Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM CẢI
THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT
NAM THỜI KỲ HẬU WTO
(GIAI ĐOẠN 2007-2010)
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ MỸ HẰNG
SINH VIÊN NGHIÊN CỨU: VÕ BẢO SIÊU VIỆT
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
1
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
CAO LÃNH, 03/2010
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Trong một nền kinh tế thị trường mở, thương mại quốc tế trở thành phổ biến, việc
thanh toán giữa các quốc gia với nhau phải sử dụng tiền tệ của nước này hay nước
khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ như vậy, các quốc gia phải dựa vào tỷ giá
hối đoái.
Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều
tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu đã định trước của một quốc gia. Việc
thay đổi tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực, các doanh nghiệp có thu chi ngoại tệ
từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái không chỉ có tác động đến
giá cả hàng hóa trong nước, mà còn tác động rất lớn đến xuất nhập khẩu hàng hóa,
cũng như đến xuất nhập khẩu vốn.
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã nỗ lực để phát triển xuất khẩu, cải thiện
cán cân thanh toán do nhập siêu vẫn còn ở mức cao, giảm gánh nặng nợ vay nước
quản lý tỷ giá hối đoái, (2.) Cán cân thương mại, (3.) Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ
giá và cán cân thương mại, (4.) Quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, và (5.)
Các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
4. Kết cấu đề tài:
Đề tài kết cấu gồm 5 phần:
• Phần 1: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại.
Phần 2: Kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng chính sách tỷ giá nhằm cải thiện
cán cân thương mại.
• Phần 3: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái- Cán cân thương mại và Thực trạng việc
điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam.
• Phần 4: Một số đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý tỷ giá nhằm cải thiện cán cân
thương mại.
Phần 5: Kết luận.
Cuối cùng là phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo.
Khái luận:
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 là sự phát triển và lan tỏa
của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và còn tiếp tục diễn ra trong
năm 2010. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các
nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Mặc dù
Việt Nam đã chuyển hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của
nền kinh tế Việt Nam theo cam kết của WTO là khá cao nhưng còn chịu tác động
bất lợi trên cả 3 bình diện: thương mại, đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều
thách thức. Năm 2008, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam chiếm 30%
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
3
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
tổng đầu tư, đầu tư gián tiếp qua các kênh trái phiếu chính phủ, thị trường chứng
khoán chiếm tỉ trọng khá cao (39% trái phiếu và 25% tổng mức vốn hoá của thị
trường), nhưng đã có dấu hiệu suy giảm do khủng hoảng. Báo động đối với Việt
nước và chưa tính đến sức mua của đồng tiền.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
4
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
TGHĐ thực là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo giá tương đối
giữa các nước. Tỷ giá này tăng lên đồng tiền trong nước được coi là bị giảm giá
thực so với đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước
được coi là bị tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài.
TGHĐ hiệu quả thực là tỷ giá được điều chỉnh theo một số các tỷ giá thực
của các nước đối tác thương mại. Tỷ giá này được xem là thước đo hữu hiệu khả
năng cạnh tranh của một nước trong quan hệ thương mại với các nước khác bởi nó
xét đến tỷ giá thực giữa đồng tiền của một nước với nhiều nước tham gia trao đổi
thương mại với nước đó.
TGHĐ thực cân bằng là mức tỷ giá mà tại đó nền kinh tế đồng thời đạt cân
bằng bên trong (cân bằng trên thị trường hàng hoá phi mậu dịch) và cân bằng bên
ngoài (cân bằng tài khoản vãng lai). Tỷ giá thực cân bằng có mối quan hệ mật thiết
với các biến số kinh tế khác, nó thể hiện độ nhạy của các biến kinh tế đối với chính
sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là trong ngắn và trung hạn.
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái:
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Nhưng nhìn chung, có bốn yếu tố chính tác động đến tỷ giá. Đó là mối
quan hệ cung cầu về ngoại tệ, chênh lệch về lãi suất, lạm phát giữa các nước và tâm
lý số đông.
