SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HOÁ
Tr êng THPT Qu¶ng X ¬ng IV
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT THÔNG QUA
CÁC HOẠT ĐỘNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TẠI
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4 ĐỂ GÓP PHẦN XÂY
DỰNG NỀ NẾP HỌC ĐƯỜNG
Người thực hiện : Ngô Tiến Hà
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực Đoàn thanh niên
THANH HÓA, NĂM 2013
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………… 1
1
II. Phạm vi và đối tượng của đề tài………………………………………….….3
III. Mục đích của đề tài……………………………………………………… 3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận…………………………………………………………………4
II. Thưc trạng vấn đề…………………………………………………… …….5
III. Một số giải pháp cụ thể 6
1. Vai trò của Đoàn thanh niên đối với công tác tổ chức chi đoàn 6
2. Tiếp xúc với cha mẹ ĐVTN…………………………………………… ….11
3. Tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của ĐVTN…………………………… …11
4. Tạo sự gần gũi, quan tâm với ĐVTN……………………………… …….11
5. Công tác phối hợp………………………………………………… …… 12
dạy, nhưng về kỹ năng quản lý, giáo dục học sinh trong công tác nề nếp thì
không phải ai cũng làm tốt.
Thực tế nhà trường trong những năm qua, công tác quản lý nề nếp của
Đoàn thanh niên còn gặp nhiều khó khăn. Do đặc thù của xã hội nói chung, địa
phương nói riêng, số lượng học sinh bậc trung học phổ thông đang giảm dần,
nên học sinh thi tuyển đầu vào với chất lượng thấp, lượng học sinh vào học tại
trường THPT không ngang bằng nhau về học lực cũng như hạnh kiểm.
3
Việc xếp lớp, với hình thức đại trà, ở mỗi lớp đều có học sinh giỏi; khá;
trung bình, yếu. Đặc biệt là đối với học sinh khối lớp 10 ngay sau khi vào học đã
bộc lộ lên những học sinh yếu, kém về học lực. Từ đó, những học sinh này ngày
càng có những biểu hiện sa sút về học lực lẫn hạnh kiểm do nhiều nguyên nhân
tác động đã dẫn đến tình trạng như: thường xuyên không học bài cũ, không làm
bài tập, nghĩ học vô lý do , bỏ tiết, không chấp hành nội quy nề nếp trường lớp,
thường xuyên gây gỗ đánh nhau làm mất trật tự anh ninh trường học gọi chung
là học sinh cá biệt.
Những đối tượng nêu trên mặt dù số lượng không nhiều, trung bình chỉ
chiếm khoảng 5% trong tổng số học sinh nhà trường. Nhưng đối với vai trò của
Đoàn thanh niên đây là vấn đề khó khăn trong công tác quản lý nề nếp học sinh,
giải quyết không khéo sẽ làm ảnh hưởng đến những học sinh khác. Từ đó đối
với giáo viên nói chung, các đồng chí trong ban Chấp hành đoàn trường nói
riêng, ngoài kiến thức chuyên môn giỏi đòi hỏi phải có kỹ năng nghiệp vụ công
tác đoàn nhằm kịp thời giáo dục những học sinh cá biệt trở thành những học
sinh ngoan. Giúp các em có được nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm
của một người học sinh, đồng thời giúp cho người thầy có được niềm tin đam
mê nghề nghiệp, tạo một môi trường giáo dục thân thiện, tích cực đầy ý nghĩa.
Đây là vấn đề quan trọng trong công tác quản lý nề nếp học sinh ở trường THPT
hiện nay.
Từ thực tiễn của nhà trường, trong những năm qua bản thân tôi với cương
vị Bí thư đoàn trường, hàng năm đã tiếp xúc với nhiều đối tượng nêu trên nên ít
em biết mình sẽ làm gì để thay những lời tri ân đầy ý nghĩa.
