Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Thực trạng vấn đề
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một tài năng độc đáo, một cuộc đời dị biệt,
đầy “hương thơm và mật đắng” đến nay đã được khẳng định và tôn vinh là nhà
thơ lớn của thơ ca Việt Nam hiện đại. Những năm trước đây, các sáng tác của thi
sĩ luôn là tâm điểm của mọi sự tranh cãi không có hồi kết. Tuy nhiên, sự đổi mới
của đất nước, đời sống, văn hóa, văn học nghệ thuật trong thời gian gần đây đã
đưa thơ Hàn Mặc Tử trở thành một đối tượng nghiên cứu, trân trọng và mến yêu
của đông đảo bạn đọc.
Trong chương trình trung học phổ thông, thơ của thi sĩ Hàn trích học không
nhiều. nhưng cũng đủ làm xáo động cả một cuốn sách – ngữ văn 11, tập 2.
Chương trình Ngữ văn 11, tập 2, cùng với “Vội vàng” của Xuân Diệu, “Tràng
giang” của Huy Cận,…., “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử đã đưa phong trào
Thơ mới ra mắt bạn đọc thay vì lời giới thiệu của người viết sách.
Trong số những tác phẩm trích học của phong trào Thơ mới, “Đây thôn Vĩ
Dạ” là một bông hoa lạ. Lạ không phải vì đó là một trong những tác phẩm hay
của thi sĩ Hàn, mà còn bởi vì số mệnh của nó. Ngay từ khi mới ra đời, nó đã
không may mắn, không yên bình như chính chủ nhân của nó. Và rồi, “bách gia
trăm ý”, sóng gió bắt đầu ập tới thôn Vĩ bé nhỏ, xinh đẹp kia. Có người tìm cách
hạ bệ và cho rằng đây không phải là một tác phẩm hay ho gì. Người cho đó là tác
phẩm tỏ tình. Người bảo tả cảnh. Kẻ lại khăng khăng hướng nội….Nhưng dù bất
kì ý kiến nào đi nữa thì đến nay, tứ thơ này vẫn được khẳng định như một tinh
túy nhất của Hàn Mặc Tử cho phong trào Thơ mới cũng như cuộc đời thơ của
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
1
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
ông. Ở đây, người viết không nhằm đi vào lí giải lại những tranh cãi trên mà chỉ
mạn phép dừng lại ở một góc phiến diện của bài thơ hay này. Đó là “Dòng tâm
tư bất định trong Đây thôn vĩ Dạ”.
“Đây thôn Vĩ Dạ”, một tuyệt tác của đời thơ Hàn Mặc Tử. Trong nhà trường phổ
thông, khi dẫn dắt học sinh tìm hiểu về tác phẩm này, giáo viên thường căn cứ
vào hoặc là hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa hoặc là nội dung từng khổ thơ.
Cũng có người đưa người học tiếp cận từ nội dung đến hình thức nghệ thuật,…
Tuy nhiên, dù ở góc độ nào đi chăng nữa thì người dạy cũng muốn truyền tải tất
cả những cái hay nhất của bài thơ đến người học.
Qua thực tiễn dạy học ở phổ thông mấy năm trước cũng như hệ giáo dục
thường xuyên hiện tại, người viết mong muốn có một sự đổi mới trong việc tiếp
cận tác phẩm nhìn từ góc độ nộ dung. Dù mới thử nghiệm trong năm học trước
nhưng tiết học đi theo phương pháp này đã đưa lại nhiều điều lí thú, bổ ích và
khả quan. Bởi vậy, trong bài viết ngắn này, xin đưa ra những suy nghĩ mới về
tiết học “Đây thôn Vĩ Dạ”.
2.2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
Để có thể dạy tốt tiết học này, đặc biệt lại là dạy cho khối giáo giáo dục
thường xuyên về một bài thơ hay và khó, lại là tác phẩm từng trải qua nhiều
tranh cãi của người nghiên cứu, phê bình, hẳn không phải là điều dễ dàng với
người dạy. Song, với suy nghĩ làm mới cách đọc hiểu tác phẩm này cũng như tự
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
3
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
thử nghiệm một phương pháp đọc hiểu lạ nên người viết đã mạn phép viết ra
điều này.