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự
biến động của tỷ giá hối đoái. Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều
yếu tố khác nhau trong đó có cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán
quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và
ngược lại. Sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguồn
cung và cầu ngoại tệ cấu thành nên cán cân thanh toán quốc tế. Khi nền kinh tế có
động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào
tương lai. Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng
của dân chúng trong tương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng
trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện
tại; Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhậy cảm với thông tin cũng như các chính sách của
chính phủ. Nếu có tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối
đoái sẽ giảm nhanh chóng.
4. Diễn biến của tỷ giá trong thời gian qua và nguyên nhân:
Những năm qua, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã rất thành công trong
việc điều hành chính sách tỉ giá hối đoái. Trong khi giá trị các đồng tiền so với Đôla
Mỹ thay đổi thất thường thì tỉ giá USD/VND vẫn luôn ổn định. Điều này không
những góp phần vào sự ổn định hệ thống tài chính trong nước mà còn tạo ra sự ổn
định môi trường kinh tế nhất là xuất khẩu.
NHNN đang áp dụng chính sách tỉ giá thả nổi nhưng có sự điều tiết của
Nhà nước. Kể từ năm 1999, NHNN đã duy trì một biên độ biến động hàng ngày là
+/-0,25% so với đồng đôla. NHNN can thiệp vào thị trường chủ yếu thông qua các
hoạt động trên thị trường mở.
4.1 Năm 2007
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
6
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
Khi mới chuyển đổi, mở cửa, hội nhập, tỷ giá VND/USD khá cao, có thời
gian đã lên đến 16.000 VDN/USD (vào cuối năm 1991), năm 1992 đã giảm mạnh
và sau đó chỉ tăng, giảm nhẹ. Chỉ trừ năm 1997- 1998, do tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ ở khu vực mà tỷ giá tăng cao, còn các năm từ đó cho đến
nay chỉ tăng nhẹ.
Trong mấy năm trước, tỷ giá VND/USD thường khá ổn định, biến động
thấp. Nếu so tháng 12 năm nay với tháng 12 năm trước thì năm 2004 tăng 0,4%,
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
EximBank, tỷ giá ngày 17/12 là 16.035đ- 16.038đ, đến 20/12 tăng lên 16.045đ-
16.050đ.
Tính chung 6 tháng cuối năm 2007, tỷ giá VND/USD đã giảm 0,12. Điều
đó có nghĩa là, dù so gần hay xa, thì giá USD vẫn tăng rất thấp so với giá tiêu dùng
và giá vàng. Đặc biệt là giá USD lại đang trong xu thế giảm!
Lý giải tình hình trên, các chuyên gia đã đưa ra bốn nguyên nhân chủ
yếu.
Thứ nhất, kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục với tốc độ cao hơn là tiền
đề quan trọng để đồng tiền lên giá so với các đồng tiền khác (bình quân năm thời kỳ
1996- 2000 tăng 7%, thời kỳ 2001- 2007 tăng trên 7,6%, trong đó 2 năm nay tăng
trên 8%). Khi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn thì đồng tiền lên giá là tất yếu.
Thứ hai, cùng với tăng trưởng kinh tế cao và liên tục, với chủ trương chủ
động mở cửa, hội nhập, hiện có một lượng ngoại tệ lớn chảy vào nước ta từ nhiều
nguồn:
- Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2007 đã đạt kỷ lục cả về
lượng vốn đăng ký (10,2 tỷ USD, gồm đăng ký mới và bổ sung), cả về lượng vốn
thực hiện (4,1 tỷ USD).
- Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) năm 2006 cũng đạt kỷ lục
về lượng vốn cam kết (4,45 tỷ USD) và là năm thứ hai liên tục thực hiện vượt mức
kế hoạch (1,81 tỷ USD).
- Nguồn kiều hối (bao gồm của Việt kiều và số tiền do lao động xuất khẩu)
gửi về nước đạt mức kỷ lục (khoảng 4,7 tỷ USD).
- Chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam năm nay cũng đạt kỷ lục (ước
đạt trên 2,8 tỷ USD).
- Kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục (trên 39,6 tỷ USD).
- Lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán hiện
cũng đạt khoảng 4 tỷ USD, chiếm khoảng 28,6% tổng giá trị vốn hoá thị trường
chứng khoán của Việt Nam.