Bên cạnh phần nào giúp cho các thầy cô quan tâm hơn về vai trò, trách
nhiệm của mình đối với nghề nghiệp, đặc biệt là trong công tác quản lý nề nếp
học sinh. Nghề dạy học là một nghề thiêng liêng cao cả, không phải ai cũng làm
được như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “Nghề dạy học là nghề cao cả
nhất trong những nghề cao cả”. Đồng thời giúp cho một số ít thầy cô xóa đi tư
tưởng kỳ thị, phân biệt đối với những học sinh không ngoan mà phải xác định
5
“tất cả vì học sinh thân yêu” để góp phần xây dựng môi trường học tập
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
Đối với học sinh THPT, hầu hết các em bước sang giai đoạn phát triển
toàn diện về thể chất, nên đặc điểm tâm lý của các em rất dễ bị kích động do
những yếu tố xã hội bên ngoài, các em có nhu cầu tự khẳng định mình là người
lớn, cho nên các em cho rằng mình có quyền giải quyết các vấn đề theo kiểu
người lớn, tự quyết định cho bản thân mà không nghe theo lời khuyên của người
khác kể cả gia đình. Một số em nghĩ rằng thầy cô sẽ không làm gì được mình
ngoài việc nhắc nhở, hăm dọa, mời phụ huynh … từ đó mà các biểu hiện cá biệt
dần dần xuất hiện.
Đối với thầy cô làm công tác quản lý nề nếp học sinh trước hết phải hiểu
biết về tâm lý lứa tuổi của các em để có các giải pháp xử lý tình huống cho thích
hợp. Trong lớp học có rất nhiều đối tượng học sinh: học sinh giỏi, học sinh khá,
học sinh yếu kém. Đối với học sinh khá, giỏi thường các em rất có ý thức, nghe
lời thầy cô, các em sẽ thấy hối hận khi mình lỡ vi phạm và các em sửa đổi
những khuyết điểm của mình một cách tự giác rất nhanh. Những đối với học
sinh yếu, kém (học sinh chậm tiến) khi vi phạm các em sửa đổi rất chậm, thậm
chí không hề sửa đổi mà vi phạm ngày càng tăng lên dẫn đến học lực ngày càng
sa sút và kết quả phải lưu ban hoặc bỏ học giữa chừng. Do đó giáo viên khi làm
công tác công tác quản lý nề nếp học sinh phải nắm rõ các đối tượng của mình
- Cho nhiều điểm kém.
- So sánh giữa học sinh này với học sinh khác.
- Hăm dọa sẽ ở lại lớp … làm cho học sinh mất đi niềm tin dẫn đến bị oan, chán
chường, không muốn học những môn đó…
7
Đối với giáo viên làm công tác quản lý nề nếp học sinh:
- Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt còn sử dụng tùy tiện các phương
pháp không phù hợp và chưa khoa học.
- Xử lý học sinh không công bằng
- Không xây dựng được quy định riêng.
- Xử lý không đến nơi, đến chốn.
- Chưa kết hợp với phụ huynh.
- Có thái độ kỳ thị đối với học sinh cá biệt.
- Không thường xuyên theo dõi các học sinh cá biệt.
- Bầu Ban cán sự Đoàn còn yếu về năng lực quản lý học sinh.
- Phạt học sinh vi phạm quá nặng.
*Đối với học sinh cá biệt thường có các biểu hiện sau:
- Bỏ học, cúp tiết, thường đi học trễ.
- Không đồng phục, phù hiệu.
- Đầu tóc, tác phong không gọn gàng.
- Mất trật tự trong giờ học.
- Không chú ý nghe thầy cô giảng dạy.
- Thiếu văn hóa (nói tục, chưỡi thề).
- Đùa giỡn, chọc gẹo người khác quá mức.
- Sách vỡ không đầy đủ, thường xuyên không chép bài.
- Mê chơi game, lôi kéo, rủ rê bè bạn.
- xích mích, gây gỗ đánh nhau
III. Một số giải pháp cụ thể
1. Vai trò của Đoàn thanh niên đối với công tác tổ chức chi đoàn.
Trong công tác quản lý nề nếp học sinh, nếu làm đúng vai trò trách nhiệm
Lưu ý: Tránh trường hợp học sinh không đủ năng lực nhưng Đoàn trường vẫn
bắt buộc phải làm bí thư hoặc phó bí thư, từ đó làm ảnh hưởng đến tinh thần học
tập của các em và tạo điều kiện cho những mầm móng học sinh cá biệt xuất
hiện.
9
*BCH Đoàn trường xây dựng nội quy đoàn trường:
Ngoài việc BCH Đoàn trường phổ biến cho học sinh biết về Nội quy nhà
trường bắt buộc học sinh phải thực hiện bên cạnh BCH Đoàn trường cần xây
dựng Nội quy riêng cho đoàn trường để các chi đoàn thực hiện. Có thể ở mỗi
chi đoàn, BCH chi đoàn xây dựng nội quy lớp khác nhau tùy thuộc vào đặc
điểm, tình hình của chi đoàn.
VD:
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Chi đoàn 10 A Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NỘI QUY CHI ĐOÀN
1. Đến lớp phải đúng giờ quy định.
2. Phải học bài, làm bài đầy đủ trước khi đến lớp
3. Tổ trực phải vệ sinh phòng học sạch sẽ trước khi vào học.
4.Tác phong: quần, áo, đầu tócgiày dép, phù hiệu đúng qui định.
5. Giữ gìn vệ sinh phòng học. Không được nhả kẹo cao su xuống nền gạch.
6. Không được viết, vẽ trên tường, bàn ghế.
7. Không được đùa giỡn, chọc ghẹo, làm mất trật tự trong giờ học.
8. Nếu nghỉ học, phải báo cáo với GVCN (bất cứ lý do gì).
9. Đi học phải mang theo nội quy lớp.
Bí thư chi đoàn
Trần Văn A
Sau khi xây dựng xong nội quy lớp, BCH chi đoàn phổ biến trước lớp cho
tất cả học sinh đều biết và kí cam kết thống nhất thực hiện. Sau đó BCH chi
đoàn phát cho mỗi học sinh một bảng Nội quy và bắt buộc các bạn phải giữ bảng
Nội quy này và thường xuyên mang theo trong suốt năm học. Bên cạnh đó, ở
7. Ước mơ của em sau này làm gì: ……………………………………………
8. Ngoài giờ học em thường làm gì để giúp đỡ gia đình: ……………………
9. Trong học tập và trong cuộc sống em gặp phải khó khăn gì: ……………….
10. Những người bạn thân của em tên gì, học lớp nào: ………………………
11
Sau khi nắm được những thông tin của học sinh, Đoàn trường sẽ phân
luồng đối tượng, xem những học sinh nào có thể dẫn đến sa sút về học tập và sẽ
trở thành học sinh cá biệt sau đó lập sổ để theo dõi dành riêng cho những đối
tượng học sinh này.
Mẫu: SỔ THEO DÕI ĐVTN CÁ BIỆT
-Họ và tên học sinh: ……………………………., lớp ……
-Học lực, hạnh kiểm năm học trước: ……………………….
-Hoàn cảnh gia đình: ………………………………………
-Những biểu hiện của học sinh: …………………………….
PHẦN THEO DÕI
Tuần
Các hành vi vi phạm
(Đối chiếu với nội quy
lớp)
Hình thức
xử lý
(Ghi hình thức
xử lý)
Thái độ sửa chữa
(Có chấp hành kỹ luật hay
không, khắc phục khuyết điểm
không)
1
2
các học sinh khác trong lớp thường xuyên tiếp xúc để có biện pháp giúp đỡ bạn,
giúp các em sống trong môi trường đoàn kết, gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong bất
kỳ trường hợp nào. Phối hợp với GVCN có thể giáo dục các em bằng cách nêu
gương, điểm hình giúp các em tự nhận thấy những khuyết điểm của mình để
từng bước sửa chữa. BCH Đoàn nên gặp riêng từng học sinh để trao đổi, giải
thích cho các em hiểu những sai trái của mình để các em có hướng khắc phục,
không nên làm các em cảm thấy mặc cảm trước lớp.
4. Tạo sự gần gũi, quan tâm với ĐVTN
Tạo mối quan hệ gần gũi là thể hiện sự quan tâm đối với các em, nhưng
người thầy vẫn luôn giữ chuẩn mực, nghiêm khắc. Tiếp xúc tìm hiểu tâm tư
nguyện vọng của các em, nhằm để động viên, khích lệ tạo cho các em có được
chỗ dựa tinh thần vững chắc. Để các em thấy sự quan tâm của các thầy cô bên
đoàn trường như người cha, người mẹ, người anh, người chị của các em luôn dìu
13
dắt, nâng đỡ các em khi vấp phải những khó khăn trong học tập cũng như trong
cuộc sống.
Khi học sinh nghỉ học, dù có phép hay không phép, dù bất cứ lý do gì
những buổi học sau phải tiếp xúc để thăm hỏi các em, đôi khi cũng có những lý
do khá đặc biệt người thầy có thể chia sẽ với các em, làm cho các em cảm thấy
vui hơn khi được thầy cô quan tâm đến mình, từ đó những biểu hiện cá biệt dần
dần biến mất.
5. Công tác phối hợp.
Để giáo dục được những học sinh cá biệt, bản thân của mỗi đ/c trong
BCH Đoàn trường cần phải biết phối hợp kịp thời, linh hoạt với các bộ phận
trong nhà trường. Như phối hợp với giáo viên chủ nhiệm cung cấp cho giáo viên
chủ nhiệm danh sách những học sinh cá biệt để kịp thời hỗ trợ trong việc theo
dõi, nhắc nhỡ và xử lý những vi phạm của các em. Phối hợp với giáo viên bộ
môn, thông qua đó giáo viên có thể theo dõi thái độ học tập của các em ở từng
môn học để có hướng bồi dưỡng, rèn luyện thêm cho các em về kiến thức.
Phối hợp cùng hội Phụ huynh và công an xã thuộc địa bàn nhà trường
vi phạm
1. Đến lớp phải đúng giờ quy định.
2. Phải học bài, làm bài đầy đủ trước khi đến lớp
3. Tổ trực phải vệ sinh phòng học sạch sẽ trước khi vào
học.
4.Tác phong: quần, áo, đầu tóc, giày dép, phù hiệu.
5. Giữ gìn vệ sinh phòng học. Không được nhả kẹo cao
su xuống nền gạch.
6. Không được viết, vẽ trên tường, bàn ghế.
7. Không được đùa giỡn, chọc ghẹo, làm mất trật tự
trong giờ học.
8. Nếu nghỉ học phải báo cáo với GVCN…
9. Đi học phải mang theo nội quy lớp.
Sau đó bí thư, lớp trưởng nhận xét xem còn ai chưa báo cáo, hoặc báo cáo
không chính xác để GVCN hướng dẫn cách xử lý. Trong việc xử lý những học
sinh vi phạm phải đúng người, đúng tội theo Nội quy đã đề ra. Tránh trường hợp
vị nễ, xử bạn này nặng, xử bạn kia nhẹ làm mất đi tính nghiêm khắc, công minh
của Đoàn thanh niên. Những học sinh vi phạm phải chấp nhận hành vi vi phạm
15
của mình. Điều này thông qua sự báo cáo của BCS lớp phải thật sự chính xác
công bằng. Những hình thức kỹ luật đã đưa ra bắt buộc học sinh đó phải thực
hiện, bí thư chi đoàn không bỏ qua với bất cứ trường hợp nào. Làm được điều
đó sẽ giúp cho nề nếp lớp học đi vào khuôn khổ nhất định, rèn luyện cho các bạn
chấp hành tốt Nội quy trường, chi đoàn như vậy sẽ hạn chế tối đa trường hợp
học sinh có biểu hiện cá biệt tái phạm.
Ngoài việc xử lý học sinh vi phạm, bí thư chi đoàn cần phải có hình thức
biểu dương, khen thưởng, báo cáo lên BTV đoàn trường. Đây là hình thức rất có
thanh niên đã thống kê có 17 vụ gây xích mích đánh nhau, 2 trường hợp vô lễ
với giáo viên, 86 lượt nghĩ học vô lý do, những trường hợp vi phạm này đã được
xử lý nghiêm minh, trong đó có 2 học sinh đã phải áp dụng hình thức kỉ luật cao
nhất là buộc thôi học 1 năm. Đoàn thanh niên trường Quảng Xương 4 đã tham
gia tích cực vào việc quản lý nề nếp, với những biện pháp phù hợp của mình đã
giúp nề nếp nhà trường đi vào ổn định. Theo báo cáo tổng kết cuối năm, không
còn trường hợp vi phạm nào phải đưa ra hội đồng kĩ luật nhà trường. Đặc biệt,
những học sinh cá biệt nay đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, cố
gắng vươn lên trong học tập.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Đoàn thanh niên nhận nhiệm vụ làm công tác quản lý nề nếp học sinh, với
1269 ĐVTN quả là không dễ dàng, muốn số học sinh đó đều trở thành học sinh
ngoan, kết quả học tập tốt lại càng không dễ. Năm học nào cũng vậy, thầy cô
giáo làm công tác quản lý nề nếp là những người luôn đối mặt với biết bao khó
khăn, thử thách và mong muốn duy nhất là làm thế nào cho học sinh mình thành
đạt, sự nghiệp trồng người là tiếng vang suốt cuộc đời đối với các thầy giáo, cô
giáo…Hạn chế tối đa những trường hợp học sinh phải đưa ra Hội đồng kỷ luật,
vì nếu học sinh bị đình chỉ học tập hay bị ghi vào học bạ hạnh kiểm xấu nó sẽ
đeo đuổi suốt đời đối với các em mà bản thân những người làm công tác quản lý
nề nếp cũng thấy đau lòng trước những trường hợp như thế.
Chính vì những điều đó mà những người thầy, người cô đang phục vụ
trong ngành giáo dục, nhất là những người thầy, người đang ở độ tuổi Đoàn phải
ra sức nghiêm cứu học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đoàn hơn nữa, làm thế
nào để sản phẩm của mình tạo ra sẽ có ích cho xã hội. Thầy cô làm công tác
đoàn quản lý nề nếp học sinh, xem tổ chức Đoàn trường như là một mái ấm gia
đình thì sẽ cảm thấy có được niềm vui trong công tác. Tuy nhiên, thầy cô không
17
nên tập trung nhiều vào các đối tượng học sinh cá biệt mà hãy nghĩ đến cả một
tập thể với tình yêu thương thì nhất định sẽ gặt hái được nhiều thành công.
Giáo dục thế hệ trẻ để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước là nhiệm
Ngô Tiến Hà
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Quốc Bảo. “Quản lí nhà nước về GD và ĐT”. Tài liệu bài giảng
cao học QLGD.
2. Nguyễn Đức Chính. “Chất lượng và QL chất lượng trong GD”. Tài
liệu bài giảng cao học QLGD.
3. Nguyễn Minh Đường. “Bồi dưỡng và ĐT đội ngũ nhân lực trong điều
kiện mới”. Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX07-14, Hà
Nội 1996.
4. .Đỗ Ngọc Đạt. “Tiếp cận hiện đại hoạt động DH ở trường THPT”.
NXB ĐH QG Hà Nội, 1997.
5. Trần Kiều (chủ biên). “Đổi mới PPDH ở trường THPT”. Tài liệu tham
khảo cho GV. Viện KHGD, Hà Nội 1997.
6. Jean Marc Dénommé et Madeleine Roy. “Tiến tới một PP sư phạm
tương tác”. NXB Thanh niên, Hà Nội 2000.
7. Khalamop. “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào?”. NXB GD,
Hà Nội 2006.
19
20