Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
LỜI MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay xã hội ngày càng phát triển nhanh, đời sống con người ngày càng
được mở rộng, nhu cầu sinh hoạt đi lại của con người cũng ngày càng được nâng
cao. Cùng với sự phát triển đó, các phương tiện phục vụ cho nhu cầu đi lại của con
người cũng phát triển theo. Nhưng chính vì sự phát triển nhanh chóng đó đã làm
cho môi trường bị hủy hoại, ô nhiễm môi trường ngày một tăng. Ô nhiễm môi
trường không khí ở các đô thị, thành phố lớn của nước ta đang là vấn đề được xã
hội quan tâm. Theo kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu, trong số các nguồn gây ô
nhiễm, nguồn do giao thông vận tải ở nước ta chiếm một tỉ lệ lớn khoảng 70%. Trị
số nồng độ trung bình ngày của bụi tổng số TSP, bụi dưới 10µm PM
10
và khí NO
2
tại một số nút giao thông lớn ở TP Hồ Chí Minh đều vượt tiêu chuẩn cho phép.
Với tốc độ tăng hàng năm về xe máy 15÷18%, về ô tô 8÷10% như hiện nay, vấn
đề ô nhiễm không khí tại các nút giao thông của TP Hồ Chí Minh cũng như các
thành phố lớn khác trong cả nước trong những năm tới chắc chắn sẽ còn nghiêm
trọng hơn.
Trong những năm gần đây số lượng người vào bệnh viện với các chứng bệnh
về đường hô hấp ngày càng tăng lên. Một trong những tác nhân đáng kể, đó chính
là các chất ô nhiễm không khí. Tuy đã có những biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm
không khí tại nhiều thành phố, đô thị nhưng cho đến nay tình trạng ô nhiễm vẫn
diễn ra và ngày càng nghiêm trọng hơn, khó khắc phục hơn. Đặc biệt tại các nút
giao thông chính trong thành phố, nơi tập trung số lượng lớn xe vào giờ cao điểm,
gây ách tắc giao thông, ô nhiễm không khí và tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến những
người tham gia giao thông và người dân trong khu vực.
Chính vì đề tài “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động
giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
đối với con người chủ yếu là ở TP.HCM.
Giới hạn về thời gian
Ngày giao Khoá luận: 04/05/2010
Ngày nộp khóa luận: 15/07/2010
CHƯƠNG 1
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
2
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ MÔI
TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN GIAO THÔNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.1.1 Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là ô nhiễm không khí?
Bên cạnh các thành phần chính của không khí, bất kỳ một chất nào được thải vào
không khí với nồng độ vừa đủ để ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, gây ảnh
hưởng xấu tới sự phát triển, sinh trưởng của động vật, thực vật, phá huỷ vật liệu,
làm giảm cảnh quan đều gây nên ô nhiễm môi trường. Như vậy các chất SO
x
, NO
x
,
bụi, các chất hữu cơ bay hơi… là các chất ô nhiễm.
Vấn đề ô nhiễm không khí có thể chia một cách đơn giản thành ba phần cơ bản sau
đây:
Nguồn ô nhiễm: Nguồn ô nhiễm là nguồn thải ra các chất ô nhiễm. Ví dụ: khí
thải từ ống khói, khí từ xe cộ, bụi từ các máy mài…
Khí quyển: Khí quyển là môi trường trung gian để vận chuyển chất ô nhiễm từ
nguồn gốc gây ô nhiễm tới nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm.
Nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm: Nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm là con người,
đất, bụi tạo thành do bão cát, sự phân tán của phấn hoa, sự phân tán của phấn
hoa, mùi hôi của các quá trình phân huỷ sinh học.
Nguồn nhân tạo: là các nguồn ô nhiễm do con người tạo nên. Nó bao gồm
các nguồn cố định và nguồn di động.
Nguồn cố định bao gồm: các nguồn từ các quá trình đốt khí thiên nhiên, đốt
dầu, củi, trấu…, các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp…
Nguồn di động: là khí thải từ các quá trình giao thông như khí thải của xe cộ,
máy bay, tàu hoả…
Dựa vào tính chất hoạt động:
Ô nhiễm do quá trình sản xuất: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp…
Do giao thông vận tải: ôtô, xe máy, máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ…
Ô nhiễm do sinh hoạt: các quá trình sử dụng nhiên liệu (dầu than củi…) để
thắp sáng, nấu nướng…
Ô nhiễm do các quá trình tự nhiên: đó là sự phân huỷ các chất hữu cơ do vi
sinh vật gây nên mùi hôi, bão cát, núi lửa, động đất…
Dựa vào bố trí hình học: Có thể chia nguồn ô nhiễm thành ba nhóm như sau:
Điểm ô nhiễm: ống khói các nhà máy, các nhà máy, thiết bị sản xuất cụ thể
(các nguồn cố định).
Đường ô nhiễm: các quá trình hoạt động của các phương tiện giao thông vận
tải (xe cộ, máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ…)
Vùng ô nhiễm: khu chăn nuôi lớn, khu tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp…
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
4
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
1.1.3 Hiện trạng ô nhiễm không khí ở VIỆT NAM
Tình hình ô nhiễm không khí tại Việt Nam thường tập trung ở một số thành
phố lớn và các khu đô thị công nghiệp. Các thành phố lớn và khu công nghiệp
môi trường giao thông là tiếng ồn, khói bụi, phát thải nhiên liệu xăng dầu vào
không khí của các phương tiện tham gia giao thông như xe gắn máy, ôtô, cá
nhân gây ra.
Dân số nước ta vào khoảng 86 triệu người, với số lượng phương tiện giao
thông cơ giới trên 1 triệu xe ôtô các loại và trên 26 triệu xe gắn máy, số lượng
xe gắn máy chiếm khoảng ¼ dân số. Nhìn vào vấn đề giao thông trong các
thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay đã nói lên điều
này. Đó là lý giải vì sao ô nhiễm môi trường giao thông ngày càng tăng cao.
Nhưng chúng ta vẫn cứ mặc nhiên chịu đựng sự ngột ngạt ô nhiễm trong không
khí trên đường để cố đổi lấy sự đi lại cho tự do bằng việc mỗi người một
phương tiện! Đặc biệt khi bị ùn tắc giao thông trong các đô thị lãng phí nhiên
liệu tăng lên, đồng thời sự ô nhiễm càng tăng do khối lượng phương tiện dồn ứ
không di chuyển được.
Hơn 26 triệu xe máy đang hoạt động đồng nghĩa với với việc hơn 26 triệu bình
xăng cùng với 26 triệu ống xả xả vào không khí. Trong khi sông Đồng Nai ô
nhiễm do công ty bột ngọt Vedan đã nhiều năm lén xả xuống chất thải độc hại,
thì bầu không khí cũng trong trạng thái ô nhiễn nhưng không phải do lén lút
mà rất đường hoàng từ chính phương tiện cá nhân của mỗi chúng ta!
Theo Bộ Tài Nguyên Môi trường quốc gia công bố thì ít nhất hơn 8 triệu người
ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng hàng
ngày đang phải hít một lượng không khí bị ô nhiễm một cách “đáng báo động”.
Sử dụng giao thông cá nhân không phù hợp hay hoạch định sách lược về giao
thông vận tải không đúng hướng dẫn đến nhiều hệ luỵ. Thật khó tự lý giải vì
sao một đất nước còn nghèo giá cả xăng dầu đã tăng cao mà phương tiện đi lại
bằng xe gắn máy ôtô cá nhân thì thi nhau phát triển đem lại quá nhiều hệ luỵ
cho xã hội. Không chỉ bụi, nồng độ khí CO và NO
2
tại các nút giao thông lớn
trong đô thị cũng đã vượt tiêu chuẩn cho phép. Theo đánh giá của các chuyên
gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải, do lưu lượng
Tốc độ tăng
(%/năm)
CO
2
270 340 0,4
NO
2
0,28 0,3 0,25
SO
2
0,001 0,002 2
CO 0,05 0,13 3
1.1.3.2 Nguồn gốc phát thải chất ô nhiễm
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
7
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
Ảnh hưởng chủ yếu của các phương tiện vận tải đến môi trường là gây ô nhiễm
không khí, gây ồn, rung động và bụi. Khí thải phát tán từ các phương tiện vận
tải chiếm tỷ trọng lớn so với các nguồn phát thải khác trong việc gây ô nhiễm
không khí. Chất gây ô nhiễm gồm có khói thải và hơi của nhiên liệu bay hơi
(xăng, dầu diezel). Chúng bao gồm bụi, các khí CO, CO
2
, SO
2
, NO
x
và các chất
hữu cơ bay hơi VOC.
x
; H
2
O. Khói đen là thành phần độc hại chủ yếu trong
khí xả động cơ diezel. Đó là các hạt cacbon tự do hình thành trong quá trình
nhiên liệu cháy thiếu oxy. Nồng độ khói trong khí xả liên quan nhiều đến
thời điểm đánh lửa của động cơ xăng hoặc thời điểm phun nhiên liệu của
động cơ diezel, tình trạng kỹ thuật động cơ, Chất thải rắn trong khí thải
gồm các hạt cứng lẫn trong nhiên liệu, dầu bôi trơn, các hạt mài, … Với
những động cơ chạy xăng pha chì, lượng chì thải ra không khí ở dạng bụi.
SO
2
xuất hiện trong khí thải do lưu huỳnh trong nhiên liệu bị cháy. Alđêhyt
(R-CHO) tạo ra trong quá trình cháy không hoàn toàn. Mặc dù nồng độ của
chúng trong khí thải không lớn nhưng độ độc hại rất cao.
Bảng 1-3: Thành phần độc hại trong khí xả
STT
Các thành phần độc hại trong khí
xả
Dạng nhiên liệu
Xăng (g/l) Diezel (g/l)
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
9
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
1. CO 200,59 20,81
2. VOC 23,28 4,16
3. NOx 15,83 18,01
4. SOx 1,86 7,8
Bụi siêu mịn
Bụi kích thước nano
Thể khí (CO
2
, dioxyd carbon):
CO
2
là chất cấu tạo bình thường của khí quyển. Nồng độ 380ppm, nhưng
không ổn định mà tăng liên tục. Chủ yếu là do người ta dùng nhiên liệu hóa
thạch để tạo năng lượng. Tổng số năng lượng tạo ra trên thế giới đã vượt 11 tỉ
tấn đương lượng carbon, mà 9/10 là từ nhiên liệu hóa thạch.
Biết rằng 12g C khi bị đốt cháy tạo ra 44g CO
2
, ta thấy lượng CO
2
tạo ra từ sự
oxy hoá số nhiên liệu trên lớn cỡ nào. Ước lượng có 21 tỉ tấn CO
2
thải vào khí
quyển. Việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch ngày càng tăng hơn một thế kỷ nay
đã làm xáo trộn chu trình carbon. Con người đã làm cản trở sự cân bằng động
giữa lượng CO
2
thải ra (hô hấp, lên men, núi lửa) và lượng hấp thu (quang hợp
và trầm tích). Các nhân tố ổn định sự cân bằng không còn hữu hiệu, lượng CO
2
từ 268ppm vào thế kỷ trước đã lên đến 380ppm như hiện nay. Sự xáo trộn chu
trình carbon do hoạt động của chúng ta là một hiện tượng sinh thái học đáng
quan tâm hàng đầu vì các hậu quả của nó có thể dự kiến được.
Monoxyd carbon, CO:
mù quang hóa (Smogs photochimiques). Cũng trong quá trình cháy không
hoàn toàn sẽ tổng hợp nên chất Cx Hy đa vòng gây ung thư, như benzo-3,4-
pyrene …
Dioxyt lưu huỳnh, SO
2
:
Núi lửa là nguồn tự nhiên chính yếu của SO
2
Nhưng đa phần của nó thải vào
không khí là do hoạt động của con người, chủ yếu cũng do sự đốt cháy nhiên
liệu hóa thạch. Than đá và dầu FO (fuel oil) chứa một lượng đáng kể SO
2
Than
đá có thể chứa 5% và dầu nặng 3% lưu huỳnh. Luyện kim và điều chế acid
sulfuric cũng có vai trò thải ra lưu huỳnh. SO
2
thải vào không khí có thể biến
đổi thành SO3 và acid sulfuric. Chất này là một nguyên nhân của mưa acid ở
nhiều vùng trên thế giới. SO2 cũng rất độc đối với thực vật và động vật.
Dẫn xuất Nitrogen:
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
12
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
Các oxyd nitơ (NO và NO
2
) là khí cấu tạo của khí quyển. Nhưng chúng là sản
phẩm với số lượng quan trọng của sự cháy ở nhiệt độ cao và nhất là các máy
nổ xăng và dầu. Chúng là những chất có vai trò đáng kể trong ô nhiễm không
KHÍ
CO
2
Núi lửa, hô hấp của sinh vật,
nhiên liệu hóa thạch
CO Núi lửa, máy nổ
Hydrocarbure Thực vật, vi khuẩn, máy nổ
Hợp chất hữu cơ
Kỹ nghệ hóa học, đốt rác - sự
cháy
SO
2
và các dẫn xuất của S
Núi lửa - nhiên liệu hóa thạch,
sương mù biển - vi khuẩn
Dẫn xuất của N Vi khuẩn, sự đốt cháy
Chất phóng xạ Trung tâm nguyên tử, nổ hạt
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
13
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
nhân
RẮN
Kim loại nặng – Khoáng
Núi lửa - Thiên thạch, xâm thực
do gió, nhiều kỹ nghệ, máy nổ
Hợp chất hữu cơ tự nhiên
hoặc tổng hợp
Cháy rừng, đốt rác, nông nghiệp
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
14
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
CO
2
làm giảm quá trình hấp thụ oxy của cơ thể và tăng cường nguy cơ bị lão
hoá.
CO ngăn cản sự dịch chuyển của hồng cầu trong máu làm cho các bộ phận của
cơ thể bị thiếu oxygène. Nạn nhân bị tử vong khi 70% số hồng cầu bị khống
chế (khi nồng độ CO trong không khí lớn hơn 1000ppm). Ở nồng độ thấp hơn,
CO cũng có thể gây nguy hiểm lâu dài đối với con người: khi 20% hồng cầu bị
khống chế, nạn nhân bị nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn và khi tỉ số này lên đến
50%, não bộ con người bắt đầu bị ảnh hưởng mạnh.
NO
2
là chất khí màu hơi hồng, có mùi, khứu giác có thể phát hiện khi nồng độ
của nó trong không khí đạt khoảng 0,12ppm. NO
2
là chất khó hòa tan, do đó nó
có thể theo đường hô hấp đi sâu vào phổi gây viêm và làm hủy hoại các tế bào
của cơ quan hô hấp. Nạn nhân bị mất ngủ, ho, khó thở. Protoxyde nitơ NO
2
là
chất cơ sở tạo ra ozone ở hạ tầng khí quyển.
HC gây tác hại đến sức khỏe con người chủ yếu là do các hydrocarbure thơm.
Từ lâu người ta đã xác định được vai trò của benzen trong căn bệnh ung thư
máu (leucémie) khi nồng độ của nó lớn hơn 40ppm hoặc gây rối loạn hệ thần
kinh khi nồng độ lớn hơn 1g/m3, đôi khi nó là nguyên nhân gây các bệnh về
gan.
tới hệ sinh thái, hư hỏng thiết bị, suy giảm tuổi thọ công trình và làm mất mỹ
quan cơ sở hạ tầng. Các thiệt hại về kinh tế có thể lượng hóa bằng tiền với mức
thiệt hại ước tính khoảng 200-500 tỉ đồng (12-31 triệu đô la) một năm.
1.1.3.4 Tổng quan hiện trang ÔNKK do giao thông tại một số thành phố lớn
1.1.3.4.1 Ở Hà Nội
Trước năm 1954 Hà Nội là một thành phố mang nặng tính chất hành chính và
trung tâm tiêu thụ, công nghiệp chưa phát triển. Nội thành chiếm 1.200ha trong
đó co120 ha được cấu trúc đô thị hoàn chỉnh. Dân số nội thành lúc đó có
25.000 người. Nhưng hiện nay dân số đã là 6 triệu người và diện tích nội thành
là 3,300 km
2
. Về công nghiệp, phần lớn các xí nghiệp công nghiệp đều sử dụng
máy móc thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, đặc biệt là đơn vị sản xuất nhỏ. Một số
nơi chưa có hệ thống xử lý khí độc, một số nơi tuy đã có nhưng không tu
dưỡng tốt hoặc bị hư hỏng chưa thay thế…, nên thực tế không hoạt động được.
Vì vậy, tuy ở mức đô sản xuất công nghiệp nhỏ nhưng môi trường không khí
lại bị ô nhiễm trầm trọng hơn so với thủ đô của những nước khác.
Về giao thông vận tải, các tuyến đường chính chỉ khoảng 1.500 – 3.000 xe/giờ
như do đường hẹp, mặt đường xấu và không phân tuyến rõ rang nên các
phương tiện luôn phải thay đổi tốc độ, các xe dừng lại lâu nên lượng khói thải
sinh rất lớn. Trên nhiều tuyến đường nồng độ các chất ô nhiễm so với tiêu
chuẩn cho phép (TCVN – 2005) cao hơn rất nhiều lần.
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
16
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
Cầu vượt để giải toả ách tắc và phát thải lượng NO
2
và SO
dáng kinh ngạc 75 µm /m
3
. Đây là một trong những khu vực được
coi là dẹp nhất Hà Nội với đường rợp bóng cây và vườn hoa công viên trong
lành, thoáng đãng lại “cho” một kết quả ÔNKK được đánh giá là cao nhất
trong khu vực nội thành Hà Nội.
Quan sát khu vực điểm đầu khu phố cổ này thấy có 3 điểm nổi bật: mật độ dân
đông, xe máy nhiều và đường phố chật chội. Đây cũng là 3 đặc điểm điển hình
gây ÔNKK cho Hà Nội, sự chật chội và đông đúc khiến cho không khí không
phát tán được trong khi lượng phát thải lại quá cao.
1.1.3.4.2 Ở Hải Phòng
Thành phố Hải Phòng với dân số trên 450.000 người, đường sá chật hẹp, tổ
chức giao thông không khác gì Hà Nội nên ô nhiễm môi trường không khí gây
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
17
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
ra không khác gì ở Hà Nội. Mặt khác, đây là một hải cảng lớn thường xuyên
đón các tàu chở hàng xuất nhập khẩu vào các tỉnh phía Bắc và là trung tâm
phân phối hàng đi các tỉnh phía Bắc nên mật độ giao thông tăng khá cao.
Lượng khói bụi thải ra ngày càng lớn. Về mùa hè do ở cuối hướng gió nên nội
thành ít bị ô nhiễm nhưng ở ngoại thành là nơi chịu ảnh hưởng rất lớn bởi
nguồn ô nhiễm này. Nồng độ bụi lơ lủng ở đây vượt tiêu chuẩn từ 3 – 8 lần.
Thực tế cho thấy, môi trường không khí Hải Phòng mỗi năm tiếp nhận hàng
nghìn tấn SO
2
, NO
x
, CO, C0
Ôtô vận tải nặng chạy bằng dầu 90
Trong máy bay cánh quạt khi cất cánh 100
Trong xưởng dệt 105
1.2.2 Phân loại tiếng ồn:
1.2.2.1 Tiếng ồn giao thông:
Tất cả các hệ thống giao thông đều tạo ra tiếng ồn. Trong thành phố, các nguồn
chính của tiếng ồn giao thông là những động cơ xe và hệ thống ống xả cua các loại
xe. Chúng ta cần phải phân biệt rõ tiếng ồn giao thông do một xe gây ra và tiếng
ồn do một luồng xe gây ra.
Tiếng ồn của từng xe:
Tiếng ồn từ động cơ và do sự rung động của các bộ phận của xe: tiếng ồn
này phụ thuộc vào loại xe và công nghệ sản xuất xe. Động cơ xe càng chính
xác, bộ giảm xóc của xe càng tốt thì tiếng ồn truyền đến vỏ xe, và sau đó
truyền ra ngoài càng nhỏ. Hiện nay với trình độ và công nghệ sản xuất tiên
tiến đã đảm bảo có loại xe phát ra tiếng ồn rất bé.
Tiếng ồn của ống xả khói: giảm tiếng ồn của ống xả khói phát ra là một vấn
đề về âm học, và nó đã được giải quyết một cách hoàn thiện. Tất nhiên hệ
thống tiêu âm càng tốt thì giá thành càng cao, và đòi hỏi chi phí năng lượng
nhiều hơn. Và trong thực tế cho chúng ta thấy rằng, một số người đã lắp
ống xả khói không có tiêu âm để tiết kiệm xăng dầu và để đỡ hại máynên
gây ra tiếng ồn rất lớn trên đường phố.tiếng ồn do đóng cửa xe: tiếng ồn do
đóng của xe gây nên rất khó chịu, đặc biệt là vào đêm khuya, bởi vì nó là
tiếng ồn gián đoạn, nó làm giật mình khi đang ngủ.
Tiếng rít phanh: ngày nay người ta rất chú ý giải quyết vấn đề này bằng các
đĩa hãm hiện đại, bao gồm cà việc làm giảm tiếng phanh gõ đập.
Bảng 1-6: Tiếng ồn của một số loại xe
Loại xe Mức ồn (dB)
Xe hòm thanh lịch 77
Xe hành khách nhỏ 79
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
Ảnh hưởng của tiếng ồn lên thính giác đã được biết từ thuở xa xưa, khi người
thợ rèn, thợ hầm mỏ hoặc người giật chuông nhà thờ làm việc lâu năm với
nghề của mình. Thính giác của họ giảm dần, rồi dẫn đến điếc hoàn toàn.
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
20
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
Theo các nhà nghiên cứu, sự tiếp xúc lâu ngàyvới tiếng ồn mạnh sẽ làm vỡ
những tế bào long ở tai trong. Các tế bào này sẽ bị bứng gốc, huỷ hoại. Đây là
những tế bào có nhiệm vụ thu nhận các đợt song âm thanh, chuyển lên não bộ
để được nhận rõ đó là âm thanh gì từ đâu phát ra.
Tiếng động mạnh cũng gây tổn thương cho dây thần kinh thính giác đưa tới
điếc tức thì và vĩnh viễn với cảm giác ù tai.
Tiếp xúc với tiếng động đột ngột và liên tục có thể gây ra mất thính lực tạm
thời, nhưng thường thì thính lực trở lại sau 16-18 giờ khi không còn tiếng
động.
Ảnh hưởng của tiếng động lên tai tuỳ thuộc ở cường độ của tiếng động và số
lượng thời gian tiếp cận với chúng. Hậu quả có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Tiếng ồn giao thông được coi là kẻ sát nhân giấu mặt, vì ít ai để ý đến tác hại
của nó. Chỉ có những người yiếp xúc với nó trên cơ bản thường xuyên mới
thấy được nguy cơ.
1.2.3.2 Rối loạn giấc ngủ:
Nhiều nghiên cứu chứng minh tiếng ồn từ 35dB trở lên đã đủ gây ra rối loạn
cho giấc ngủ bình thường.
Tiếng động ban đêm tạo ra những cơn thức giấc bất thường, làm thay đổi chu
kỳ các giai đoạn của giấc ngủ. Nhiều thức giấc bất thường sẽ đưa tới thiếu ngủ
và hậu quả là sự mệt mỏi, buồn chán vào ngày hôm sau. Tiếng động trong khi
ngủ cũng làm tăng huyết áp, nhịp tim, co mạch máu ngoại vi và các cử động
của cơ thể như trằn trọc, trở mình, co chân duỗi tay…
sống trong các căn phòng ở tầng thấp trong một cao ốc gần trục lộ giao thông
có khó khăn tập đọc, làm toán, phân biệt chữ có âm tương tự, so với các em
sống ở tầng trên cao, xa tiếng ồn. Nghiên cứu còn cho hay, tiếng ồn có thể ảnh
hưởng tới bào thai còn trong bụng mẹ và thai nhi đáp ứng bằng cách tăng nhịp
tim và chuyển động than mình. Một nghiên cứu khác cũng cho biết, bà mẹ
sống gần phi trường có tỷ lệ sinh non cao hơn.
1.2.3.5 Với sự tiêu hoá:
Tiếng ồn cũng ảnh hưởng tới sự tiêu hoá như làm giảm co bóp của dạ dày,
giảm dịch vị dạ dày và nước miếng.
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
22
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
1.2.3.6 Với khả năng làm việc:
Tại nơi làm việc tiếng ồn là rủi ro lớn cho sức khoẻ, gây khó khăn cho sự đối
thoại, giảm tập trung vào công việc, giảm sản xuất và tăng thương tích. Tuy
nhiên cũng có nghiên cứu cho biết, âm thanh vừa phải kích thích sự hứng khởi
khi đang làm công việc có tính cách đơn điệu.
1.2.3.7 Với hành vi của con người:
Sống nơi giao thông đông đúc, nhiều tiếng ồn, con người trở nên bực bội, giận
dữ, khó chịu, hay gây gổ, ít giao thiệp với lối xóm. Tiếng ồn có ảnh hưởng rất
nhiều lên con người kể cả khi không còn tiếng ồn. Tiếng ồn dường như cũng
khiến con người giảm đặc tính giúp đỡ và tăng sự hung hăng, gây hấn. Một
quan sát cho thấy, khi đang định giúp người khác nhặt một vật gì mà có tiếng
ồn dội tới, thì động tác giúp đỡ này ngưng lại.
1.2.3.8 Tạo sự căng thẳng:
Căng thẳng sẽ phát sinh khi con người cảm thấy bất lực trước một tiếng ồn liên
tục mà mình không thể can thiệp được, như tiếng còi xe, tiếng rú ga…Căng
thẳng kéo dài dẫn đến những chứng bệnh thần khinh như trầm cảm hay lo lắng
Nếu chịu dựng lâu sẽ bị thủng màng tai
Nếu tiếp xúc lâu sẽ gây hiệu quả nguy hiểm lâu dài
Chỉ cần tiếp xúc ngắn đã gây nguy hiểm lớn và lâu dài
1.2.4 Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn do giao thông ở Việt Nam
Trên các tuyến đường cao tốc ở Tây Âu, những đoạn đi gần thành phố người ta
xây lên nhiều bức tường kính dài hàng vài cây số để ngăn chặn tiếng ồn từ
động cơ xe ô tô phát ra không để những tiếng ồn đó ảnh hưởng tới các khu dân
cư, nhất là về ban đêm, tránh được ảnh hưởng của tiếng ồn đối với giấc ngủ
của người dân.
Trong khi đó thì tiếng ồn ở các đô thị nước ta thật quá tệ, và đã đến mức báo
động. Hàng ngày đi trên đường phố, ngoài tiếng ồn do phương tiện tham gia
giao thông tạo ra, người sử dụng xe tha hồ bóp còi inh ỏi để đòi vượt trước. Ở
những điểm tắc nghẽn xe thường xuyên thì tiếng ồn càng lớn phát ra từ xe cộ,
từ còi xe, từ tiếng la hét, vỗ đập cả vào thành xe để cảnh báo…
Ở nhiều khu dân cư, các xưởng sản xuất gia đình, hợp tác xã, hoặc tổ sản xuất
mộc, cơ khí… cũng là thủ phạm gây ra tiếng ồn lớn làm ảnh hưởng đến cuộc
sống của người dân xung quanh. Nhiều cụ già, em nhỏ mất ăn, mất ngủ trông
phờ phạc vì tiếng ồn ở các xí nghiệp, tổ sản xuất này đã vượt quá ngưỡng sinh
lý cho phép. Theo thống kê thì hiện nay tiếng ồn giao thông chiếm khoảng 60 –
70% trong tổng thể tiếng ồn trong đô thị.
1.2.4.1 Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn giao thông ở một số thành phố lớn
1.2.4.1.1 Ở Hà Nội
Giao thông ở Hà Nội rất dày đặc. Đường phố đông nghịt. Tiếng còi xe inh
ỏi. Đôi khi thật là lố bịch. Việc lạm dụng bóp còi khiến nhiều người phát
Tên đề tài: “Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khống chế”
24
Khóa luận tốt nghiệp – Khoá 2007 GVHD: Th.S Nguyễn Chí Hiếu
Khoa: Môi trường và Công nghệ sinh học SVTH: Nguyễn Thị Khánh Ngân
điên. Không thể “can thiệp” về số người lưu thông trên đường nhưng