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 6T-
2008
Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(tỷ
USD)
Vốn đăng ký Vốn giải ngân
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
Thứ ba, đồng USD giảm giá so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới,
như 1 USD hiện chỉ đổi được dưới 0,76 Eur, 0,51 Bảng Anh; giảm giá so với một
số đồng bản tệ của các nước, như 1 USD hiện chỉ đổi được 7,72 CNY (Nhân dân
tệ), 9,35 Won Hàn Quốc, 35,6 Baht Thái Lan,...
Thứ tư, có một nguyên nhân quan trọng nhưng khá trừu tượng mà không
phải ai cũng để ý đến, đó là “cánh kéo tỷ giá” giữa tỷ giá hối đoái và tỷ giá sức mua
tương đương. 1 USD tại Việt Nam có sức mua vào khoảng 4,3 USD tại Mỹ.
Điều này lý giải tại sao GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2007
tính theo tỷ giá hối đoái chỉ đạt 725,3 USD, nhưng nếu tính theo tỷ giá sức mua
tương đương đạt khoảng 3.118 USD. Điều đó cũng giải thích tại sao nước Mỹ nhập
siêu lớn từ các nước đang phát triển, trong khi lại đầu tư (cả trực tiếp và gián tiếp)
vào các nước này.
Ngoài ra, chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán phi mã liên tục
đạt kỷ lục và hút một lượng vốn lớn cũng giảm áp lực tăng giá USD.
Những nguyên nhân trên cũng lý giải tại sao từ đầu năm, Ngân hàng Nhà
nước quyết định mở rộng biên độ giao dịch USD từ 0,25% lên 0,5%, nhưng tỷ giá
vẫn không lên mà còn giảm.
4.2 Năm 2008:
Bước sang năm 2008, tỷ giá VND/USD có sự biến động khác với các năm
trước. Sự khác nhau thể hiện ở một số điểm sau đây.
Một là, biến động nhiều hơn: giảm liên tục trong 3 tháng đầu, tăng liên tục
trong 3 tháng sau. Nếu trong 3 tháng đầu, người có USD muốn bán cũng rất khó
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
tệ/USD tháng 1-2005 đến tháng 4-2008. (Nguồn Dragon Capital)
Thế nhưng, từ tháng 9 trở lại nay, tỷ giá VND/USD liên tục tăng cao lên
mức cao nhất là 16.998 VND/USD. Dù Ngân hàng Nhà nước kịp "nới" biên độ tỷ
giá và can thiệp bán ra nhưng hiện tại, vẫn giao dịch theo mức giá trên 16.985
VND/USD. Còn trên thị trường tự do, tỷ giá đã thiết lập trên mốc 17.000
VND/USD từ khá lâu.
Giải thích sự biến động này, ông Nguyễn Mạnh, Giám đốc Nguồn vốn
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho rằng, nếu như trong quý
1/2008, tỷ giá giảm là do lượng kiều hối dồn về nhiều từ cuối 2007 đến tháng
2/2008, áp lực từ việc nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu Chính phủ khoảng 1,4
tỷ USD, doanh nghiệp xuất khẩu vay USD chuyển đổi ra VND sản xuất kinh doanh,
các Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) bán USD để trạng thái đoản, thì đến quý 2,
tỷ giá tăng là hệ quả của nhiều yếu tố khác.
Trước hết, thâm hụt cán cân thương mại lớn (7,22 tỷ USD trong 3 tháng từ
tháng 4 - 6); nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả doanh nghiệp xuất và
nhập khẩu đến hạn cao; tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong
nước và quốc tế.
Tiếp theo, nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc
bán trái phiếu Chính phủ ròng chuyển ngoại tệ về nước. Thống kê của Tổ nghiên
cứu của BIDV cho thấy, chỉ trong tháng 9 và 11/2008, khối đầu tư nước ngoài đã
bán ròng 0,7 tỷ USD trái phiếu Chính phủ và 100 triệu USD cổ phiếu các loại.
Bên cạnh đó, nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài vẫn cao,
ước khoảng 40 triệu USD/ngày.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
11
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
Ngoài ra, do tâm lý bất ổn của cả doanh nghiệp và người dân khi tỷ giá
tăng nhanh dẫn tới hiện tượng găm giữ ngoại tệ. Mặt khác, một lý do khiến cung
ngoại tệ thấp là Ngân hàng Nhà nước ban hành QĐ 09/2008/QĐ, không cho phép
là do các yếu tố sau đây.
Thứ nhất, do sự can thiệp, chấn chỉnh và kiểm soát của Ngân hàng Nhà
nước đối với các đại lý thu đổi ngoại tệ, làm cho các đại lý này mang tính chuyên
nghiệp và hoạt động đúng pháp luật.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
12
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
Thứ hai, do cán cân thanh toán tổng thể tiếp tục thặng dư, tính thanh khoản
của quốc gia được cải thiện. Nhập siêu đã có xu hướng giảm, khả năng cả năm có
thể chỉ ở mức trên dưới 20 tỷ USD, không đến mức 30 tỷ USD như dự đoán của
một số tổ chức quốc tế.
Lượng ngoại tệ vào nước ta từ các nguồn tiếp tục tăng mạnh. FDI thực hiện
6 tháng ước 5 tỷ USD, tăng 37,5%, khả năng cả năm có thể đạt 11 tỷ USD, tăng 3 tỷ
USD so với năm trước. ODA giải ngân 6 tháng ước đạt 1,1 tỷ USD, khả năng cả
năm có thể đạt trên 2 tỷ USD, tăng so với năm trước.
Kiều hối cả năm có thể đạt trên 8 tỷ USD, tăng khoảng 2 tỷ USD so với
năm trước. Chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam 6 tháng ước đạt 1,95 tỷ USD,
tăng 14% so với cùng kỳ, khả năng cả năm có thể đạt trên 4 tỷ USD, tăng gần 1 tỷ
USD so với năm trước.
Đầu tư gián tiếp năm trước vào mạnh (ước đạt 6,2 tỷ USD), 6 tháng đầu
năm bị sút giảm mạnh, nhưng khi thị trường bất động sản bị lạnh, giá giảm mạnh,
chính sách tiền tệ bị thắt chặt, nên nhiều nhà đầu tư trong nước buộc phải đẩy mạnh
bán ra và giá trên thị trường chứng khoán đã xuống mức quá thấp, nay có dấu hiệu
phục hồi, nên đã hấp dẫn các quỹ đầu tư quốc tế đưa mạnh tiền vào.
4.3 Năm 2009:
Tỷ giá chính thức giữa USD và VND trong năm 2009 đã trải qua hai lần
điều chỉnh, một lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và
lần gần nhất là vào tháng 11 (+3,4%).
Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng
6,5 tỷ USD.
Trong hai ngày 13 và 14/10, các ngân hàng thương mại cũng điều chỉnh
tăng giá USD kịch trần biên độ cho phép. Trong khi đó, tỷ giá tại chợ đen lại “khá
bình thản” và chỉ quanh quẩn ở mức 18.230 – 18.300 đồng cho một USD (mua –
bán).. Tỷ giá liên ngân hàng do NHNN công bố ngày 13/10 là 17.003 đồng, trong
khi ngày 30/ 9 chỉ ở mức 16.991 đồng cho một USD. Đến cuối tháng 9, tỷ giá bình
quân liên ngân hàng đã tăng 0,08% so với cuối năm 2008.
Trong ngày 14/10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được công bố là 17.002
đồng, giá mua và bán USD tại các ngân hàng thương mại được NHNN cập nhật là
17.852 đồng, lùi 1 đồng so với hôm 13/10 nhưng vẫn ở mức cao kỷ lục. Lần đầu
tiên tỷ giá bình quân liên ngân hàng chạm mốc 17.000 đồng vào ngày 10/10 vừa
qua, với các mức tăng 2 – 3 đồng liên tiếp từ cuối tháng 9.
Theo giới chuyên gia, xu hướng niêm yết cùng một mức giá cho cả ba giao
dịch phần nào cho thấy nhu cầu mua USD của ngân hàng vẫn rất lớn. Doanh nghiệp
xuất khẩu chưa mạnh tay bán USD cho ngân hàng do còn lo ngại những biến động
nhất định trên thị trường.
Theo Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc NHNN Chi nhánh TP.HCM, nhà xuất
khẩu đã bán USD cho ngân hàng thay vì găm giữ trên tài khoản như trước. Giá mua
USD tại các ngân hàng đã được đẩy lên cao cũng khuyến khích doanh nghiệp bán
USD. Với nhà nhập khẩu, nhu cầu vay vốn bằng USD ở mức cao.
Đại diện DongA Bank cho biết, dư nợ cho vay bằng USD của ngân hàng
này đạt trên 181 triệu USD, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ cầu. Dẫu vậy, lượng ngoại
tệ mà các ngân hàng thu được vẫn rất hạn chế do không ít doanh nghiệp xuất khẩu
còn kỳ vọng tỷ giá sẽ còn lên nữa mới tiếp tục bán ra.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
14
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
Đây cũng là lý do được giới chuyên gia lý giải cho việc tỷ giá liên ngân
hàng liên tục phải được điều chỉnh tăng. Các ngân hàng thương mại có điều kiện để
trong hai tuần, giá vàng đã tăng 5,3% và trong 6 tháng qua tăng 21,7%.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, từ nay đến cuối năm, nếu đồng USD vẫn
yếu đi thì giá vàng có thể sẽ tiếp tục tăng. Hơn nữa, thị trường kim loại quý còn
chịu ảnh hưởng từ động thái của các quỹ đầu tư với hoạt động chốt lời và cắt lỗ. Giá
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
15
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
vàng thường lập những đỉnh cao mới trước mùa lễ hội khi nhu cầu mua vàng trang
sức tại các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ tăng cao.
4.4 Năm 2010:
Những tháng đầu năm 2010, tình hình biến động tỷ giá vẫn đang trên chiều
hướng gia tăng. Giá trị VND liên tục bị sụt giảm so với USD, do đó nhập siêu có
dấu hiệu giảm nhiệt từ mức trên 2 tỷ USD xuống dưới 1 tỷ USD. Tỷ giá VND/USD
được điều chỉnh 2 lần trong thời gian gần đây, lên mức giá trần là 19.100
VND/USD vào 11/2/2010. Với mức tỷ giá cao hơn nên các nhà nhập khẩu sẽ phải
tính toán kỹ hiệu quả. Tính đến ngày 31/3, 1USD = 18.544 VND.
Nguyên nhân của tình trạng căng thẳng tỷ giá hiện nay:
VND đã chịu sức ép giảm giá so với USD trong một thời gian dài. So với
đầu năm 2007, VND đã tăng giá khoảng 20% so với USD tính theo tỷ giá hiệu dụng
thực, trong đó nguyên nhân chính là do lạm phát (đo bằng CPI) ở Việt Nam trong
hai năm 2007 và 2008 rất cao, lần lượt là 12,7% và 20%.
Đáng lưu ý là trong năm 2009, mặc dù CPI ở mức thấp (6,52%) nhưng sức
ép giảm giá VND vẫn được duy trì, lần này là do thâm hụt cán cân thanh toán. Nhìn
vào số liệu, có thể thấy cán cân thanh toán của Việt Nam đã thặng dư lớn trong năm
2007 (+10,2 tỷ USD), tuy nhiên mức thặng dư này đã giảm mạnh trong năm 2008
(chỉ còn + 0,5 tỷ USD), và chuyển sang thâm hụt (-5,7 tỷ USD) trong ba quý đầu
năm 2009.
Câu hỏi cần được trả lời là những nguyên nhân nào làm cho tình trạng
thâm hụt cán cân thanh toán ngày một trở nên trầm trọng?
giảm giá VND, tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại hối, và việc giá vàng liên
tục leo thang khiến các doanh nghiệp càng có thêm động cơ để găm giữ USD và
vàng.
Nói cách khác, chính sách của nhà nước cùng với tâm lý của thị trường làm
doanh nghiệp và hộ gia đình chuyển danh mục tiền tệ từ VND sang USD và vàng,
được thể hiện rõ qua trạng thái nắm giữ VND giảm và USD tăng trong hệ thống
ngân hàng thương mại.
II. Cán cân thương mại (CCTM)
1. Định nghĩa:
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân
thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và
nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm)
cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh
lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh
lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng
0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư
thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Hằng SVNC: Võ Bảo Siêu Việt
17
Tỷ giá hối đoái – Cán cân thương mại của Việt Nam hậu WTO
(Giai đoạn 2007-2010)
mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng
dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng
nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu
biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu.
Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng
dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa