CẢNH SẮC THIÊN NHIÊN VÀ TÂM TÌNH HÀN MẶC TỬ TRONG
“ĐÂY THÔN VĨ DẠ”
* * *
Một văn hào nổi tiếng trên thế giới đã có một lời đầy triết lý, “muốn viết, phải biết mùi đau khổ”.
Điều kiện ấy, mọi chúng ta đều biết, Hàn Mặc Tử có thừa. Nhà thơ của chúng ta đã trải qua quá nhiều đau
khổ - trước hết cũng phải nói đến nỗi khổ chung của dân tộc thuở ấy đang còn là “vong quốc chi nô” mà
Hàn là một con người có tâm hồn yêu nước ngay từ thuở còn là thiếu niên, mang trong mình cái “gien”
chung của mọi con người Việt Nam, lại được sự bồi dưỡng ngay từ lúc mới bắt đầu biết suy nghĩ, nhờ nhà
chí sĩ Phan Bội Châu mà Hàn có may mắn làm quen và có quan hệ thơ văn thuở Cụ là “Ông già Bến
Ngự”. Nhưng điều đáng chú ý lại còn là nỗi đau khổ của riêng người: Hàn đã mắc phải một trong “tứ
chứng nan y”, mà lại là thứ “nan y” nhất. Ác nghiệt hơn nữa là căn bệnh làm cho người bệnh không sống
được trong cuộc sống bình thường. Là một thanh niên đang độ đắm say trong cuộc “sống xã hội” mà bị
cách ly với xã hội, yêu quý gia đình vô vàn, nhất là mẹ, mà phải cách ly với gia đình, với mẹ, tha thiết yêu
đương mà phải cách ly với con người, cả người yêu chung thủy suốt cả đời, dù Hàn bệnh tật… Đau xót
nhất là đang tuổi xuân xanh tràn đầy sức sống, mà phải sống trong cái cảnh không biết sống chết ngày
nào, thậm chí giờ phút nào, trong thân hình “tàn rữa” vì bệnh tật. Chung cuộc, một con người tài hoa, son
trẻ, đang “độ xuân thì” mà phải lìa cõi đời khi mới hai mươi tám tuổi! Nói như Hoài Thanh “Tôi thường
nghĩ đến cảnh người phải lấy bì thư và giấy nhật trình che mái nhà cho đỡ dột. Những bữa cơm đưa đến
người thường không ăn nổi vì kham khổ quá. Chính cảnh cơ hàn và chứng bệnh kinh khủng ấy đã bắt
người phải chịu bao nhiêu phũ phàng của số phận, bị đẩy riêng đến một nơi xa cuộc đời, xa hết thảy mọi
người thân thiết. Bao nhiêu năm người bó tay nhìn thể phách và linh hồn của mình tan rã.”
Nhưng trong cái đau khổ riêng ấy, vượt qua tất cả các mức đau khổ của con người, Hàn vẫn ra sức
phấn đấu để sống, sống mãnh liệt – Càng cảm thấy mình chết đến nơi, lại càng ra sức sống, càng sống một
cái sống nồng cháy, nóng bỏng hơn, với hồn thơ của mình, với thơ của mình! Có thể nói là sống gấp bội
lên trong tâm hồn trên cái thể xác đang chết dần mòn “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim,
bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui,
buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống” (Hàn Mặc Tử)
Và nói như A.Musset:
Tuyệt vời là khúc thương tâm
Biết bao tiếng nấc thành ngâm muôn đời
Trong đời, có những điều không giải tỏa được con người tìm đến thơ. Thơ đối với Hàn trong những
Quy Nhơn theo gia đình về Huế. Tuy không gặp lại nhưng: “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, - Ngàn năm
hồ dễ mấy ai quên.” (Thế Lữ)
Rồi Hàn được gia đình đưa đi lánh bệnh ở nhiều nơi thuộc tỉnh Bình Định: Xóm Động, Xóm Tấn, Gò
Bồi, Ghềnh Ráng, có nơi chỉ là túp lều chơi vơi, trống trải ngoài đồng hoang bãi vắng. Bệnh càng nặng,
đau khổ càng chồng chất. “Những năm 1938-1939, nhất là năm 1939, anh đau dữ dội hơn hết. Tâm trạng
anh biến đổi nhiều qua thơ anh. Giai đoạn này anh sống nửa mơ nửa thực, thường hay xuất thần không
biết gì. (Theo hồi ký của Nguyễn Bá Tín). “Trong túp lều tranh xơ xác, dưới cây phượng vĩ tàn tạ, bên bờ
biển hoang vắng mà hai trạng thái tâm hồn hoàn toàn khác biệt nhau tùy theo cảm hứng. Tâm trí anh từ
ngày đau nặng, vẫn mơ ước thoát khỏi thân tàn ma dại, khỏi không gian và thời gian”, chàng nhận được
bức bưu ảnh của người xưa: “thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte visite.
Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay
ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử rồi nhờ Ngâm trao
lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ và một bài khác nữa do Ngâm gửi về… ”.
(Kim Cúc)
Câu chuyện giúp ta hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác, nhưng bài thơ không phải là minh họa cho tấm bưu
ảnh. Điều đặc biệt là không khí trong sáng, dịu dàng của tác phẩm hoàn toàn tương phản với căn bệnh
ngặt nghèo đang vào thời kỳ cuối của tác giả, lúc đó. Vậy thì, Vĩ Dạ kia vừa là một địa chỉ cụ thể, đồng
thời cũng là một biến ảnh của cuộc đời “ngoài kia” mà Hàn luôn hướng tới. Theo nhiều tài liệu, Vĩ Dạ là
một xóm làng trù mật, dòng họ nhà vua có nhiều gia đình ở đây. Người Huế hay gọi là phủ Tùng Thiện,
phủ Tuy Lí của hai ông hoàng tước vương là Miên Thẩm, Miên Trinh có tiếng ở làng này. Vĩ Dạ khá tiêu
biểu cho đất đế đô. Nó nằm sát bờ sông Hương, nhìn qua Cồn Tiên, cù lao giữa sông, cách có mấy con
sào, từ đầu cầu Trường Tiền đi theo con đường xuống cửa Thuận chỉ mấy trăm thước. Vườn tược đúng là
xanh mướt những thanh trà (một thứ bưởi rất ngon và rất thanh), những đào tiên (tức roi ở Bắc và mận ở
Nam), những cam, chanh, quýt, và cau vút cao, tạo thế cân bằng hội hoạ cho bức tranh um tùm nơi mặt
đất. Đặc biệt không vườn nào, dù nghèo nhất lại thiếu một mảnh cây kiểng (cây cảnh) trước sân, khách
đến là thay chủ đón cười với khách trước khi khách được tiếp bằng hớp trà uống trong cái chung (cái
chén) nhỏ xíu mà chủ nhân vừa chùi tro, lòng chung trắng muốt. Nhỏ nhẹ thanh trong, kín đáo, lịch sự từ
giọng nói trở đi, từ cô hàng thanh trà đến các bậc cao sang Đó là Huế, đó cũng là Vĩ Dạ….
“Đây thôn Vĩ Dạ” như một lời mời mọc, như một tiếng reo vui, cũng như một chút ngậm ngùi tiếc
nuối, lẫn xót xa cho nghịch cảnh đời mình. Bài thơ gồm ba khổ, nhịp thơ chậm rãi, dìu dặt, hiu hắt, tô
thức bởi những ánh nắng hồng ban mai cứ rót dần và lan tỏa khắp khu vườn thành một đảo ngọc. Câu thơ
hay không chỉ hay ở những gì nó mang sẵn mà còn vì những gì nó có thể gợi ra để người đọc đồng sáng
tạo. Nhà thơ Xuân Diệu đã không quá lời khi nhận xét về vườn Vĩ Dạ xinh xinh như “ bài thơ tứ tuyệt”.
Ẩn đằng sau bức tranh thôn Vĩ đẹp và trong trẻo ấy chính là hình ảnh con người . Cụ thể là hình ảnh
khuôn mặt chữ điền. Đây là hình ảnh đã gậy nên nhiều tranh cãi cho người đọc. Có người cho rằng đó là
khuôn mặt của cô gái thôn Vĩ, khuôn mặt của người ngay thẳng, phúc hậu theo quan niệm truyền thống.
Người khác lại cho rằng đó là khuôn mặt của chàng trai thôn Vĩ. Rồi thì khuôn mặt của chính chủ thể trữ
tình . Kẻ lại cho đó là khuôn của sổ hình vuông… Song, dù hiểu theo cách nào thì đó cũng là hình ảnh của
con người và cuộc sống nơi thôn Vĩ. Cách miêu tả theo lối cách điệu hóa tức chỉ gợi lên vẻ đẹp của con
người, không chỉ rõ cụ thể là ai càng làm cho bức tranh thôn Vĩ đẹp, tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm và đầy
sức sống hơn. Qua đó chúng ta thấy được thiên nhiên, con người hài hòa với nhau trong một vẻ đẹp kín
đáo, dịu dàng.
Như vậy, ở khổ thơ thứ nhất, mỗi câu là một chi tiết vườn. tất cả được hòa nhập và ánh lên một vẻ
đẹp thanh tú. Cảnh sắc thôn Vĩ, vườn thôn Vĩ là của thế giới ngoài kia, vườn trần gian. Cảnh sắc ấy được
nhìn qua lăng kính của mặc cảm chia lìa nên những vật tưởng như đơn sơ nhất cũng trở nên vô cùng lộng
lẫy. Về với thôn Vĩ là việc bình thường với bao người, song đối với Hàn lại là một ước ao, ước ao quá
tầm tay với. Hay có thể lấy lời của một nhà nghiên cứu phê bình nọ để kết lại cho khổ thơ đầu này, rằng:
Khổ một chính là một ước ao thầm kín ngấm ngầm bên trong lại cất lên như một lời mời mọc từ bên
ngoài, nỗi hoài niệm âm u lại mang gương mặt sáng của khát khao rực rỡ.
Nếu ở khổ một là cảnh thôn Vĩ hiện lên đẹp, thơ mộng cùng với những hi vọng và hạnh phúc của thi
nhân thì bước sang khổ hai, không gian được mở rộng ra ngoài khung cảnh của thôn Vĩ. Đó là trời, mây,
sông nước xứ Huế. Và thời gian buổi sáng ban mai ở Vĩ Dạ đã chuyển vào ngày rồi sang đêm tối. Có lẽ,
nét độc đáo trong nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử chính là ở sự đứt đoạn bên ngoài bố cục, cấu tứ nhưng vẫn
chìm mạch cảm xúc thống nhất. Tâm trạng của thi nhân đang từ bồi hồi vui, mong đợi, ao ước bỗng
chuyển sang buồn thiu như cách nói của tác giả “dòng nước buồn thiu”. Nguyễn Du rất đúng khi cho rằng
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Cách ngắt nhịp 4/3 trong câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” với hai vế tiểu đối gợi tả một
không gian gió, mây chia lìa, đôi ngả như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. Người ta nói “Thơ là sai ngữ
pháp” quả không sai vì nó đã chấp nhận những cách nói vô lí của ngôn ngữ thơ và nhận ra cái hợp lí của
người thơ ẩn trong “cái bề sau, bề sâu, bè xa” ( Chế Lan Viên). Theo lẽ thường thì gió thổi, mây bay,
Kiều khu vườn ngập đầy ánh trăng để đêm giao ước, thề nguyền càng trở nên lung lình, tình tứ và lãng
mạn hơn. Quay lại với ý thơ trên, hình ảnh con thuyền chở trăng là gì nếu không chính là chở tình yêu
và bến sông trăng chính là đến với bến bờ hạnh phúc. Nhưng tại sao tác giải lại nói “Có chở trăng về kịp
tối nay?” Có lí do nào khiến cho con thuyền không thể về kịp bến sông trăng ấy? Nếu khổ thơ thứ nhất là
cảnh đẹp buổi sáng trong hoài niệm, trong khao khát trở về thì khổ hai là cảnh đẹp ban đêm của thôn Vĩ ,
nhưng ở đây đay đã chuyển sang thì hiện tại, nhuốm màu đau đớn bởi sự tuyệt vọng, chia lìa. Cho nên
mới có cái ý nguyện níu kéo, khắc khoải chơi vơi. Phải chăng chỉ là sự tưởng tượng của nhà thơ bởi vì
khát vọng, khát vọng yêu, khát vọng được hòa nhập và chiếm lĩnh tình yêu, cuộc sống của một cái tôi đau
thương quá lớn? Kịp để sống chạy đua với thời gian. Kịp để được hưởng tối đa hạnh phúc nơi trần giới
bởi đời quá ngắn và cái chết sẽ chờ đợi tất cả ở cuối con đường. Với Hàn Mặc Tử nó càng quan trọng
hơn nữa bởi lưỡi hái tử thần đã kề cạnh sau lưng chàng. Người ta nói “Thơ là sự lên tiếng của thân phận’
hẳn không sai với Hàn chút nào. Như vậy, có thể nói sang khổ thơ thứ hai này một ước ao vô cùng khẩn
thiết lại biến thành một hoài vọng chới với đến nghẹn ngào.
Bước sang khổ cuối, giọng thơ đã từ gấp gáp, khẩn khoản chuyển sang khắc khoải thông qua nhịp
điệu câu thơ. Nếu khổ một là vười đẹp. Khổ hai là trăng đẹp thì đến khổ ba là hình bóng đẹp. Tất cả đều là
những hình ảnh đẹp của thế giới ngoài tầm tay với riêng Hàn Mặc Tử. “Mơ khách đường xa khách đường
xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra”. Ở đây, hình ảnh khách đường xa có thể là người đang sống ở Vĩ Dạ
cũng có thể chính là nhà thơ. Sự cách trở xa xôi được thể hiện rõ thông qua điệp từ “khách đường xa ấy”.
Rồi hình ảnh “áo em”? Ta dễ thường thấy trong thơ Hàn mặc Tử, hình bóng giai nhân bao giờ cũng là
hiện thân sống động của vẻ đẹp trinh khiết xuân tình và gắn vào làm một với hình bóng họ là sắc áo trắng
tinh khôi. Nhiều người chưa phân tích thấu đáo hay hiểu nôm na mà cho rằng “Áo em trắng quá nhìn
không ra” là bởi lẫn vào sương khói. Nhưng thực ra, câu thơ là một tiếng kêu , một cách cực tả sắc trắng ở
mức tuyệt đối, tuyệt cùng. Đến đây, mơ tưởng da diết, khắc khoải hơn hết vẫn là dành cho con người, vẫn
hướng tới con người vì với tác giả, mất mát lớn nhất, niềm đau thương lớn nhất là phải chia lìa với người
mình yêu, với thế giới ngoài kia vậy.
Đến đây, tác giả quay trở về với thực tại. Hình ảnh “sương khói mờ nhân ảnh” nhằm chỉ cho cảnh vật
và con người hư ảo, xa xôi. Hiện thực hư ảo, mờ nhòe càng lúc càng chìm vào cõi mộng. giường như, tác
giả càng cảm nhận rõ hơn cái xa xôi, hư ảo của hạnh phúc và tình yêu. Cuộc đời ngoài kia vẫn cứ diệu kì
nhưng vẫn cách xa nghìn thế giới vời Hàn. Chỉ còn lại chút tình là sợi dây duy nhất níu giữ cuộc đời ông
với Ngoài kia nhưng sao cũng mong manh, xa vời quá. “Ai biết tình ai có đậm đà?” … Câu hỏi cuối cùng
vẫn là một khúc sông thiêng lãng mạn đứng giữa dòng sông dài của thi ca Việt Nam. Vượt qua mọi định
luật của sự băng hoại, bài thơ “vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa những
vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế.” (Hoài Thanh)