TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
oOo
BÁO CÁO TIỂU LUẬN
TÌM HIỂU THỦY ĐIỆN VÀ CÁC
VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN
Nhóm Cao học Quản lý môi trường K19:
BÙI THỊ TÂM PHƯƠNG
HOÀNG TRƯỜNG GIANG
NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
NGUYỄN HỮU TÂM
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12– 2009
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỦY ĐIỆN
I.1. Giới thiệu 3
I.2. Ưu điểm và tác động tiêu cực của thủy điện 4
I.2.a Ưu điểm 4
I.2.b. Các tác động tiêu cực của thủy điện đến môi trường 5
CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỦY ĐIỆN
I.1. Tiềm năng của thủy điện trên thế giới và ở Việt Nam: 10
I.2. Vai trò của thủy điện trong cơ cấu năng lượng quốc gia 11
CHƯƠNG III: CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN Ở VIỆT NAM 14
Kết luận 16
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỦY ĐIỆN
I.1. Giới thiệu về thủy điện
Thủy năng (hydropower) là nhóm năng lượng gồm thủy điện và các loại hình
tương lai như điện thẩm thấu, điện thủy triều, điện sóng, thủy nhiệt. Trong đó, thủy
điện có thể được xem là một trong những phương pháp sản xuất điện cổ xưa nhất:
tận dụng dòng nước chuyển động để sản xuất điện.
Khả năng sản xuất năng lượng này phụ thuộc vào thể tích và độ cao mà nước
thông thường. Ở Mỹ, giá thành sản xuất thủy điện là 0,85 cent/kWh, bằng 50% giá
điện hạt nhân, 40% giá điện nhiên liệu hóa thạch và 25% giá điện khí tự nhiên.
Do không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, các nhà máy thủy điện không phát
thải ra các chất khí, chất rắn gây ô nhiễm môi trường, không tiêu thụ ôxygen, không
phát sinh nhiệt, không thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó, có thể coi đây
là dạng năng lượng sạch.
Những hồ chứa dung tích lớn được xây dựng cùng với các nhà máy thuỷ điện
sẽ tích nước vào các tháng mùa mưa để có thể dùng để phát điện trong mùa khô.
Như vậy, thủy điện giúp đồng bằng hạ du chống lũ về mùa mưa và hạn hán vào
mùa khô; cải thiện dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn.
Các nhà máy thuỷ điện hồ chứa bằng bơm hiện là công cụ đáng chú ý nhất
để tích trữ năng lượng về tính hữu dụng, cho phép phát điện ở mức thấp vào giờ
thấp điểm (điều này xảy ra bởi vì các nhà máy nhiệt điện không thể dừng lại hoàn
toàn hàng ngày) để tích nước sau đó cho chảy ra để phát điện vào giờ cao điểm
hàng ngày. Việc vận hành cách nhà máy thuỷ điện hồ chứa bằng bơm cải thiện hệ
số tải điện của hệ thống phát điện.
Những hồ chứa được xây dựng cùng với các nhà máy thuỷ điện thường là
những địa điểm thư giãn tuyệt vời cho các môn thể thao nước, nuôi trồng thủy sản
5
và trở thành điểm thu hút khách du lịch, tạo nguồn thu hữu ích trong việc điều hành
đập.
I.2.b Các tác động tiêu cực của thủy điện đến môi trường
Việc xây dựng các hồ chứa làm mất đi một diện tích lớn đất đai và thông
thường có cả đất rừng. Theo tính toán, để có 1 MW điện phải mất ít nhất 7,5 – 10 ha
rừng. Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ điện
lớn có thể làm thay đổi dòng chảy về cả số lượng và chất lượng, phá vỡ sự cân
bằng của hệ sinh thái xung quanh. Thứ nhất, các nghiên cứu đã cho thấy rằng đập
sẽ ngăn cản những con đường di cư của loài cá, biến những đoạn sông nước chảy
xiết thành những cái ao tù đọng và gây nguy hiểm cho các khu vực cá đẻ và ấp
trứng. Điển hình các đập nước dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình
bộ dòng sông có thể bị đổi hướng để trơ lại lòng sông cạn. Bên cạnh đó, nhiều
công trình thuỷ điện dùng đường ống áp lực để dẫn nước từ hồ chứa đến nhà máy
thuỷ điện bố trí ở cao trình thấp để tạo đầu nước lớn, nâng cao hiệu quả phát điện,
nên đoạn sông từ đập đến nhà máy không có nước trở thành một đoạn sông chết có
chiều dài từ vài km đến hàng chục km ngay sau tuyến đập chính.
