BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP- THựC TRạNG HOạT ĐộNG CủA CÁC CÔNG TY CHứNG KHOÁN VIệT NAM THờI ĐIểM HIệN TạI - Pdf 27

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM THỜI ĐIỂM
HIỆN TẠI
Môn học: Thị trường chứng khoán
Nhóm 1
Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 10 năm thành lập đã có những
bước phát triển vượt bậc, đồng thời cũng có những bước ngoặt lớn trước
những biến đổi của nền kinh tế thế giới. So với các quốc gia có nên kinh tế
phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ nhưng không thể
phủ nhận sự ra đời của thị trường chứng khoán đã tạo một sân chơi mới cho
các nhà đầu tư, 1 kênh vốn mới cho những công ty, doanh nghiệp tại Việt
Nam. Tuy nhiên, sau khi trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ
cuối năm 2007, đầu năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua
những thay đổi lớn, chấm dứt thời kì hoạt động sôi động giai đoạn 2006-2007
và bước vào thời kì ảm đạm. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang trên đà phục
hồi, các công ty chứng khoán Việt Nam vẫn phải đối mặt với tình trạng kinh
doanh thua lỗ hoặc lợi nhuận chấp, chỉ số giá VN-index tuột dốc, số lượng
giao dịch giảm, nhà đầu tư rút lui khỏi thị trường… Trước những nguy cơ đó,
các công ty cần có những đánh giá kịp thời, đúng đắn để có những biện pháp
khôi phục lại hoạt động của mình, góp phần cải thiện tình hình hoạt động kinh
doanh trên thị trường chứng khoán, tạo cơ hội kinh doanh mới cho các công ty
và các nhà đầu tư.
Phần I. Lí thuyết
I. Khái niệm công ty chứng khoán
Ở Việt Nam, các công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn được thành lập hợp pháp tại VN và được Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh
chứng khoán

Công ty này mua bán chứng khoán có vốn lớn được luật pháp cho phép hoạt
động trên cả ba lĩnh vực trên.
4. Công ty dịch vụ đa năng (Multiervices Firm)
Những công ty này không bị giới hạn hoạt động ở lĩnh vực nào của
ngành công nghiệp chứng khoán. Ngoài ba dịch vụ trên, họ còn cung cấp cho
khách hang dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, niêm yết chứng khoán trên Sở
giao dịch chứng khoán, uỷ nhiệm các giáo dịch buôn bán cho khách hàng trên
thị trường OTC
5. Công ty buôn bán chứng khoán:
Là công ty đứng ra mua bán chứng khoán với chi phí do công ty tự
3
3
chịu. Công ty phải cố gắng bán chứng khoán với giá cao hơn giá mua vào. Vì
vậy loại công ty này hoạt động với tư cách là người uỷ thác chứ không phải
đại lý uỷ thác.
6. Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng
Loại công ty này nhận chênh lệch giá qua việc buôn bán chứng khoán, do
đó họ còn được gọi là nhà tạo thị trường, nhất là trên thị trường giao dịch OTC
IV. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán:
1. Môi giới
- Định nghĩa: Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh
mua, lệnh bán chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào
Sở giao dịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới.
- Quy trình môi giới gồm:
+ Mở tài khoản: CTCK phải làm thủ tục mở tài khoản giao dịch cho
khách hàng và hợp đồng ký với khách hàng có nội dung quy định tại các mẫu mà
các CTCK soạn sẵn cho khách hàng, các giấy tờ hợp pháp có liên quan.
+ Hợp đồng lưu kí và tài sản lưu kí: Để tạo thuận lợi cho các giao dịch
và tạo lợi thế (về thời gian và chi phí) cho khách hàng, các CTCK đều tư vấn

+ Nghiên cứu và tư vấn cho tổ chức phát hành về các thủ tục và phương
pháp phát hành, cơ cấu giá…
+ Thỏa thuận với các nhà bảo lãnh khác trong việc tiếp thị, phân phối
chào bán chứng khoán.
+ Quản lý phân phối và thanh toán chứng khoán.
+ Thực hiện các công việc hỗ trợ cho thị trường và dịch vụ sau khi phát
hành.
+ Đại lý phân phối chứng khoán.
4.Tư vấn
a. Tư vấn phát hành chứng khoán.
- Mục tiêu của tư vấn phát hành chứng khoán là giúp cho tổ chức phát
hành lựa chọn công cụ và phương thức phát hành chứng khoán có lợi nhất.
- Ý nghĩa của tư vấn phát hành chứng khoán là giai đoạn khởi đầu của hoạt
động “bảo lãnh phát hành” mà các tổ chức phát hành nhất thiết phải thực hiện.
b. Tư vấn đầu tư chứng khoán.
- Khái niệm: Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động tư vấn liên
quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa
ra lời khuyên có liên quan đến chứng khoán hoặc thực hiện một số công việc
có tích chất dịch vụ cho khách hàng.
- Tư vấn đầu tư bao gồm:
+ Tư vấn mua bán chứng khoán
+ Tạo dựng danh mục đầu tư
+ Quản trị điều hành tài sản đầu tư.

c. Tư vấn tài chính.
Nghiệp vụ tư vấn tài chính bao gồm:
5
5
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, thâu tóm sáp nhập doanh
nghiệp, tư vấn quản trị công ty cổ phần.

