành sức mạnh tổng hợp, tiến công
toàn diện kẻ địch.
Chương CLVI.+ Về chính trị: đảng ta nhấn mạnh vấn đề xây dựng khối toàn dân đoàn kết.
Trong suốt cuộc kháng chiến, đảng ta đã ra sức củng cố khối liên minh công, nông và trí
thức, không ngừng mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc. Đảng đặc biệt chăm lo củng cố và
xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa, thường xuyên kiện toàn bộ máy kháng chiến từ
Ta dùng chiến lược đánh lâu dài để tiêu diệt địch.
Chương CLXIV. Tóm lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được thắng
lợi trong cuộc kháng chiến chống thức dân Pháp xâm lược. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện
đường lối kháng chiến đúng đắn: độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đường lối đó là sự kết tinh
những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mac-Lênin về cách mạng bạo lực, về chiến tranh
nhân dân được vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đường lối kháng chiến
trải qua thực tiễn chiến đấu được phát triển và hoàn chỉnh, là nguyên nhân đưa cuộc kháng
chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Chương CLXV. V II. Kết Quả, Ý Nghĩa
Chương CLXVI. A 1 . Kết quả của việc thực hiện đường lối
Chương CLXVII. Về chính trị: Đảng ra hoạt động công khai đã có điều kiện kiện toàn tổ
chức, tăng cường sự lãnh đạo đối với cuộc kháng chiến. Bộ máy chính quyền năm cấp
được củng cố. Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Khối đại
đoàn kết toàn dân phát triển lên một bước mới. Chính sách ruộng đất được triển khai, từng
bước thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng.
Chương CLXVIII. Về quân sự: Đến cuối năm 1952, lực lượng chủ lực đã có sáu đại đoàn
bộ binh, một đại đoàn công binh - pháo binh. Thắng lợi các chiến dịch Trung Du. Đường
18, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào đã tiêu diệt được nhiều sinh lực
địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và dân cư, mở rộng vùng giải phóng của Việt Nam và
cho cách mạng Lào Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 được ghi vào lịch sử dân
tộc ta như một Bạch Đằng một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch
sử thế giới như một chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các dân tộc
bị áp bức, sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
Chương CLXIX. Về ngoại giao: Với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự
và ngoại giao, khi biết tin Pháp có ý định đàm phán, thương lượng với ta, ngày 27-12-
1953, Ban Bí thư ra Thông tư nêu rõ: "lập trường của nhân dân Việt Nam là kiên quyết
kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Song nhân dân và Chính phủ ta cũng tán thành
thương lượng nhằm mục đích giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam". Ngày 8-5-1954, Hội
nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh Đông Dương chính thức khai mạc ở Giơnevơ (Thuỵ
Sĩ). Ngày 20-7-1954, các văn bản của Hiệp nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại
tộc cho nhân dân ta và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Chương CLXXIV. Đối với quốc tế, thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới, mở rộng địa bàn, tăng thêm lực lượng cho chủ nghĩa xã hội và cách
mạng thế giới; cùng với nhân dân Lào và Campuchia đập tan ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân cũ trên thế giới, trước hết là hệ thống thuộc địa của thực phân Pháp.
Chương CLXXV. Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược, Hồ Chí Minh nói: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã
đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt
Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và xã hội chủ
nghĩa trên thế giới".
Chương CLXXVI. Bài Học Kinh Nghiệm
Chương CLXXVII. Trải qua quá trình lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến kiến quốc, Đảng
ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quan trọng.
Chương CLXXVIII. Thứ nhất, đề ra đường lối đúng đắn và quán triệt sâu rộng đường lối đó
cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện, đó là đường lối chiến tranh nhân dân,
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài dựa vào sức mình là chính.
Chương CLXXIX. Thứ hai, kết hợp chặt chẽ, đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm
vụ chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ
nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ tập trung hàng đầu là chống đế quốc, giải phóng dân tộc,
bảo vệ chính quyền cách mạng.
Chương CLXXX. Thứ ba, thực hiện phương châm vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ
mới, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh để có tiềm lực mọi mặt đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
Chương CLXXXI. Thứ tư, quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ và lâu dài,
đồng thời tích cực, chủ động đề ra và thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ
thuật quân sự sáng tạo, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, đưa kháng
chiến đến thắng lợi.
Chương CLXXXII. Thứ năm, tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu
và hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh.
Chương CLXXXIII. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU
- Tháng 9/1954 bộ chính trị ra nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ
mới và chính sách mới của Đảng. Nghị quyết đã chỉ ra những đặc
điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào
một giai đoạn mới là: từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; nước nhà
tạm chia làm hai miền; từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân
tán chuyển đến tập trung.
- Tại HNTƯ lần thứ bảy (3/1955) và lần thứ tám (8/1955) trung ương
Đảng nhận định: muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hoà
bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi
là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh
cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
- Tháng 12/1957, tại HNTƯ lần thứ 13, đường lối tiến hành đồng thời
hai chiến lược cách mạng được xác định: "Mục tiêu và nhiệm vụ cách
mạng của toàn đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố miền Bắc, đưa
miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đấu tranh để thực
hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương
pháp hoà bình.
- Tháng 1/1959 HNTƯ lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam.
Sau nhiều lần họp và thảo luận, Ban chấp hành trung ương đã ra nghị
quyết về cách mạng miền Nam.
Chương CLXXXIX. Nội dung HNTƯ 15.
Chương CXC. + Hội nghị xác định tính chất xã hội miền Nam sau 1954 là xã hội thuộc địa
kiểu mới và nửa phong kiến.
Chương CXCI. + Mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân
ta ở miền Nam với đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của chúng. Mâu thuẫn giữa nhân dân
miền Nam mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến. Trong hai mâu thuẫn trên, thì
mâu thuẫn chủ yếu ở miền Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân ta ở miền Nam với đế quốc
mỹ xâm lược cùng tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ, đại diện
cho bọn địa chủ phong kiến và tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất.
Chương CXCII. + Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
che dấu lực lượng đề phòng sự xâm nhập phá hoại của bọn gián điệp và những phần tử
đầu hàng, phản bội chui vào phá hoại Đảng.
Chương CCI. Nghị quyết hội Nghị lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở
đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng
tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Chương CCII. Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính
là quá trình hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được hoàn
chỉnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) tại Hà Nội đã xác
định:
Chương CCIII. + Nhiệm vụ chung: "Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu
tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời
đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ
hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới".
Chương CCIV. + Nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại
có hai nhiệm vụ chiến lược:
Chương CCV. •Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Chương CCVI. •Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và
bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Chương CCVII. + Mục tiêu chiến lược: "Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ
cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết
yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt. Hai nhiệm vụ đó
lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn
tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hoà bình thống nhất Tổ quốc".
Chương CCVIII. + Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện một mục
tiêu chung nên "Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng
thúc đẩy lẫn nhau".
Chương CCIX. + Vị trí, tác dụng:
đồng tình giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc. Do đó đã tạo ra
được sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ
xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối chung
của cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng
tạo của Đảng ta trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ
lịch sử, vừa đúng với thực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với lợi ích của
nhân loại và xu thế của thời đại.
- Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở
mỗi miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quân dân ta phấn đấu giành được
những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và đấu tranh thắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc
Mỹ và tay sai ở miền Nam.
Chương CCXVI. 2. Giai đoạn 1965 - 1975
a. Bối cảnh lịch sử
Chương CCXVII. Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự
phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ ào ạt đưa quân Mỹ và quân các
nước chư hầu vào miền Nam, tiến hành cuộc "Chiến tranh cục bộ" với quy mô lớn; đồng
thời dùng không quân, hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc.
Trước tình hình đó, Đảng ta đã quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước trên phạm vi toàn quốc.
- Thuận lợi: khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách
mạng thế giới đang ở thế tiến công. Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất đã đạt và vượt các mục tiêu về kinh tế, văn hoá. Sự chi viện
sức người, sức của của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy
mạnh cả theo đường bộ và đường biển.
Chương CCXVIII. Ở miền Nam, vượt qua những khó khăn trong những năm 1961 - 1962,