Việc thu dọn lòng hồ trước khi tích nước lần đầu nếu không tốt sẽ ô nhiễm
nước hồ do quá trình phân huỷ thực vật trong lòng hồ. Các hồ chứa của các nhà
máy thuỷ điện ở các vùng nhiệt đới có thể sản sinh ra một lượng lớn khí metan và
carbon dioxid. Điều này bởi vì các xác thực vật mới bị lũ quét và các vùng tái bị lũ
bị tràn ngập nước, mục nát trong một môi trường kỵ khí và tạo thành methan, một
khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh. Metan bay vào khí quyển khí nước được xả từ đập
để làm quay turbin. Theo bản báo cáo của Uỷ ban Đập nước Thế giới (WCD), ở nơi
nào đập nước lớn so với công suất phát điện (ít hơn 100 watt trên mỗi km
2
diện tích
bề mặt) và không có việc phá rừng trong vùng được tiến hành trước khi thi công
đập nước, khí gas gây hiệu ứng nhà kính phát ra từ đập có thể cao hơn những nhà
máy nhiệt điện thông thường. Ở các hồ chứa phương bắc Canada và Bắc Âu, sự
7
phát sinh khí nhà kính tiêu biểu chỉ là 2 đến 8% so với bất kỳ một nhà máy nhiệt
điện nào.
Với các công trình thủy điện, do mất rất nhiều đất ở và đất canh tác để làm
hồ chứa nên sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân có thể gặp khó khăn.
Vấn đề di dân -tái định cư cho dân cư nông nghiệp sống trong vùng hồ chứa không
đơn giản, tác động về mặt xã hội sẽ rất lớn và lâu dài. Vấn đề là phải dành một diện
tích canh tác rất lớn để phân chia và xây chỗ ở cho các người tái định cư. Đối với
trường hợp người nông dân sau định cư sẽ phải kiếm sống bằng những ngành nghề
phi nông nghiệp nếu không có chính sách hỗ trợ dạy nghề, kiếm việc làm thì thất
nghiệp là chắc chắn và Nhà nước lại phải tiếp tục hỗ trợ đời sống lâu dài. Trong
nhiều trường hợp không một khoản bồi thường nào có thể bù đắp được sự gắn bó
tốn kém. Vì vậy, trên thế giới hiện có 45.000 con đập thủy điện lớn (còn đập thủy
điện nhỏ thì không thống kê chính xác được). Hiện nay, nó được coi là một nguồn
năng lượng không thể thiếu, góp phần vào công cuộc phát triển của mọi quốc gia
trên thế giới. Theo Ủy ban Năng lượng Thế giới (WEC), thủy điện cung cấp 19%
nhu cầu năng lượng toàn cầu và hiện vẫn chưa được khai thác hết, đặc biệt tại các
quốc gia đang phát triển. WEC dự báo, để khai thác được 2/3 tiềm năng còn lại của
thủy điện, cần xây dựng thêm 20.000 nhà máy thủy điện với tổng công suất lên tới
1400 kW và chi phí 1500 tỉ USD.
Việt Nam có 2360 con sông với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 9 hệ
thống sông có diện tích lưu vực trên 10.000 km
2
. Mật độ sông suối trung bình trên
toàn lãnh thổ là 0,6 km/km2. Hàng năm, mạng lưới sông suối Việt Nam vận chuyển
ra biển lượng nước 870 km
3
/năm, tương ứng với lưu lượng dòng chảy bình quân
khoảng 37.500 m
3
/s. Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thủy điện ở nước ta cho
thấy thấy tổng trữ năng lý thuyết của các con sông đựơc đánh giá đạt 300 tỷ
kWh/năm, công suất lắp máy đựợc đánh giá khoảng 34.647 MW. Trữ năng kinh tế
– kỹ thuật đựơc đánh giá khoảng 80-84 tỷ kWh/năm, công suất lắp máy đựợc đánh
giá khoảng 19.000 - 21.000 MW.
10
Bảng 1: Tiềm năng thủy điện của Việt Nam
Hệ thống sông Diện tích lưu vực
km2
Số công trình Công suất lắp máy
MW
Đà 17.200 8 6.800
Việt Nam thì đến năm 1992, tức là thời kỳ nền kinh tế nước ta mở cửa và hội nhâp,
thủy điện đóng góp tới 60,4% trong tổng sản lượng điện quốc gia. Còn hiện tại, năm
2009, thủy điện cũng chiếm tới 1/3 sản lượng điện sản xuất. Trong quy hoạch đến
năm 2025, Việt Nam vẫn phải tiếp tục xây dựng thêm các nhà máy thủy điện mới để
tăng gấp đôi sản lượng so với năm 2010. Như vậy, tính đến năm 2025, dù đã khai
thác hết công suất lắp máy, thủy điện cũng chỉ đáp ứng được gần ¼ nhu cầu năng
lượng của nền kinh tế. Để giải quyết nhu cầu thiếu hụt, theo quy hoạch, Việt Nam
sẽ phát triển mạnh các nguồn nhiệt điện. Còn điện nguyên tử dù suất đầu tư ban đầu
rất cao nhưng cũng đã được tính đến, hiện Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về
chủ trương đầu tư dự án 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 với công suất
trên 4.000 MW.
Bảng 2: Công suất các nguồn điện tại Việt Nam
Nguồn điện
Năm 1982 Năm 1992 Năm 2010 Năm 2025
MW % MW % MW % MW %
Thủy điện
268 21,8 2.120 60,4 9.412 35,9 20.178 22,7
12
Nhiệt điện than
205 16,7 645 15,4 6.595 25,2 36.290 40,8
Nhiệt điện diesel &
dầu
638 51,2 588 16,7 472 1,8 2.400 27,0
Nhiệt điện khí
120 9,7 157 4,5 9.072 34,6 17.224 19,4
Điện nhập khẩu
658 2,5 4.756 5,3
Điện nguyên tử
8.000 9,0
Tổng cộng
dựng, thậm chí có thủy điện công suất rất nhỏ, chỉ dưới 1MW. Việc phát triển thuỷ
điện ồ ạt chắc chắn sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với môi trường. Lý do được đưa ra
là những dự án thủy điện nhỏ này khi triển khai sẽ rất khó kiểm soát, gây mất đất,
mất rừng, thay đổi hệ sinh thái cũng như tính nguyên vẹn của dòng sông, gây xáo
trộn đời sống người dân tộc thiểu số. Trong khi đó các dự án này không có tác động
nhiều đến việc thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển. Ngoài ra, cửa sông
miền Trung rộng nhưng lại bị các cồn cát chắn nên thoát lũ rất kém. Nguyên nhân là
các thủy điện mùa khô phải giữ nước đã khiến động lực nước biển thắng động lực
nước sông, đẩy các cồn cát hình thành cao hơn, chắc hơn, gần bờ hơn, gây khó thoát
nước khi lũ đến.
Một số công trình thủy điện còn được dự kiến nằm trong vùng khu bảo tồn
thiên nhiên như trường hợp dự án nhà máy thuỷ điện Sông Giằng 1, 2, 3, 4 nằm trên
sông Thanh trong khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh. Rất may các công trình này
đã bị xóa bỏ đầu tư.
14
Hiện tượng khá phổ biến trong quy hoạch, thiết kế các công trình thuỷ điện
là chưa chú ý đến hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường. Các công
trình thường chỉ chú trọng tới hiệu quả về phát điện và lợi nhuận của đầu ra, chưa
đưa yêu cầu phòng lũ cho hạ du như là một trong những nhiệm vụ chính của công
trình. Ở nhiều công trình thuỷ điện miền Trung và lưu vực Đồng Nai, nhiệm vụ
chống lũ cho hạ du chỉ được xem là nhiệm vụ kết hợp. Trong khi đó, Việt Nam là
một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng,
các hiện tượng thời tiết trở nên cực đoan, diện tích rừng đầu nguồn ngày càng suy
giảm, tất cả đều dẫn đến lũ lụt càng trầm trọng hơn.
Hầu hết các dự án thủy điện vừa và nhỏ ở Quảng Nam ngay trong quy hoạch
ban đầu đều không có dung tích chống lũ bởi các dự án đều lấy lòng sông làm hồ
chứa. Ngay như thủy điện lớn là A Vương, dung tích chống lũ của công trình này
cũng chỉ khoảng 14 triệu m
3
, quá nhỏ so với quy mô của dự án. Việc nhiều thủy