Trước tiên, để có thể học tốt tiết học này, giáo viên cho học sinh chuẩn bị
bài trước ở nhà bao gồm đọc tác phẩm nhiều lần và soạn bài theo yêu cầu của
phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa. Giáo viên yêu cầu các em học
sinh tìm thêm những tài liệu liên quan đến tác giả cũng như bài thơ để hiểu thêm
về cuộc đời và xuất xứ của tác phẩm. Đến lớp, sau khi tìm hiểu qua về cuộc đời
và sự nghiệp của tác giả, giáo viên sẽ yêu cầu một số em nêu lên cảm nhận của
mình về bài thơ cũng như cách tìm hiểu tứ thơ để tạo không khí tiết học và
cuốn lớp học vào bài giảng. Sau đó, giáo viên sẽ từng bước gợi ý, dẫn dắt lớp
Mặc Tử
Vậy cơ sở nào dẫn đến dòng tâm tư bất định trong thơ Hàn Mặc Tử, mà cụ
thể là trong “Đây thôn Vĩ Dạ”? Chúng ta đều biết, cuộc đời của Hàn Mặc Tử là
cuộc đời đầy đau thương và bệnh tật. Cho nên, cái thế giới ngoài kia với tác giả
giường như đã tuột khỏi tầm tay với. Chỉ còn lại thế giới trong này với bao mặc
cảm, chia lìa. Có lẽ vì thế chăng mà khát vọng được sống, được yêu, được cháy
hết mình trong ông thực không tả xiết. Và vì vậy nên bài thơ chính là những gấp
khúc trái chiều ấy. Nếu khổ một là ao ước được gửi gắm bên trong một lời mời
mọc thì khổ hai tiến thêm là một trông ngóng khẩn khoản thoắt trở thành một
hoài vọng chới với, nghẹn ngào. Đến khổ ba, một niềm mong ngóng ấy vừa ló
rạng ra bên ngoài lại biến thành sự hoài nghi, vô vọng. Có thể nói, đó là logic
vận động của một cái tôi ham sống , yêu đời trong “Đây thôn Vĩ Dạ”.
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
5
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
Có lẽ, chính đời sống thực thể đặc biệt của Hàn Mặc Tử, nhất là ở giai
đoạn sau, lúc nào cũng chập chờn bất định giữa thực tại và chiêm bao, giữa cõi
thực và mộng đã phần nào thể hiện rõ nét yếu tố bất định trong thơ ông nói
chung và “Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng. Bước vào thế giới thơ Hàn Mặc Tử, người
đọc không tránh khỏi cảm giác phân tâm bởi dường như tâm trí không sao theo
kịp mạch vận động bất định của các hình ảnh nhưng lòng lại bị cuốn theo bởi
cảm xúc đau thương với những sắc thái, cung bậc khác nhau. Dòng tâm tư ngầm
chảy bên dưới bài thơ cuốn theo lớp hình ảnh dày đặc trên bề mặt tác phẩm. Đây
chính là những cơ sở dẫn đến dòng tâm tư bất định trong bài thơ mà người viết
sẽ trình bày ở phần sau.
3. Sự thể hiện dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc
Tử
Bài thơ gồm ba khổ, nhịp thơ chậm rãi, dìu dặt, hiu hắt, tô đậm thêm tâm
trạng u hoài, nhớ tiếc, ngẩn ngơ với những kỉ niệm đẹp, buồn khó có đến hai lần
trong cuộc đời tác giả và nỗi hoài nghi xa vời mà da diết. Và mỗi khổ được ví
trí nhà thơ rất nhiều kỉ niệm chăng? Thôn Vĩ nằm ngay bên bờ sông Hương nổi
tiếng bởi những cây trái xanh tươi bốn mùa, những ngôi nhà duyên dáng, vườn
tược, sông nước, mây trời và những cô thiếu nữ thơ mộng làm say đắm lòng
người “Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn/ Biếc che cần trúc không buồn mà say” (Huế đa
tình, Bich Khê). Vì vậy nên qua nét bút gợi tả, qua cái nhìn trong hồi tưởng và
tưởng tượng từ những quan sát tinh tế, vẻ đẹp thôn Vĩ vào buổi sáng và con
người nơi đây mới hiện lên tươi sáng, trong trẻo đến vậy. Đó là hình ảnh những
hàng cau thẳng tắp vươn lên trong nắng mới. Điệp từ “nắng” đi liền với “hàng
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
7
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
cau” và “mới lên” cho thấy vẻ riêng của nắng miền Trung, nắng Huế. Đó là ánh
nắng đầu tiên của một ngày, mới mẻ, ấm áp. Nó không phải là nắng ban mai hay
nắng mai như cách nói thông thường mà đó là nắng mới lên trong trẻo, tinh
khiết. Hình ảnh thơ khiến ta bồi hồi nhớ đến “Nắng mới” của Lưu Trọng Lư
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song/ Xao xác gà trưa gáy não nùng”. Rồi hình ảnh
nắng hàng cau, nghe qua có vẻ rất lạ nhưng đi vào cắt nghĩa mới thấy hết được
vẻ hay của ý thơ. Chúng ta đều biết, trong vườn, cau thường là cây cao nhất nên
tất sẽ đón được ánh nắng sớm nhất. Vì thế, nắng hàng cau là thứ nắng thanh tân,
tinh khôi, là nắng thiếu nữ. Khi ánh nắng chiếu vào thân cau, đổ xuống từng đốt
cau rồi bỗng nhiên lan tỏa khắp khu vườn. Bởi vậy cho nên, cau được người ta ví
như cây thước của thiên nhiên, được dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực nắng.
Tác giả Hồng Nguyên cũng đóng góp một hình ảnh góp phần làm giàu thêm vẻ
đẹp của nắng hàng cau: “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau”. Vì đó mà hình
ảnh khu vườn trở nên xanh mướt, mướt và xanh không thể sánh với bất cứ hình
ảnh nào ngoài màu xanh của sắc ngọc. So sánh xanh như ngọc làm hiện rõ vẻ
quý phái, sang trọng của lá hoa trong vườn (“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”,
Xuân Diệu). Mướt chứ không phải mượt. Đó là vẻ mượt mà, óng ả, đầy xuân
sắc, màu xanh mỡ màng, tràn trề nhựa sống. Có thể nói sau một đêm được tắm
gội bởi những giọt sương mát lành, sáng ra lại được đánh thức bởi những ánh
gian buổi sáng ban mai ở Vĩ Dạ đã chuyển vào ngày rồi sang đêm tối. Có lẽ, nét
độc đáo trong nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử chính là ở sự đứt đoạn bên ngoài bố
cục, cấu tứ nhưng vẫn chìm mạch cảm xúc thống nhất. Tâm trạng của thi nhân
đang từ bồi hồi vui, mong đợi, ao ước bỗng chuyển sang buồn thiu như cách nói
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
9
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
của tác giả “dòng nước buồn thiu”. Nguyễn Du rất đúng khi cho rằng “Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Cách ngắt nhịp 4/3 trong câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” với
hai vế tiểu đối gợi tả một không gian gió, mây chia lìa, đôi ngả như một nghịch
cảnh đầy ám ảnh. Người ta nói “Thơ là sai ngữ pháp” quả không sai vì nó đã
chấp nhận những cách nói vô lí của ngôn ngữ thơ và nhận ra cái hợp lí của
người thơ ẩn trong “cái bề sau, bề sâu, bè xa” ( Chế Lan Viên). Theo lẽ thường
thì gió thổi, mây bay, phải chăng mặc cảm chia lìa đã chia xa những thứ vốn
không thể chia tách ấy?
Hình ảnh dòng nước đã được nhà thơ nhân hóa trở thành một sinh thể có
tâm trạng nhằm giãi bày tâm tư của chính mình. Bởi dòng sông xứ Huế không
thể tự buồn mà chính thi nhân đã bỏ buồn vào dòng sông ấy. Thêm vào đó là
động thái “lay” của hoa bắp, nó càng gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng vì bản thân nó
làm sao có thể tự biết vui, biết buồn. Có chăng, nó chỉ là nét phụ họa với nỗi
buồn của gió, mây, sông nước hay ngược lại? Ca dao có câu: “Ai về Giồng Dứa
qua truông/ Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em?” hay câu thơ của Trúc Thông
“Lá ngô lay ở bờ sông/ Bờ sông thấy gió người không thấy về”. Chúng ta hãy
làm một cuộc so sánh nhỏ về hai chữ trong thơ Nguyễn Du và thi sĩ Hàn. Nếu
như chữ “hiu hiu” trong câu thơ “Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì
hay chị về” là tín hiệu nhằm báo sự hiện hữu thì chữ “lay” trong câu thơ Hàn
Mặc Tử là để tác giả kịp nhận ra sự phiêu tán, chia xa. Tất cả tạo nên nhịp thơ
chậm rãi. Phải chăng, đấy chính là hồn Huế, nhịp điệu quen thuộc của xứ Huế
ngàn đời nay? Thực là một bức tranh thiên nhiên toát lên vẻ ảm đạm, nhốm màu
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
11
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
với ý thơ trên, hình ảnh con thuyền chở trăng là gì nếu không chính là chở tình
yêu và bến sông trăng chính là đến với bến bờ hạnh phúc. Nhưng tại sao tác giải
lại nói “Có chở trăng về kịp tối nay?” Có lí do nào khiến cho con thuyền không
thể về kịp bến sông trăng ấy? Nếu khổ thơ thứ nhất là cảnh đẹp buổi sáng trong
hoài niệm, trong khao khát trở về thì khổ hai là cảnh đẹp ban đêm của thôn Vĩ ,
nhưng ở đây đay đã chuyển sang thì hiện tại, nhuốm màu đau đớn bởi sự tuyệt
vọng, chia lìa. Cho nên mới có cái ý nguyện níu kéo, khắc khoải chơi vơi. Phải
chăng chỉ là sự tưởng tượng của nhà thơ bởi vì khát vọng, khát vọng yêu, khát
vọng được hòa nhập và chiếm lĩnh tình yêu, cuộc sống của một cái tôi đau
thương quá lớn? Kịp để sống chạy đua với thời gian. Kịp để được hưởng tối đa
hạnh phúc nơi trần giới bởi đời quá ngắn và cái chết sẽ chờ đợi tất cả ở cuối con
đường. Với Hàn Mặc Tử nó càng quan trọng hơn nữa bởi lưỡi hái tử thần đã kề
cạnh sau lưng chàng. Người ta nói “Thơ là sự lên tiếng của thân phận’ hẳn không
sai với Hàn chút nào. Như vậy, có thể nói sang khổ thơ thứ hai này một ước ao
vô cùng khẩn thiết lại biến thành một hoài vọng chới với đến nghẹn ngào.
3.3. Bước sang khổ cuối, giọng thơ đã từ gấp gáp, khẩn khoản chuyển
sang khắc khoải thông qua nhịp điệu câu thơ. Nếu khổ một là vười đẹp. Khổ hai
là trăng đẹp thì đến khổ ba là hình bóng đẹp. Tất cả đều là những hình ảnh đẹp
của thế giới ngoài tầm tay với riêng Hàn Mặc Tử. “Mơ khách đường xa khách
đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra”. Ở đây, hình ảnh khách đường xa có
thể là người đang sống ở Vĩ Dạ cũng có thể chính là nhà thơ. Sự cách trở xa xôi
được thể hiện rõ thông qua điệp từ “khách đường xa ấy”. Rồi hình ảnh “áo em”?
Ta dễ thường thấy trong thơ Hàn mặc Tử, hình bóng giai nhân bao giờ cũng là
hiện thân sống động của vẻ đẹp trinh khiết xuân tình và gắn vào làm một với
hình bóng họ là sắc áo trắng tinh khôi. Nhiều người chưa phân tích thấu đáo hay
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
12
KẾT LUẬN
“Đây thôn Vĩ Dạ” được coi là một trong những bài thơ tình hay nhất của
Hàn Mặc Tử. Bài thơ được viết theo thể cách, thành những khổ chỉnh tề, vuông
vức. Mỗi khổ tựa một bài thơ tứ tuyệt nhỏ nhắn, xinh xinh. Toàn bài thơ là tình
yêu thiết tha man mác đượm vẻ u buồn ẩn hiện giữa khung cảnh thiên nhiên hòa
với lòng người, cái thực là cái mộng, huyền ảo và cụ thể hòa vào nhau. Phải
bằng tri giác và trí tưởng tượng mới có thể cảm nhận hết được cái hay, đặc sắc
của thi phẩm này.
Bằng kiến thức còn hạn chế của bản thân, người viết đã đi vào làm rõ chủ
đề mà mình đang nói đến. Đó là “Dòng tâm tư bất định” trong Đây thôn Vĩ Dạ.
Vẫn biết sẽ không bao giờ là hoàn thiện nếu chỉ riêng suy nghĩ của cá nhân. Cho
nên, người viết hi vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét và phản
hồi của quý độc giả để đề tài được toàn diện hơn. Với lại, đây chỉ là một phần
rất nhỏ của tác phẩm này. Sự mời gọi của nó vẫn luôn tha thiết đối với những ai
yêu thích và muốn khám phá nét độc đáo, riêng biệt của thi phẩm này.
Với “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử vẫn đứng giữa mảnh đất của thi ca
lãng mạn. Cho nên, nhà phê bình Hoài Thanh đã mạnh dạn lên tiếng: Bài thơ vẫn
là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa những vui buồn của
loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế.
Đề tài: Dòng tâm tư bất định trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
14
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lê Thị Xuyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê A (Chủ biên) (2008), Hướng dẫn dạy học Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo
dục, Phúc Yên.
2. Phan Cự Đệ, Nguyễn Toàn Thắng (Tuyển chọn và giới thiệu) (2007), Hàn
Mặc Tử về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Huế.
3. Nguyễn Văn Đường (2009), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Hà
Nội, Phúc Yên.
4. Dzũ Kha (Sưu tầm và biên soạn) (2006), Hành trình đến với Hàn Mặc Tử,