MỤC LỤC
A/ Lí do chọn đề tài 2
B / N ội dung nghiên cứu.
I/Cơ sở lí luận của đề tài. 3
1)Tầm quan trọng của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học 3
2) Ý nghĩa của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD 3
3) Tìm hiểu chung về phương pháp giải quyết vấn đề. 4
II/ Thực trạng của vấn đề 7
III/ Giải pháp và tổ chức thực hiện 8
IV/ Kiểm nghiệm 13
C/ Kết luận và đề xuất 15
A/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
Môn GDCD là một môn học đặc thù đòi hỏi một phương pháp và cách thức
giảng dạy linh hoạt và sáng tạo,đặc biệt là chương trình lớp 10 vì thế việc
nghiên cứu và áp dụng một cách khoa học và đúng đắn các phương pháp mới
trong gảng dạy là một trong những yêu cầu thiết yếu và bí quyết thành công của
công tác giảng dạy môn GDCD.
Việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp mới trong giảng dạy môn giáo
dục công dân rất đa dạng và phong phú, mỗi phương pháp có một ưu thế và
nhược điểm riêng, mỗi bài học cần được nghiên cứu để áp dụng linh hoạt các
phương pháp khác nhau, hỗ trợ cho nhau, đặc biệt là trong chương trình GDCD
lớp 10, một chương trình học có rất nhiều kiến thức mới mẻ và trừu tượng nhiều
vấn đề đa dạng và phong phú trong đời sông hằng ngày thì càng cần có sự gia
công tỉ mỉ, hoạt động linh hoạt của giáo viên và học sinh trong đổi mới phương
pháp giảng dạy. Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi nhận thấy một trong các
phương pháp hữu hiệu để có thể áp dụng trong giảng dạy môn giáo dục công
dân ở lớp 10 là phương pháp “Đặt vấn đề”.việc áp dụng phương pháp này cung
với viẹc kết hợp các phương pháp khác có thể đem lại một kết quả khả quan cho
viẹc dạy và học.
qua tiến trình học sinh tự thực hiện và tham gia vào quá trình giáo dục như một
chủ thể thực sự. Hơn bao giờ hết, việc giảng dạy môn giáo dục công dân cần
đổi mới phương pháp giảng dạy một cách sáng tạo, đa dạng và triệt để, mới có
thể đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ trên.
3
Như vậy đổi mới phương pháp giảng dạy là một yêu cầu cấp thiết và quan
trọng, trong đó việc nghiên cứu và sử dụng đúng phương pháp cho từng phần
học và bài dạy là một nhân tố có tính quyết định cho việc giảng dạy có hiệu quả.
Chương trình GDCD lớp 10 là một chương trình tương đối khó đối với sự tiếp
cận của học sinh và việc giảng dạy của giáo viên, đặc biệt là sự lựa chọn phương
pháp phù hợp, cùng với cách thức tổ chức cho học sinh học tập, trong đó
phương pháp đặt vấn đề là phương pháp áp dụng tương đối hiệu quả, nhưng cần
có sự nghiên cứu và áp dụng khoa học.Chính vì lí do đó, qua thực tế giảng dạy,
đúc rút kinh nghiệm, tôi viết đề tài này với mong muốn cùng đồng nghiệp
nghiên cứu và áp dụng phương pháp đặt vấn đề trong giảng dạy môn GDCD lớp
10.Nếu chúng ta nghiên cứu và sử dụng thành thạo phương pháp đặt vấn đề thì
chắc chắn giờ dạy của chúng ta sẽ có hiệu quả hơn.
3) Tìm hiểu chung về phương pháp giải quyết vấn đề.
a) Khái niệm và tác dụng của phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp giải quyết vấn đề là cách đưa ra một luận điểm, một vấn đề, một
câu hỏi, để học sinh cùng giải quyết,bằng việc phân tích những vấn đề đang tồn
tại, xác định các bước nhằm cải thiện tình hình thông qua đó hình thành tri thức
cho học sinh, giúp các em vạch ra những cách thức giải quyết vấn đề, những tình
huống gặp phải trong đời sống hàng ngày.
Là một trong những phương pháp hữu hiệu trong sử dụng dạy học, có thể kích
thích sự say mê và khả năng sáng tạo, tính tích cực của học sinh, đưa học sinh
vào những tình huống thực tế, thông qua việc giải quyết vấn đề đặt ra mà giúp
học sinh hình thành kiến thức cho mình, cũng thông qua việc giải quyết vấn đề
mà học sinh thể hiện được quan điểm cá nhân của mình, qua đó giáo viên có thể
dễ dàng uốn nắn, định hình nhân cách sống và quan điểm sống cho các em.
+ Phưong pháp này giúp chúng ta có thể sử dụng công nghệ thông tin trong quá
trình dạy học một cách hiệu quả.
+ Rèn luyên được tư duy và cách tiếp cận vấn đề của học sinh
5
+ Rèn luyện được những kĩ năng và kĩ xảo trong quá trình tranh tranh luận giải
quyết vấn đề như biết trình bày quan điểm của mình biết lắng nghe ý kiến người
khác và chắt lọc tính chính xác của thông tin
- Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này cũng có một số lưu ý về
hạn chờ:
+ Việc xác định vấn đề đưa ra là vô cùng quan trọng: vấn đề phải có tính khái
quát, phù hợp với đối tượng học sinh với nội dung bài học
+ Hướng dẫn giải quyết vấn đề phải khoa học và toát lên được nội dung chính
của bài học hoặc vấn đề cần nói đến.
+ Tổ chức giải quyết vấn đề rất dễ làm mất nhiều thời gian vì thế giáo viên có
thể không chủ động được trong việc giảng dạy, dễ bị sa đà , cuốn theo học sinh
khó định hướng vào bài học
+ Tổ chức giải quyết vấn đề cần khoa học tạo được một không khí tích cực
trong giờ học,
c)Những lưu ý khi sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề
Để sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả chúng ta cần
chú ý các điểm sau:
Quá trình giải quyết vấn đề bao gồm các bước:
- Xác định (hay phát hiện) vấn đề là gì?
- Nêu những chi tiết có liên quan đến vấn đề.
- Nêu những câu hỏi có liên quan đến vấn đề và giúp cho giải quyết vấn đề:
ví dụ:
+ Vấn đề cơ bản là gì?
+Vấn đề xảy ra khi nào ?
+ Vấnđề xảy ra ở đâu?vv
- Kiểm tra xem xét tất cả các thông tin đã tập hợp được về vấn đề.
sở tôn trong jlẫn nhau, biết lắng nghe ý kiến của người khác vvv
II/ Th ực trạng của vấn đề
7
Vn ny thc t trng tụi cho thy nhiu vn rt ỏng quan tõm
Trc ht, l thc t ca cuc vn ụng i mi phng phỏp m nghnh giỏo
dc ó v ang tin hnh mt cỏch rng rói v ó thu c nhng kt qu thit
thc, trong ú phng phỏp gii quyt vn l mt phng phỏp tớch cc
rraats c chỳ ý. c bit l qua t tp hun v i mi phng phỏp ti
trng do chớnh ng chớ hiu trng nh trng truyn t, trong quỏ trỡnh ch
o chuyờn mụn, ban giỏm hiu nh trng luụn coi trng v cao vn i
mi phng phỏp, s dng cỏc k thut mi trong dy hc, ớch thõn ban giỏm
hiu ó gng mu i u trong vic s dng cỏc phng phỏp v k thut dy
hc tớch cc thụng qua cỏc tit thao ging mu v quỏ trỡnh ging dy trờn lp.