6
6
kì mới thành lập của thị trường chứng khoán tại Việt Nam (với 7 công ty
chứng khoán và 1 công ty quản lí quỹ).
Xin được nêu lên một số công ty chứng khoán lớn tại Việt Nam như sau:
* Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI):
- Thành lập vào ngày 30/12/1999, vốn điều lệ ban đầu là 6 tỷ đồng.
- Tính đến năm 2011, tổng số vốn điều lệ của công ty lên đến hơn 1700
tỷ đồng.
* Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long
- Thành lập vào ngày 20/5/2000 bởi Ngân hàng TMCP Quân đội, là 1
trong 5 công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam.
- Vốn điều lệ tính đến thời điểm hiện tại là 1200 tỷ đồng.
* Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt:
- Thành lập vào ngày 26/11/1999 với cổ đông sáng lập là Tổng công ty
Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt).
- Vốn điều lệ hiện tại: hơn 700 tỷ đồng
* Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Á Châu(ACBS):
7
7
- Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) là công ty TNHH 100%
vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu, được thành lập vào tháng 6/2000.
- Vốn điều lệ hiện tại: 1500 tỷ đồng
* Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam(AGR)
- Thành lập vào ngày 21/12/2000 theo Quyết định số 269/QĐ/HĐQT
của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank).
-Vốn điều lệ hiện tại: 2120 tỷ đồng
* Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
(VCBS)

+ Giảm thiểu chi phí: cắt giảm nhân sự, không dám mở rộng hoạt động,
đem tiền đi gửi ngân hàng lấy lãi thay vì đầu tư.
+ Xuất hiện hành vi thực hiện hoặc đứng ra làm trung gian cho việc bán
hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán (bán
khống) và cho khách hàng vay chứng khoán để bán khi chưa có văn bản pháp
luật hướng dẫn .
+ Chấp nhận phá sản, giải thể để chuyển sang mô hình hoạt động khác
hoặc ngành nghể kinh doanh khác.
+ Tìm kiếm các nhà đầu tư nước ngoài để vực dậy công ty, “săn lùng”
đối tác mua bán, sáp nhập (M&A) với một công ty hoặc tập đoàn khác để có
thêm được vốn, công nghệ, thương hiệu và những nhà đầu tư.
Tuy nhiên, với tình hình thị trường khó khăn và lãi suất ngân hàng cao
ngất như hiện nay, chi phí của các công ty chứng khoán tiếp tục tăng và
chuyện tiếp tục lỗ là điều rất có thể xảy ra.
a. Doanh thu, chi phí và tình hình kinh doanh của một số công ty
làm ăn thua lỗ và thuộc diện cảnh báo nguy cơ đóng cửa
10
10
Ví dụ: Nghiên cứu hoạt động của công ty cổ phần chứng khoán Sài
Gòn như sau:
Chúng ta cùng xem xét bảng báo cáo tài chính của công ty chứng
khoán SSI. Đây là công ty có thị phần môi giới lớn nhất trên sàn HOSE
theo số liệu thống kê quý I/2011.
• Cho giai
đoạn 6
tháng kết
thúc ngày
30 tháng 6
năm 2011
• Môi giới và dịch


Theo bảng báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2011 của công ty, -nhìn
vào bảng số liệu dễ có thể thấy doanh thu từ hoạt động môi giới nhỏ nhiều so
với hoạt động tự doanh. Điều này cho thấy SSI đã trở nên kém hứng thú với
dịch vụ môi giới và tập trung hơn vào nghiệp vụ tự doanh chứng khoán. Tuy
nhiên, theo các số liệu từ báo cáo, thì khoản lỗ từ hoạt động tự doanh rất cao,
gần 160 tỷ đồng.
Đồng thời, các chi phí phát sinh lien quan đến cung cấp dịch vụ trong
cả 2 lĩnh vực môi giới và tự doanh lớn hơn rất nhiều so với doanh thu, cho
thấy SSI trong 6 tháng đầu năm hoạt động không hiệu quả trong cả 2 nghiệp
vụ
41
0
Nguồn vốn chủ
sở hữu

411 Vốn đầu tư của
chủ sở hữu
3.511.117.420.000 3.511.117.42
0.000
41
2
Thặng dư vốn
cổ phần
340.921.476.378 340.921.476
.378
41
3
Vốn khác của
chủ sở hữu

12.356.677.000. đồng thời quỹ dự phòng tài chính và dự trữ pháp định cũng
giảm từ 289.383.181.436 xuống còn 220.524.469.842 Đây không chỉ là tình
trạng riêng của SSI mà là tình trạng chung của các công ty chứng khoán Việt
Nam trong thời điểm hiện tại. Đa phần các công ty chứng khoán cắt giảm quỹ
dự phòng để dồn vốn cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Việc giảm
quỹ dự phòng tài chính và dự trữ pháp định dẫn đến 1 hệ lụy khác. Đó là khả
năng gánh chịu của công ty chứng khoán khi có tổn thất sẽ giảm xuống tỷ lệ
thuận với mức giảm quỹ dự phòng tài chính và ảnh hưởng rất xấu đến hoạt
động của mạng lưới công ty chứng khoán cũng như của thị trường
b. Nhận xét:
Thực tế, việc hàng loạt công ty chứng khoán báo cáo kết quả kinh
doanh thua lỗ không phải là điều mới mẻ, kết cục này đã được các chuyên gia
phân tích dự báo từ vài năm trước với những lý do hết sức đơn giản và dễ
hiểu:
Trước hết là trong bối cảnh kinh tế vĩ mô chưa ổn định, TTCK giảm sút,
số đông các nhà đầu tư từ lâu đã không còn mặn mà với việc đầu tư trên sàn
chứng khoán nên rút vốn chuyển hướng đầu tư sang các lĩnh vực khác như vàng,
bất động sản… đã khiến doanh thu từ hoạt động tư vấn – môi giới, vốn được coi
là nguồn thu chính của các công ty chứng khoán, sụt giảm mạnh.
Nguyên nhân thứ hai là do hầu hết các công ty chứng khoán đều đẩy
mạnh hoạt động tự doanh chứng khoán trong bối cảnh thị trường sụt giảm
mạnh trong thời gian dài khiến cho các công ty chứng khoán lâm vào cảnh
khó khăn hoặc thua lỗ.
Lý do thứ ba là số lượng công ty chứng khoán quán nhiều (105 công ty)
so với quy mô của TTCK Việt Nam. Lẽ tất nhiên, khi thị trường sụt giảm,
phần lớn lợi nhuận sẽ thuộc về những công ty chứng khoán có quy mô vốn lớn
và đã tạo dựng được uy tín, phần lợi nhuận ít ỏi còn lại không đủ chia đều cho
những công ty có quy mô vốn nhỏ nên hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó
khăn thậm chí thua lỗ là điều dễ hiểu.
c. Một số Công ty chứng khoán hoạt động có lãi trong 6 tháng đầu

- Tiết giảm chi phí
Bên cạnh định hướng chiến lược kinh doanh phù hợp, các công ty này
còn nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc cắt giảm và hạn chế các chi
phí không cần thiết, ttiết giảm hợp lý các chi phí, áp dụng hệ thống quản lý
văn phòng điện tử.
5.Giải pháp:
* Về phía nhà nước:
- Nghiên cứu điều chỉnh các chính sách đối với thị trường chứng khoán
và các công ty chứng khoán:
- Hoàn chỉnh hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động
kinh doanh; Mở rộng các kênh thông tin cho nhà đầu tư; Đầu tư cơ sở hạ tầng
công nghệ kỹ thuật; Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và tổ chức
nước ngoài; Áp đặt biện pháp nhằm tránh hiện tượng đầu cơ thao túng thị
trường; Áp thuế thu nhập từ chứng khoán một cách hợp lý; Phát huy vai trò
của UBCKNN; Kiên quyết xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm.
*Về phía các công ty chứng khoán Việt Nam:
14
14
- Về nguồn vốn (chủ yếu đối với các cty vừa và nhỏ): Nâng cao vốn chủ
sở hữu bằng cách hợp nhất, sáp nhập, kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài
nước. Đảm bảo khả năng kinh doanh và sinh lời.
- Về nhân lực và công nghệ: Nâng cao khả năng chuyên môn từng bộ
phân; Xem xét lại cơ cấu tổ chức lãnh đạo điều hành; Nâng cấp công nghệ.
- Về nghiệp vụ tư doanh:Nâng cao khả năng kinh doanh của CTCK;
Xem xét lại các khoản mục đầu tư; Tận dụng lợi thế thông tin để nâng cao
chất lượng hoạt động đầu tư.
- Về nghiệp vụ môi giới chứng khoán: Cung cấp thông tin đầy đủ và kịp
thời; Có chính sách thích đáng về chi phí môi giới; Mở thêm các dịch vụ giá
trị gia tăng.
- Về nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán:Xây dựng đội ngũ nhân viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status