Quản lý hoạt động giáo dục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong các trường THPT huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
LỜI CẢM ƠN
Trong cả quá trình học tập, chọn đề tài cũng như triển khai thực hiện hoàn
thành luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục, tác giả đề tài “Quản lý hoạt động
giáo dục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong các trường THPT huyện Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh” tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện về nhiều mặt;
sự hướng dẫn chỉ bảo, tư vấn nhiệt tình của cán bộ hướng dẫn; các giảng viên trường đại
học sư phạm Thái Nguyên; của ban giám hiệu các trường trung học phổ thông trên địa
bàn huyện Đông Triều và Ban thường vụ Đoàn các Đoàn trường.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn khoa Sau đại học, khoa Tâm lý - Giáo dục
trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, các Thầy Cô giáo đã tham gia
giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ tác
giả trong quá trình học tập, nghiên cứu rèn luyện tại nhà trường.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí Bí thư Đoàn trường trên địa bàn
huyện Đông Triều phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt với tấm lòng biết ơn tác giả xin được cảm ơn PGS-TS Phạm Viết
Vượng người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ, động viên tác giả
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012
Tác giả

Vũ Thị Diệu Linh

4
1.2. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là trƣờng học giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thanh
niên…………………………………
7
1.3. Đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh…………………………………
10

1.3.1: Đạo đức
10
1.3.2: Giáo dục đạo đức
15
1.3.3: Những yếu tố ảnh hƣởng tới việc rèn luyện đạo đức của học sinh THPT
19
1.4: Quản lý giáo dục đạo đức
20
1.4.1: Quản lý
20
1.4.2: Quản lý giáo dục đạo đức
22
1.4.3. Mục tiêu của quản lý giáo dục đạo đức
23
1.4.4: Các khâu của quản lý giáo dục đạo đức
24
1.4.5: Vai trò của quản lý giáo dục đạo đức
26
Kết luận Chƣơng 1
26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG CÁC TRƢỜNG
THPT HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH


3
trường THPT huyện Đông Triều…………………………………………………
Kết luận chƣơng 2
58
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DUC ĐẠO ĐỨC CỦA ĐOÀN TNCS
HỒ CHÍ MINH TRONG CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH
60
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt
động của Đoàn thanh niên …………………………………………………….
60
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ……………………………………………
60
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn……………………………………………
60
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi……………………………………………
61
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả……………………………………………
61
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo phát huy được vai trò của các chủ thể và các yếu tố của
quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh…
62
3.2. Các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động của Đoàn
thanh niên………………………………………………………………………………
62
3.2.1. Xây dựng kế hoạch phối hợp giáo dục đạo đức cho học sinh…………………
62
3.2.2. Phối hợp công tác giữa chủ nhiệm lớp và bí thư chi Đoàn……………………
65


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

BCH : Ban chấp hành
BCH TW : Ban chấp hành trung ương
BP GDĐĐ : Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH : Công nghiệp hóa
GDCD : Giáo dục công dân
GDĐĐ : Giáo dục đạo đức
GV : Giáo viên
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HĐH : Hiện đại hóa
HN & GDTX : Hướng nghiệp & Giáo dục thường
xuyên
QL GDĐĐ : Quản lý giáo dục đạo đức
SGK : Sách giáo khoa
TCN : Trước công nguyên
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TNXH : Tệ nạn xã hội

của học sinh

49
Bảng 6: Bảng kết quả về tính cấp thiết và tính khả thi của 4 biện pháp
đề xuất.

71 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong nhữ ng năm qua , đất nước ta đang chuyể n mì nh trong công cu ộc đổ i
mớ i toà n diệ n và sâu s ắc, từ một nề n kinh tế t ập trung, quan liêu, bao cấp sang nề n
kinh tế nhiề u thà nh phầ n vậ n hà nh theo cơ chế th ị trường có sự quản lý của Nhà
nước, đã đạt nhiề u thà nh tự u to lớ n , rất đá ng tự hà o về phát tri ển kinh tế , văn hó a,

tình trạng chung với cả nước.
Là người phụ trách phong trào thanh niên của một huyện, chúng tôi có nhiều
trăn trở về những nguyên nhân lệch lạc trong lối sống của thanh, thiếu niên, học
sinh, có những suy tư về những biện pháp giáo dục chưa có hiệu quả của Đoàn
Thanh niên ở các trường trung học phổ thông hiện nay, vì vậy tôi mạ nh dạ n chọ n đề
tài: “Quản lý hoạt động giáo dục của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
trong các trƣờ ng THPT huyện Đông Triều - tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Qua việ c nghiên cứ u lý luậ n và kh ảo sát thự c trạng quản lý hoạt động giáo
dục của Đoàn thanh niên trong các trường THPT, tôi lựa chọn nội dung quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của Đoàn Thanh niên ở các trường THPT trên
địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là nội dung nghiên cứu chuyên sâu trên
cơ sở đó sẽ đề xuất những biện pháp qu ản lý giá o dụ c đ ạo đức gó p phầ n nâng cao
chấ t lượ ng giá o dụ c toà n diệ n cho họ c sinh.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác giáo dục đạo đức học sinh của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh ở các trườ ng THPT trong các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu:
Quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh của Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh trong các trườ ng THPT trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
4. Giả thuyết nghiên cứu:
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh trong các trườ ng THPT trên đ ịa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
bên cạnh những thành tích đáng kể vẫn còn những hạn chế, nếu ta có được những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
biện pháp quản lý đồng bộ, hợp lý sẽ nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho


9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA
ĐOÀN THANH NIÊN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1. 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
* Về vai trò của Đoàn Thanh niên:
Về vai trò của Đoàn Thanh niên và ý nghĩa của công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh của Đoàn Thanh niên là một vấn đề quan trọng đã được các nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu:
- C.Mác và Ăng ghen những nhà sáng lập ra chủ nghĩa Cộng sản là những
người đầu tiên đề cập tới vấn đề này, các ông cho rằng tương lai của loài người
hoàn toàn tùy thuộc vào công tác giáo dục các thế hệ thanh niên. Theo các ông, cần
phải giáo dục cho thanh niên phát triển toàn diện về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và kỹ thuật lao động sản xuất.
- V.I. Lênin kế thừa những tư tưởng của C.Mác-Ăng ghen, cũng khẳng định
tương lai của chủ nghĩa cộng sản thuộc về thanh niên, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa cộng sản là của thanh niên. Trong tác phẩm nổi tiếng “Nhiệm vụ
của Đoàn Thanh niên” Lênin đã chỉ ra rằng để giáo dục thanh niên cần tập hợp họ
vào một tổ chức chính trị, đó là Đoàn Thanh niên. Đoàn Thanh niên phải tổ chức
giáo dục đoàn viên rèn luyện gắn liền với thực tiễn cuộc sống của nhân dân lao
động. Nhiệm vụ của đoàn viên thanh niên là học tập chủ nghĩa cộng sản, nắm lấy tất
cả tri thức của nhân loại.
- Hồ Chí Minh đã phát triển những tư tưởng của chủ Mác – Lênin vào hoàn
cảnh cụ thể của nước ta, người đặt nền móng cho một lý luận mới về giáo dục đạo
đức - đó là đạo đức cách mạng. Người đã kế thừa những giá trị đạo đức truyền
thống: “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Dũng, Liêm” và đưa vào những nội dung mới
phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đất nước. Người cho rằng, đạo đức của người cán bộ
là “trung với Đảng, hiếu với dân”, chống chủ nghĩa cá nhân, tận tụy với dân, với nước.
Khi bàn về vấn đề giáo dục đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nói

vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên”. Đại hội
X của Đảng cũng xác định: “Đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị,
truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống; tạo môi trường thuận lợi để phát triển toàn
diện”. Đảng, Nhà nước đến những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của tuổi trẻ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 81 năm qua Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh đã phát huy vai trò nòng cốt, đề xuất nhiều phong trào cách mạng của tuổi trẻ,
tiêu biểu như phong trào “Tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”, “Thi đua,
tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,“Thanh niên lập nghiệp”, đã diễn ra hết
sức sôi nổi. Kết quả là đã góp phần tạo dựng nên một lớp thanh niên mới vươn lên
lập thân, lập nghiệp, phát huy mạnh mẽ truyền thống xung kích của lớp thanh niên
đi trước. Cũng từ đó mà vai trò của đoàn viên, thanh niên ngày càng được khẳng
định trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ mà thế hệ trẻ đã đạt được, thì do tác động
mặt trái của cơ chế thị trường, do những thiếu sót trong công tác tổ chức, quản lý
giáo dục đào tạo, một bộ phận đoàn viên, thanh niên có những biểu hiện tiêu cực
đáng lo ngại, mất phương hướng chính trị, mất niềm tin vào lý tưởng cộng sản chủ
nghĩa, chạy theo lối sống buông thả, lười lao động, không quan tâm đến học tập và
tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, xa rời những truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc, coi thường kỷ cương pháp luật Mặt khác, các thế lực thù địch đã và đang
lợi dụng, khai thác những để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống
phá, ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Trong những năm qua, tổ chức Đoàn thanh niên trong các trường học đã phát
huy được tốt vai trò của mình trong các hoạt động giáo dục đạo đức, chính trị tư
tưởng cho học sinh. Xây dựng tiêu chuẩn phân loại chi đoàn và đoàn theo phương
thức chấm điểm nhằm lựa chọn chi đoàn và đoàn viên đạt nhiều thành tích trong
hoạt động để tiến hành xây dựng chi đoàn điển hình, lồng ghép thực hiện cuộc vận
động chi đoàn văn hóa và người đoàn viên văn hoá. Tổ chức cuộc vận động như

trị, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
- Đối với Đảng: Đoàn là đội dự bị tin cậy của Đảng, nguồn cung cấp cán bộ
theo yêu cầu chính trị của Đảng, Đoàn hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.
- Đối với Nhà nước: Đoàn là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước trong công
cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức xã
hội chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh, thiếu nhi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
- Đoàn phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Đoàn là trường học được hiểu theo nghĩa rộng đó là môi trường giáo dục, rèn
luyện, định hướng giá trị cho thanh niên theo lý tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh lựa chọn. Với chức năng này, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải
thông qua các nội dung phương thức hoạt động khác nhau, với nhiều loại hình giáo
dục khác nhau để đoàn kết tập hợp, giáo dục thanh niên.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một thành viên trong hệ thống
chính trị có nhiệm vụ tập hợp, tổ chức, giáo dục và rèn luyện đoàn viên, thanh niên,
học sinh, sinh viên. Gắn liền với bề dày truyền thống và thành tích anh hùng 80 năm
xây dựng và phát triển, Đoàn Thanh niên không ngừng lớn mạnh và trưởng thành về
mọi mặt, đã có những cống hiến liên tục và cụ thể vào công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước, tạo môi trường góp phần giáo dục và rèn luyện thanh niên.
Trong suốt chiều dài lịch sử, tuổi trẻ nước ta hết thế hệ này đến thế hệ khác,
đã nêu cao truyền thống yêu nước, chí khí anh hùng, cống hiến to lớn vào sự nghiệp
dựng nước và giữ nước. Trong thời đại Hồ Chí Minh, lớp lớp thanh niên đã phát
huy mạnh mẽ truyền thống của cha ông, nỗ lực phấn đấu, vượt mọi khó khăn, thử
thách, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân
và toàn quân hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước và ngày nay đang chung tay tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ

chiều thì những kênh truyền thông chính thức của hệ thống chính trị nói chung, của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói riêng chưa thực sự tìm được đường đi một cách hiệu
quả để đến với các đối tượng thanh niên. Điều đó tạo ra khó khăn lớn trong giáo dục
chính trị tư tưởng đối với thanh niên trong giai đoạn hiện nay.
Thực hiện chức năng trường học xã hội chủ nghĩa, giáo dục lý tưởng cho
thanh niên, là công việc cực kỳ quan trọng mà Đoàn phải kiên trì thực hiện. Cùng
với sự chuyển mình của đất nước đổi mới, nắm bắt được nhu cầu nguyện vọng của
đoàn viên thanh niên, tổ chức Đoàn trong trường học luôn tìm cách đổi mới nội
dung, phương thức tập hợp thanh niên trong phong trào, hỗ trợ và khuyến khích
những trang mạng xã hội có nội dung tốt mang ý nghĩa giáo dục; thay đổi công tác
truyền thông, làm bạn với giới trẻ. Các website, báo chí của Đoàn với chức năng là
tiếng nói của Đoàn, là diễn đàn của thanh niên, luôn tạo ra những tuyến bài hấp dẫn
thanh niên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Đặc biệt, với vai trò là tổ chức đại diện cho đoàn viên, học sinh, sinh viên, tổ
chức Đoàn trong trường học luôn tổ chức và đưa thanh niên tham gia các hoạt động
cách mạng bởi giáo dục thông qua hành động là con đường giáo dục có hiệu quả
cao nhất.
Chia sẻ những ước mơ, hoài bão, khát khao vươn lên của thanh niên, 80 năm
qua Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò là người
bạn, người đồng hành cùng tuổi trẻ, tạo ra cơ hội, môi trường thuận lợi để thanh
niên thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, vào các mục tiêu phát triển của xã hội, của cộng đồng bằng khả
năng, trí tuệ, sức trẻ của mình trong từng lĩnh vực cụ thể.
1.3. ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
1.3.1. Đạo đức:
Là một bộ phận của tri thức triết học, các tư tưởng về đạo đức và giáo dục
đạo đức đã xuất hiện cách đây hơn 2.000 năm.

- “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái
thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Đạo đức về bản
chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và
phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện”
- “Đạo đức là những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định
hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”, “là phẩm chất tốt
đẹp của con người do tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có”.
- “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao
cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ xã hội trong quan
hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội”.
- “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy
tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người
trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”
Các khái niệm đạo đức ở trên đã đề cập tới:
Thứ nhất, đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội.
Thứ hai, đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người:
phong tục, tập quán, tôn giáo, theo khuôn phép chuẩn mực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Thứ ba, đạo đức là một hệ thống các giá trị công nhận hoặc phủ nhận thái độ
hoặc hành vi ứng xử của cá nhân trong quan hệ với cá nhân hay cộng đồng trong
một xã hội nhất định.
Đạo đức là khái niệm đi liền với khái niệm nghĩa vu, lương tâm, thiện ác:
- Nghĩa vụ là ý thức về trách nhiệm của bản thân đối với người khác và đối
với cộng đồng. Nghĩa vụ thể hiện như là ý thức, tình cảm con người về mối quan hệ
hài hoà giữa nhu cầu và lợi ích cá nhân với nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, xã
hội. Điều đáng chú ý là việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng mang tính tự

con người.
- Thiện và ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời
sống đạo đức của mọi cá nhân. Cái thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của
con người trong cuộc sống hàng ngày, là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp
với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội. Cái ác là cái xấu, cái thấp hèn trong cách cư xử với
đồng loại. Cái thiện phải được thể hiện qua việc góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội,
đem lại lợi ích cho mọi người trong xã hội. Hồ Chí Minh đã nói: “Việc thiện thì dù
nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh”.
Khi xem xét trong mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì đạo đức được
hợp thành từ hai yếu tố là ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.
- Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi,
bao hàm cả những cảm xúc, tình cảm của con người. Trong quan hệ giữa người với
người đều có những ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức. Đó là ranh giới giữa
cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể. Ý thức đạo
đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự
đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những nguyên tắc đạo đức của xã hội
đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác,
tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức đó.
- Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý
thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức trong cuộc sống. Các hành vi
đạo đức vừa là biểu hiện của nhận thức và tình cảm đạo đức cá nhân, vừa bị chi phối
bởi các chuẩn mực và quy tắc của xã hội. Quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với
xã hội và đối với người khác là tiền đề của hành vi đạo đức cá nhân. Sự lựa chọn tự do
trong ứng xử giữa người này với người khác là do những tính cách quyết định. Ý thức
và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
đạo đức của con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại
lịch sử. Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động đạo đức thì mới đem lại

20
nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức
cụ thể của cá nhân.
Đạo đức xã hội có chức năng giáo dục, điều chỉnh và nhận thức. Từ nhận thức
về các quy luật, bản chất, khái niệm đạo đức để nhận thức lại đạo đức của mình.
Đạo đức chỉ xuất hiện nơi nào có mối quan hệ (quan hệ giữa cá nhân - cá
nhân, cá nhân - tập thể, ), hành vi điều chỉnh các mối quan hệ luôn tự giác, mối
quan hệ của đạo đức là mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan của con người
nhưng đạo đức bản thân có ý nghĩa nhân sinh quan. Đó cũng chính là quy luật của đạo
đức và nội dung của đạo đức do tồn tại xã hội quyết định.
1.3.2. Giáo dục đạo đức
Về bản chất đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, được hình
thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và mọi người tự giác
thực hiện. Đạo đức là văn hoá của cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức
của cá nhân và cũng là trình độ dân trí xã hội.
Đạo đức là quy tắc sống, định hướng giá trị cuộc sống của mỗi cá nhân và điều
chỉnh các hành vi xã hội, đạo đức thúc đẩy xã hội tiến đến trình độ văn minh. Đạo
đức của con người được biểu hiện ở ba mặt: ý thức, thái độ và hành vi đạo đức.
Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm, phạm trù
như: thiện, ác, công bằng, lẽ phải, nhân đạo, tình thương, lương tâm, trách nhiệm,
trung thực, tự trọng Thang giá trị của đạo đức biến đổi theo dòng lịch sử, đạo đức
có tính nhân bản, tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại.
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động hình thành cho học sinh nhận thức,
tình cảm, niềm tin và thói quen hành vi đạo đức, thể hiện trong cuộc sống hàng
ngày đối với gia đình, cộng đồng, làng xóm, với bạn bè và tập thể.
Giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận biết các giá trị xã hội, biết hành
động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất
nước. Sản phẩm cuối cùng của giáo dục đạo đức là hành vi đạo đức được thể hiện
trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong học tập.
“Giáo dục đạo đức cho học sinh là làm cho nhân cách của thế hệ trẻ phát

lực học tập để cống hiến nhiều nhất cho tổ quốc.
Các con đường giáo dục đạo đức:
Giáo dục đạo đức có thể được thực hiện thông qua các con đường sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
+ Thông qua giảng dạy, học tập các môn khoa học: tự nhiên, xã hội và nhân
văn giúp học sinh hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và các phẩm chất nhân
cách:
- Thông qua giảng dạy các bộ môn Văn học, Lịch sử và Địa lý giúp học sinh
biết được cội nguồn đất nước và lịch sử phát triển dân tộc qua các thời đại. Từ đó
hình thành tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc, sẵn sàng lao động để
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Qua giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân giúp học sinh hình thành các khái
niệm chính trị, đạo đức và pháp luật, tạo lập thói quen tư duy và hành động theo
hiến pháp và pháp luật.
+ Qua việc tổ chức cho học sinh tham gia lao động công ích và các hoạt động
xã hội. Lao động công ích và các hoạt động xã hội bản thân nó đã là trường học lớn
rèn luyện con người. Tư tưởng chính trị, đạo đức, ý thức pháp luật được hình thành
từ cuộc sống và phát triển trong hoạt động thực tiễn:
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động ở địa phương, các phong
trào vận động văn hoá như "xây dựng gia đình văn hoá", "xây dựng môi trường
xanh, sạch, đẹp". Tham gia vào các cuộc vận động chính trị như bầu cử Hội đồng
nhân dân các cấp hoặc các cuộc quyên góp ủng hộ người nghèo, những người
nhiễm chất độc màu da cam
- Tổ chức cho học sinh tham dự các ngày lễ kỷ niệm lịch sử đất nước, các lễ
hội dân tộc ở địa phương để giáo dục cho học sinh kế thừa và phát huy truyền thống
văn hoá và lịch sử dân tộc Việt Nam.
+ Tổ chức và xây dựng các đoàn thể học sinh Đoàn Thanh niên Cộng sản, Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là các tổ chức chính trị của tuổi trẻ, là trường

+ Nội dung giáo dục đạo đức của Trung Quốc hiện nay bao gồm: Giáo dục lý
tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng tự cường dân tộc, tính kỷ luật trong lao động, học tập
và hoạt động xã hội. Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới giáo dục toàn diện gọi là
“giáo dục tố chất”. Theo quan điểm của Trung Quốc, giáo dục tố chất là tạo tiền đề
để học sinh phát triển cả về thể chất và tâm hồn, chuyển hóa ý thức xã hội thành
phẩm chất tâm lý của cá thể học sinh.
+ Mô hình giáo dục đạo đức của Nhật Bản được xây dựng trên nền tảng các
giá trị gia đình và văn hóa truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với tất cả các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24
môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông. Đặc trưng của giáo dục đạo
đức ở Nhật Bản tập trung vào ba điểm: Lòng tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá nhân
và cộng đồng và ý thức về trật tự dọc. Trật tự này bắt nguồn từ Khổng giáo, trong
gia đình các thành viên thuộc nhiều thế hệ gắn kết với nhau bởi tình cảm tự nhiên
hơn là khả năng và quyền lực. Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến nền giáo dục Nhật
Bản thành công.
+ Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa
quốc tế” tổ chức tại Tokyo vào tháng 2/1994 đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân
văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị:
- Nhóm những giá trị liên quan đến Quyền con người
- Nhóm các giá trị liên quan đến Dân chủ
- Nhóm các giá trị liên quan đến Hợp tác và Hòa bình
- Nhóm các giá trị liên quan đến Bảo vệ mội trường
- Nhóm các giá trị liên quan đến Bảo vệ di sản văn hóa
- Nhóm các giá trị liên quan đến Bản thân và những người khác
- Nhóm các giá trị liên quan đến Tính dân tộc
- Nhóm các giá trị liên quan đến Tâm linh.
1.3.3. Những yếu tố ảnh hƣởng tới việc rèn luyện đạo đức của học sinh
Trung học phổ thông.

“Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được
mục đích của tổ chức” (Nguyễn Mỹ Lộc, 1996, Lý luận đại cương về quản lý, tr. 11,
Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, tập Giáo dục Đại học, Hà Nội).
“Là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp các nỗ lực cá nhân nhằm đạt
được các mục tiêu của nhóm (tổ chức) và của cộng đồng” (H.Koontz- 1993).
“Là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo ra sự
chuyển biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt mục tiêu nhất định” (Giáo trình Khoa
học quản lý của HVCTQG- 2003).
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối
hợp các hoạt động của cấp dưới, của nhữgn người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua
việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát.
Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt đông nào đó; điêu tiết được
nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt đông bộ phận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status