Cng xut phỏt t thc t ging dy ca tụi v d gi ng nghip núi chung
v trong mụn GDCD núi riờng, mc dự c trng ca mụn hc cho thy rt cn
i mi phng phỏp nõng cao hiu qu giỏo dc nhng vic ỏp dng i
mi phng phỏp, s dng nhng k thut mi trong dy hc c bit l phơng
pháp nêu và giải quyết vấn đề cũn nhiu mi m v b ng,lỳng tỳng,cn cú s
phi hp nghiờn cu v b tr thờm, ng thi cn c tin hnh mt cỏch ph
bin thng xuyờn hn. c bit hn, mt s ng nghip cũn coi nh vn
i mi phng phỏp dy hc, coi ú nh l mt vn mang tớnh phong tro,
ch dựng khi thao ging hoc trong mt vi hot ng chuyờn mụn cú tớnh ch
im hoc cú ỏp dng cng khụng em li hiu qu cao, hoc cng cú th do k
nng v thao tỏc cũn hn ch, s dng cụng ngh thụng tin cha thnh tho.
Thụng qua ti ny, tụi mun khng nh rng, vic s dng phơng pháp nêu
và giải quyết vấn đề l hon ton mang tớnh kh thi cao v cú th c ỏp dng
rng rói ph bin.
Qua trc tip ging dy trờn lp v trao i vi cỏc em mt thc t cho thy,
lõu nay, cỏc em rt ngi hc lớ thuyt, ngi chi chộp di dũng v c bit rt khú
khn trong vic tip thu kin thc mt cỏch th ng mt phớa bng s thuyt
sinh xỏc nh :
- Cỏc b mụn khoa hc m em bit ( hoc ang hc)
9
- Đối tượng nghiên cứu của từng bộ môn đó là gì?
- Mối liên quan giữa các bộ môn đó
Học sinh sẽ dần hình thành được các mối liên hệ giữa các môn học thuộc về
khoa học tự nhiên,khoa học xã hộivvv và đi đến một vấn đề chung đó là
liệugiữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có những đối tương nghiên cứu
nào là chung và môn khoa học nghiên cứu cái chung đó là gì?Trên cơ sở đó
chúng ta xây dựng về khái niệm về môn triết học và đối tượng nghiên cứu của
nó một cách khái quát.
Cũng trong bài này khi hình thành cho các em khái niệm về phương pháp luận
biện chứng và phương pháp luận siêu hình chúng ta có thể đặt vấn đề bằng chính
tư liệu tham khảo trong bài như câu chuyện thầy bói xem voi: Sau khi cho học
sinh đọc xong câu chuyện giáo viên có thể đặt vấn đề để học sinh thảo luận:
- Năm ông thầy bói đã xem voi theo cách nào?
- Những cách đó sai lầm ở chỗ nào?
- Nếu cần một cách xem đúng đắn ở đây thì đó là cách nào?
- Sự sai lầm của các ông thầy bói có những căn nguyên nào?
Giáo viên có thể định hướng cho học sinh giải quyết từng vấn đề một :
- Năm ông thầy bói xem voi theo cảm nhận chủ quan, thiếu sự phán đpán và
tổng hợp của các giác quan, thể hiện sự máy móc và cứng nhắc, phiến diện,
không có cái nhìn tổng quát.
- Sai lầm cơ bản của năm ông thầy bói là sự cứng nhắc, phiến diện, đánh đồng
một mặt, một tính chất của sự vật là toàn bộ sự vật đó, là sự bảo thủ quan điểm
chủ quan, không có sự tổng quát và phân tích
- Nếu cần một cách xem đúng đắn thì đó là cách quan sát con voi một cách tổng
thể, khái quát, nhìn thấy được mối quan hệ giữa các sự vật đó và mối quan hệ
của sự vật mình quan sát được với tổng thể sự vật là con voi, hoặc đó là sự xem
xét tiếp thu ý kiến của người khác để bổ sung tri thức cho mình, để có một kiến
sống phù hợp cho sự phát triển, xây dựng được những quan điểm sống sâu sắc
11
để các em dần nhận thức được rằng trong hàng loạt hành động sống chỉ có thể
có rất ít những hành động đem lại sự phát triển cho sự vật hiện tượng hay nói
khácđi là cho xã hội phát triển đó cũng là sự giáo dục ý thức cho học sinh một
cách cần thiết trước mỗi hành động của các em để đem đến sự phát triển cho
cuộc sống và xã hội
Trong bài :Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức: Khi hình
thành khái niệm về nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính chúng ta có thể đưa
ra một sự vật hiện tượng cụ thể nào đó ví dụ như nhúm muối ăn, một ít đường
hoặc một quả chanh, hay về một người bạn với vấn đề được đặt ra là: một học
sinh lớp 2 và một học sinh lớp10 sẽ có những nhận thức và phản ánh về sự vật
này như thế nào? bằng cách chia nhóm cho học sinh thảo luận và rút ra kết luận
chung:
- Ví dụ: với đối tượng là muối ăn ta sẽ gợi ý cho học sinh xây dựng thành hai
nhóm nhận thức ở hai đối tượng học sinh:
+ Học sinh lớp hai: muối là một loại chất có vị mặn, có hình hạt, màu trắng,
dùng để nấu thức ăn, muối dưa, cà vv những đặc điểm này được hình thành từ
quan sát, cảm nhận bằng giác quan như nhìn,nếm, qua hoạt động của mẹ, của bà
ở nhà ; Những tri thức này là sự phản ánh những thuộc tính, tính chất bên ngoài
bản thân sự vật hiện tượng,
+ Học sinh lớp 10: muối ăn là một hợp chất là sự kết hợp giữa hai nguyên tố hóa
học là Natri và Clo, có tính chất lí học là tinh thể rắn, hòa tan trong nước , tính
chất hóa học là có thể kết hợp với các hợp chất khác như AgNO3,điện phân
không màng ngăn tạo thành nước javen những tri thức này được hình thành từ
quá trình tư duy như thí nghiệm, phân tích so sánh, phán đoán ; Nó phản ánh
bản chất bên trong của sự vật hiện tượng
Tương tự như vậy, với đường hay những sự vật khác ta cũng có thể cho học
sinh tìm ra được sự khác nhau giữa nhận thức của học sinh lớp 2 và học sinh lớp
10
13
Nam có một tình cảm đạo đức trong sáng mạnh mẽ với những chuẩn mực đạo
đức tốt đẹp, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội
Hoặc bạn Nam sẽ lặng lẽ ra về không trả lại bác nông dân túi tiền vì đó là tiền
bạn bắt được không liên quan gì tới bác nông dân, vả lại bạn cũng đang rất cần
tiền để mua sách học. Trong cách xử lí này cũng sẽ xảy ra hai khả năng khác
nhau:
Một là: Khi trở về nhà, bạn Nam rất ân hận, day dứt về việc làm của mình, sự
ân hận đó sẽ nhiều hay ít, mạnh hay yếu là phụ thuộc vào mức độ của tình cảm
đạo đức ( sự chân thiện của con người) trong bạn Nam, sự ân hận day dứt có thể
đến cao độ để khiến bạn Nam sẽ đem túi tiền tìm cách trả lại cho bác nông dân
nọ. Việc làm này tuy hơi muộn những sẽ khiến cho bạn Nam không còn day dứt
nữa, bạn sẽ có được sự thanh thản của lòng mình. Điều này cũng chỉ xảy ra nếu
tình cảm đạo đức, ý thức đạo đức trong con người bạn tuy có lúc hơi sai lạc song
vẫn còn đủ mạnh để đánh giá và điều khiển hành vi của bạn một cách phù hợp,
hướng tới những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp
Hai là: Bạn Nam chỉ phân vân thoáng qua hoặc thậm chí không cần suy nghĩ,
bạn dùng số tiền đó để mua cuốn sách mình đang cần, trong khả năng này, cũng
có thể có nhiều trạng thái khác nhau, có thể mua xong sách, bạn Nam vẫn còn
băn khoăn day dứt, ân hận, đó là lúc trong bạn Nam vẫn còn những tình cảm đạo
đức đủ mạnh để đánh giá được hành vi của mình thậm chí sự ân hận này sẽ đi
theo Nam suốt cả cuộc đời. Và khả năng cuối cùng bạn không còn băn khoăn
điều gì vì về cơ bản bạn đã có cuốn sách mà bạn thích đó cũng là lúc tình cảm
đạo đức của bạn Nam không còn đủ mạnh, đủ năng lực để xét đoán và đánh giá
hành vi đạo đức của chính bạn, nếu một người nào đó rơi vào khả năng này, họ
sẽ không còn đủ năng lực để phân định được hành vi đúng, sai, phù hợp hay
không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, cũng không thể điều khiển hành vi của
mình phù hợp với chuẩn mực đạo đức và cũng không bao giờ biết day dứt trước
bất cứ một hành vi sai trái nào của bản thân, đó là sự báo động nghiêm trọng cho
đạo đức của một con người, hay nói khác đi đó là sự vô lương tâm - vô đạo đức.
Cũng bài học này nhưng khi không áp dụng phương pháp này hình thành kiến
thức bằng phương pháp bình thường ở lớp 10B thì kết quả là 78% học sinh hiểu
bài, có 55% học sinh thuộc bài ngay tại lớp, và 61% học sinh có hứng thú với
tiết học .Dĩ nhiên hai lớp này đều có trình độ ngang nhau và đều là lớp khoa học
tự nhiên, sự khác biệt về đặc tính riêng là không đáng kể.
Kết quả áp dụng trong việc giảng dạy các bài học khác cũng cho kết quả tương
tự.
Kết quả trên cũng được thể hiện trong chất lượng giảng dạy các lớp học của tôi
trong các năm học
Tôi đã dạy chương trình lớp 10 rất nhiều năm, song trước đây tôi chưa được
tiếp cận và thực hiện thành thục với phương pháp giải quyết vấn đề trong giảng
dạy học sinh, năm học 2011-2012 tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng
phương pháp này trong giảng dạy bộ môn ở lớp. Bước đầu đã đạt những kết quả
nhất định. Học sinh hứng thú hơn trong quá trình học tập, những kiến thức trong
bài đã được các em đưa ra vận dụng vào việc giải các bài tập tình huống ngày
càng linh hoạt hơn, mền dẻo hơn. Bên cạnh đó đạo đức của các em đã có những
biến chuyển tích cực, hiện tượng gây gỗ đánh nhau, gian lận trong thi cử, vô lễ
với giáo viên giảm hẳn. Học sinh tích cực hơn trong các hoạt động tập thể,
hoạt động từ thiện nhân đạo.
Qua bảng tổng hợp số liệu so sánh của năm học 2009-2010 khi chưa vận dụng
phương pháp giải quyết vấn đề và năm học 2011-2012, 2012- 2013 khi đã vận
dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong giảng dạy
Bảng tổng hợp kết quả ,số liệu so sánh
Bảng tổng hợp xếp loại học lực môn GDCD học sinh khối 10 trong 3 năm học.
STT Năm học
Xếp loại học lực
Tổng số
Học sinh
giỏi Khá Tb Yếu
TS % TS % TS % TS %
học đi cùng các em khi trưởng thành, đó chính là giá trị chân chính mà mỗi
người giáo viên chúng ta luôn tạo dựng và cũng là niềm hạnh phúc của mỗi
chúng ta
17
Trong thời gian qua, chúng tôi đã được Ban giám hiệu nhà trường nhà trường
động viên giúp đỡ tạo điều kieenh khuyến khích chúng tội học tập áp dụng
phương pháp mới trong giảng day, chúng tôi đã thực hiện rất có hiệu quả vấn đề
này và mong rằng trong thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục được động viên hỗ trợ
nhiều hơn ví dụ như::
- Cung cấp nhiều tài liệu, hình ảnh để làm tư liệu giảng dạy.
- Tạo điều kiện để có thể ứng dụng các công nghệ thông tin trong quá trình
giảng dạy
- Tổ chức nhiều cuộc hội thảo để trao đổi rút kinh nghiệm trong đồng
nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn
X¸c nhËn cña thñ trưởng ®¬n vÞ Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác
Thanh hóa ngày 13/ 5 / 2013
Người viết
Ph¹m ThÞ Lan 18
19
Xác nhận của thủ treởng đơn vị Thanh hoá ngày 13 tháng 5 nam 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung