www.sangkienkinhnghiem.com
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Trong thời đại khoa học công nghệ thông tin bùng nổ, đứng trước yêu cầu
về một nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng chuyên
nghiệp…nền giáo dục của đất nước đã chú trọng đến sự đổi mới phương pháp
dạy và học theo hướng tích cực. Nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học mới
được nghiên cứu vận dụng nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong đó
có kỹ thuật đặt câu hỏi. Đặt câu hỏi trong dạy học (đặc biệt những câu hỏi có
vấn đề - tình huống học tập) có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức, hướng
dẫn quá trình nhận thức giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách có hệ thống
và tạo không khí học tập sôi nổi. Giáo viên qua câu hỏi có thể đánh giá được
năng lực của học sinh, có được thông tin phản hồi làm cơ sở cho sự điều chỉnh,
bổ sung một cách phù hợp, kịp thời những đơn vị kiến thức, kỹ năng trong giờ
dạy.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy nói chung, giảng dạy môn Ngữ văn nói
riêng vẫn tồn tại tình trạng đầu tư cho việc xây dựng câu hỏi chưa thật sự thỏa
đáng. Phần nhiều câu hỏi sa vào chi tiết vụn vặt, đơn điệu, nhàm chán hoặc
trong câu hỏi đã bao hàm ý trả lời hoặc mang tính chiếu lệ (hỏi cho có hỏi, hỏi
để thể hiện rằng có sử dụng phương pháp đổi mới trong giờ dạy), thiếu những
câu hỏi mang tính chất gợi mở, không có những tình huống gay cấn buộc học
sinh phải suy nghĩ, trăn trở vì thế giờ học trôi đi tẻ nhạt, học sinh không hứng
thú, học qua loa cho xong để rồi đến các kì thi, thực tế đáng buồn lại tái diễn:
các em tìm chép tài liệu, sai kiến thức cơ bản, suy diễn nội dung tác phẩm một
cách thô thiển, tách rời nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…
Đứng trước yêu cầu của xã hội, trước thực trạng dạy học môn Ngữ văn, tôi
luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để vận dụng một cách có hiệu quả những
phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Trong quá trình giảng dạy, nhận thấy vai trò quan trọng và ưu thế của kỹ thuật
đặt câu hỏi nên tôi đã đầu tư xây dựng hệ thống câu hỏi cho các giờ dạy, đặc
biệt chú ý xây dựng những câu hỏi có vấn đề nhằm khơi dậy hứng thú học văn
của học sinh, kích thích sự phát triển trí tuệ và giúp các em lưu giữ kiến thức lâu
cái đã biết là tiền đề để tìm ra cái chưa biết, cái chưa biết là cái đích cần đạt đến
của điểm xuất phát là những dữ liệu đã cho.
- Đối với những câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) còn phải bao hàm
trong bản thân nó một yếu tố tâm lí nào đó thể hiện ở tính rõ ràng, mới lạ của
sự kiện, ở tính bất thường của bài tập nhận thức ( Phát huy tính tích cực của học
sinh như thế nào- Tr 58(1978) I.F Khaz la môp)
2.Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học và vai trò của câu hỏi
trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:
2.1. Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:
Xuất phát từ đặc thù phân môn (vừa là môn khoa học vừa là môn nghệ thuật)
nên câu hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương cũng mang sắc thái
riêng độc đáo thể hiện qua hiệu quả tác động của nó: vừa phát triển tư duy khoa
học, tư duy sáng tạo; vừa kích thích được cảm xúc thẩm mĩ của người học. Vì
vậy xây dựng câu hỏi trong giờ dạy đọc hiểu văn bản văn học ngoài việc tuân
thủ các quy trình, hướng đến các mục đích tìm hiểu nội dung, nghệ thuật tác
phẩm, phát triển trí tưởng tượng, sự sáng tạo, bộc lộ cảm xúc còn phải chú ý
phát hiện các mâu thuẫn: từ bản thân tác phẩm giảng dạy, từ tầm đón nhận của
học sinh, từ cách cảm nhận, lí giải, phân tích tác phẩm trái ngược nhau của ý
thức tiếp nhận đồng đại và lịch đại
2.2.Vai trò của câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:
-Câu hỏi có vai trò định hướng, giúp học sinh xác định được nhiệm vụ nhận
thức, buộc các em phải huy động tri thức, vốn sống, kinh nghiệm một cách sáng
tạo, chọn lọc lấy những gì có liên quan đến vấn đề đã được biểu đạt. Giáo viên
không đưa kiến thức đến cho các em dưới dạng có sẵn, không rung cảm hộ mà
với câu hỏi đưa ra giáo viên sẽ tổ chức, hướng dẫn cho các em suy nghĩ, cắt
nghĩa, thâm nhập vào tác phẩm. Các em tự nắm bắt giọng điệu nhà văn, đối
thoại với người sáng tác, hòa nhập vào khung cảnh của tác phẩm Từ đó các em
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
2
để sáng tạo những cách biểu hiện mới). Cụ thể : câu hỏi định hướng cho học
sinh phát hiện cái tôi riêng của Hàn Mặc Tử (lòng yêu đời, yêu cuộc sống đến
thiết tha, đớn đau, đầy uẩn khúc thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh,
kết cấu mang đặc trưng độc đáo)
- Câu hỏi kích thích được sự tìm tòi, hứng thú của học sinh và phù hợp với
khả năng tiếp nhận của các em. Có nghĩa câu hỏi, tình huống học tập được xây
dựng phải khai thác cái mới từ tác phẩm, gợi liên tưởng nhiều chiều ở người
học; có khả năng gõ vào sự đồng cảm, trí tưởng tượng nhưng sau đó buộc các
em nâng lên thành cấp độ cao hơn thuộc về chiều sâu tư tưởng của tác phẩm ;
câu hỏi xuất hiện đúng thời điểm, diễn đạt sao cho các em có thể hiểu và suy
nghĩ ngay vào vấn đề giáo viên đặt ra
- Câu hỏi phong phú đa dạng, có hệ thống hoàn chỉnh: Câu hỏi được xây dựng
dưới các hình thức khác nhau để tránh sự đơn điệu nhàm chán ; câu hỏi có mối
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
3
www.sangkienkinhnghiem.com
liên hệ với nhau nhằm đảm bảo hướng đến mục đích, yêu cầu nội dung học
tập
2. Xây dựng câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):
2.1.Xác định mục tiêu dạy học trong giờ đọc-hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”
(Hàn Mặc Tử):
-Mức độ cần đạt:
+Cảm nhận được tình yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc qua
bức tranh phong cảnh xứ Huế.
+Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, tâm trạng của chủ thể trữ tình và bút
pháp tài hoa độc đáo của Hàn Mặc Tử.
-Trọng tâm kiến thức, kỹ năng:
+Kiến thức:
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
4
www.sangkienkinhnghiem.com
- Sinh ra ở Đồng Hới, nay là Quảng Bình trong gia đình công giáo nghèo.
- Bản thân:
+Là người mộ đạo
+Có cảnh ngộ bất hạnh
+ Là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào thơ
mới; “ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt Nam” (Chế Lan Viên).
*1.2-Sự nghiệp:
-Các tác phẩm : Gái quê, thơ điên, thượng thanh khí, Cẩm Châu duyên…
-Hành trình sáng tác phức tạp (Cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực).Ông
được xem là hiện tượng kì lạ vào bậc nhất của phong trào thơ mới:Làm thơ như
một trạng thái xuất thần. Mỗi lần làm thơ là một lần trút thần. Cảm hứng đến
như một cú sốc, ý thơ nhảy cóc, phi logic, như một thể lỏng bất định. Trong thơ
ông trăng, hoa, nhạc, hương chen lẫn với hồn, máu, yêu ma…
*1.3.Bài thơ:
- Hoàn cảnh ra đời: Hồi còn làm ở sở Đạc điền Bình Định, Hàn Mặc Tử thầm
yêu Hoàng Thị Kim Cúc là con ông chủ sở. Sau đó Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn
làm báo, Kim Cúc về Huế với cha. Khi biết tin Hàn Mặc Tử bị bệnh, Kim Cúc
gửi cho Hàn Mặc Tử một bức bưu thiếp in hình cô gái đang chèo thuyền, bên
dưới có cành trúc lòa xòa, phía xa là ráng trời, đằng sau ghi vài lời hỏi thăm.
Tấm thiếp đã tác động rất mạnh đến hồn thơ Hàn Mặc Tử: ấn tượng về xứ Huế
thức dậy cùng niềm yêu đời vô bờ khiến tác giả viết bài thơ.
- Xuất xứ: in trong tập thơ Điên (1938) sau đổi thành Đau thương.Tập thơ thể
hiện đặc trưng lối thơ điên của Hàn Mặc Tử:
+Điệu cảm xúc đặc thù là đau thương
+Hình tượng chủ thể là cái tôi li hợp bất định(vừa là mình, vừa phân thân ra
cùng một lúc nhiều mình khác nữa).
+Kênh hình ảnh đặc thù là những hình ảnh kì dị, kinh dị.
đáo, dịu dàng, phúc hậu. Đó là thiên đường đã tuột khỏi tầm tay nên trở thành
một niềm ước ao, một hạnh phúc quá tầm để lại niềm tiếc nuối vô bờ cho thi sĩ.
Khæ 2:
-Bức tranh sông nước buồn bã, ảm đạm mang chở mặc cảm chia lìa: cặp sóng
đôi “gió”, “mây” bị tách biệt ; dòng nước như ngưng đọng, buồn lặng, quạnh
quẽ ; hoa bắp sầu tủi vì không thể nhấc mình lưu chuyển được thể hiện qua nghệ
thuật nhân hóa, thủ pháp lấy “động” gợi “tĩnh”.
-Bằng trí tưởng tượng phong phú, hình ảnh sáng tạo, hình thức câu hỏi tu từ, tác
giả khắc họa bức tranh sông nước trong đêm trăng thơ mộng, huyền ảo đánh
thức niềm hi vọng mang chứa nhiều bi kịch:
+Ánh trăng sáng chiếu xuống dòng sông làm cả dòng sông và bãi bồi lung linh,
huyền ảo ; dòng nước buồn thiu đã hóa thành dòng sông trăng thơ mộng, con
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
6
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới
lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Bức tranh thôn Vĩ buổi
mai trong trẻo, tinh
giác chỉ còn là một ấn tượng càng làm cho sự hụt hẫng lên tới cao độ.
-Tâm trạng của thi nhân khi trở về lãnh cung chia lìa: Băn khoăn, nghi ngại cất
lên câu hỏi hoài nghi về sự đậm đà trong tình cảm của “ai” kia (“khách đường
xa”, tình người trong cõi trần ai). Trong tâm trạng đó bao hàm cả một hi vọng
sâu kín, chan chứa niềm thiết tha với cuộc đời nhưng cũng đầy mặc cảm.
Câu hỏi kết thúc bài thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời chất vấn hướng đến
sự giãi bày mong ước tìm kiếm những hồn tri âm đồng điệu đồng thời có thể
coi là câu trả lời cho câu hỏi mở đầu văn bản tạo nên kết cấu chặt chẽ thể hiện
nhất quán tình yêu dành cho cuộc sống của nhà thơ.
*3-Tổng kết, củng cố kiến thức:
-Bài thơ thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống nhưng đầy uẩn khúc của thi sĩ.
-Cảnh sắc thiên nhiên là sự giao chuyển nhiều cảnh theo lối bất định không tuân
thủ theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian.
-Hình ảnh sáng tạo, ngôn ngữ thơ cực tả mà luôn trong sáng, thủ pháp nghệ
thuật lấy động gợi tĩnh…
=>Từ kiến thức về văn bản có thể thấy: Muốn đọc thơ Hàn Mặc Tử phải
chú ý đến mạch ngầm cảm xúc trong cõi tâm hồn của con người mang lòng
yêu đời yêu cuộc sống đến thiết tha nhưng cũng đầy đớn đau, khắc khoải.
2.4. Mã hóa nội dung kiến thức thành câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy
đọc - hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):
Công đoạn xây dựng câu hỏi, tình huống học tập đòi hỏi giáo viên phải chú ý
đến nhiều yếu tố (đặc trưng tài liệu giảng dạy, đối tượng giảng dạy, tâm lí học
sinh trước đơn vị kiến thức cần tìm hiểu…) để có cơ cơ sở định hướng cho việc
hình thành câu hỏi, tình huống học tập đáp ứng yêu cầu.
2.4.1. Một điều hết sức quan trọng đối với việc vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi
trong giờ dạy “Đây thôn Vĩ Dạ” là: Giáo viên phải xây dựng được tình huống
học tập trung tâm trên cơ sở phát hiện mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của văn
bản (mâu thuẫn thuộc cấp độ hình thức, tập trung làm sáng tỏ nội dung tư tưởng
của tác phẩm). Tình huống học tập trung tâm này sẽ là điểm tựa để giáo viên
phát triển thêm các tình huống, câu hỏi hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản
chuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc. Kết thúc câu chuyện kể, tôi đưa ra
tình huống mang tính dẫn dắt (không cần trả lời): Bài thơ không thể không liên
quan đến hoàn cảnh ấy nhưng có nên cột chặt ý nghĩa của nó vào câu
chuyện riêng tư cũng như vào một địa danh hẹp là chốn Vĩ Dạ, sông Hương?
Tình huống làm nảy sinh tâm lí băn khoăn, thắc mắc, đưa các em vào tâm thế
chuẩn bị huy động kiến thức để giải quyết vấn đề được nêu.
*Tình huống học tập hướng học sinh tiếp cận bài thơ theo hướng hợp lí :
Nhằm tạo mối liên kết bên trong với tình huống trung tâm và giúp học sinh xác
định hướng tiếp cận thi phẩm, tôi nêu tình huống: Đây thôn Vĩ Dạ là một bài
thơ từng có nhiều cách cảm nhận khác nhau. Có người cho đây là bài thơ tả
cảnh, người lại cho bài thơ nói về tình yêu thầm kín của Hàn Mặc Tử và
Hoàng Cúc.Theo anh(chị) cách hiểu ấy có thỏa đáng không? Vì sao?
Từ thực tế phần lớn các em đồng tình với một trong hai cách cảm nhận trên,
giáo viên có thể tạo tình huống bằng lời nhận xét: Giả sử ý kiến của anh(chị )
là đúng, ta cùng nhìn lại văn bản, đọc một số câu thơ “nhìn nắng hàng cau
nắng mới lên”, “Có chở trăng về kịp tối nay?”…anh(chị ) thấy cách hiểu của
mình như thế đã hợp lí chưa?
Ở đây giáo viên phải dẫn dắt, phân tích để học sinh đi đến phủ định hai cách
hiểu về văn bản nói trên: Thi phẩm không đơn thuần tả cảnh vì nhức nhối , ám
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
8
www.sangkienkinhnghiem.com
ảnh trong chúng ta là những câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”, “Thuyền
ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay?”, “Ai biết tình ai có đậm
đà?”; hơn nữa cách hiểu này đã bỏ qua phong cách thơ Hàn Mặc Tử “luôn có
khuynh hướng quay vào nội tâm, rất ít tả, ít kể theo cái nhìn của con mắt” (Vũ
Quần Phương). Nếu cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ viết về tình yêu đơn
phương thì người đọc mới chỉ dựa vào hoàn cảnh sáng tác mà bỏ qua căn cứ
quan trọng là văn bản ngôn từ.
“Nỗi ám ảnh” do hình thức một câu thơ tạo nên là cơ sở để tình huống học tập
sau xuất hiện: Vậy thôn Vĩ có đặc điểm gì mà có sức ám ảnh lòng người đến
thế? Học sinh giải quyết được tình huống này, giáo viên có cơ sở để xây dựng
tình huống trung tâm xuất hiện cuối giờ học bởi vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ được tạo nên
từ hình ảnh thơ gợi cảm, trong trẻo khác hẳn khung cảnh trong hai khổ thơ còn
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
9
www.sangkienkinhnghiem.com
lại. Cảm nhận được sâu sắc bức tranh thôn Vĩ, học sinh mới có thể nhận ra dòng
chảy tâm trạng của thi nhân ( khi liên hệ đến cảnh ngộ hiện tại Hàn Mặc Tử
đang trải qua), từ đó giải thích được thực chất sự vi phạm cái lỗi không logic
của nhà thơ. Do vậy, sau khi hướng dẫn các em tiếp cận bức tranh thôn Vĩ bằng
các câu hỏi phụ trợ : Thôn Vĩ hiện lên trong quầng sáng kí ức của nhà thơ
qua hình ảnh nào? Cảm nhận về cách khắc họa các hình đó? Có tài liệu cho
rằng “mặt chữ điền” là gương mặt của đàn ông, có người hiểu đó là gương
mặt người phụ nữ. Cách hiểu của anh(chị)? Nhận xét về bức tranh thôn Vĩ
hiện về trong kí ức nhà thơ? Và khi các em cảm nhận được vẻ đẹp thôn Vĩ qua
các hình thơ:
+Ánh nắng: được khắc họa qua cái nhìn cận cảnh. Hai chữ “nắng” trong câu
thơ tạo nên tiết tấu khác thường - có cái gì như cái náo nức, e ấp, rạo rực ,xốn
xang trong lòng khi ánh mắt bắt gặp ánh nắng đầu tiên của một ngày. Cách nói
giản dị đầy sức gợi đưa đến cảm giác về các cấp độ của ánh sáng: ban đầu là
thứ ánh sáng được nhìn từ cái nhìn chủ động, định hướng tự nhiên, sau đó vươn
lên một góc nhìn tập trung để đón nhận sắc nắng tinh khôi, thuần khiết và thanh
thoát mà chỉ hàng cau vào lúc ban mai mới có. Ánh nắng trinh nguyên của buổi
mai như rải những vệt sáng lấp lóa trên những tàu cau còn ướt sương đêm. Ta
như cảm được hương thơm của nắng tỏa xuống không gian, thứ hương rất nhẹ
của hoa cau mới nở. Sắc nắng, vị nắng trộn hòa vào cảnh vật vừa vút lên trong
cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế lại vừa chợt ùa xuống, tỏa rộng, tràn
tượng, phải thực sự đồng cảm với tác giả sẽ phát hiện được: Nỗi khát khao trở
về thôn Vĩ mãnh liệt và niềm tiếc nuối đến day dứt, xót xa của hồn thơ yêu đời
nhưng buộc lòng phải xa cách cuộc đời mình yêu mến. Như thế cũng có nghĩa
các em được trao quyền chủ động phát huy khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng,
được rung cảm cùng người sáng tác …
*Câu hỏi, tình huống học tập hướng dẫn học sinh đọc- hiểu khổ thơ thứ hai:
Rất dễ nhận ra mâu thuẫn xuất hiện trên bề mặt giữa khổ thơ 1 và khổ 2: khổ
1, cảnh đẹp, tươi tắn, tràn đầy sức sống ; khổ 2, cảnh ảm đạm, buồn bã, có sự
nhập mờ giữa đôi bờ hư – thực. Đó là cơ sở để giáo viên tạo tình huống học tập:
Bức tranh thôn Vĩ mang nét đặc trưng của xứ Huế vừa mới đó đẹp là thế, tại
sao khi tầm nhìn của nhà thơ mở rộng bao quát cả không gian sông nước,
mây trời lại có sự đổi thay? Có mối liên hệ nào giữa tâm trạng được thể hiện
ở khổ 1 với đặc điểm của cảnh trong khổ 2?
Học sinh từ điều đã biết (qua đọc – hiểu khổ 1) sẽ lí giải được: Niềm đau, tiếc
nuối khiến nhà thơ có cái nhìn cảnh vật đổi khác. Bằng tư duy logic các em còn
nêu được lí do thứ hai: cảnh đẹp (trong khổ 1) dễ khiến thi nhân ý thức sâu sắc
hơn về cảnh ngộ hiện tại (vì căn bệnh quái ác phải tách biệt với thế giới mình
yêu mến) nên đã mượn cảnh thiên nhiên để nói về cảnh ngộ của chính mình.
Khi học sinh giải quyết được mâu thuẫn vừa nêu, tôi bắt lấy đơn vị kiến thức
vừa được các em phát hiện để đưa câu hỏi : Vậy cảnh ngộ đó là gì? Hãy phân
tích những tín hiệu nghệ thuật trong 2 câu thơ “Gió theo lối gió mây đường
mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” để làm rõ? Và gợi ý cho các em: để
trả lời câu hỏi trên, trước hết cần chỉ ra những hình ảnh thơ tạo nên khung
cảnh? Nghệ thuật được sử dụng? Tác dụng? ; sau đó xác định: Qua cảnh cho
thấy cảnh ngộ thi nhân phải gánh chịu như thế nào?
Ở đây, giáo viên cần dẫn dắt để học sinh phát hiện đủ dấu hiệu nghệ thuật (lặp
từ, nhịp ngắt 4/3, nghệ thuật nhân hóa, từ có giá trị biểu cảm) đồng thời xác định
được các hình ảnh thiên nhiên với sự vận động đặc biệt qua tài sử dụng ngôn từ
của thi sĩ. Cụ thể:
+Gió, mây: cặp sóng đôi vận động không theo quy luật “gió theo lối gió mây
hạnh phúc ; một câu , khắc khoải sự ngóng đợi, phấp phỏng lo âu – liệu con
thuyền chở trăng có kịp về trong thời gian gấp vội “tối nay”?: Mang nỗi đau
thân phận của kẻ bị chia lìa, niềm yêu sống thôi thúc nhà thơ nuôi dưỡng
niềm mong ước “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối
nay?”. Nhưng vì sao nói : nghe kĩ hai câu thơ dường như chất chứa trong
niềm mong ước là biết bao uẩn khúc, bi kịch?
Để hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập trên, tôi xây dựng các
tình huống học tập mang tính chất phụ trợ như:
-Giữa thế giới phiêu tán, hiu hắt, ảm đạm bất chợt xuất hiện hình ảnh vầng
trăng, trong ca dao và thơ văn xưa, nay “trăng” cùng với “thuyền”, “bến” là
những ẩn dụ nghệ thuật. Hãy cho biết ý nghĩa ẩn dụ của các hình ảnh này
trong câu thơ của Hàn Mặc Tử? Từ vốn hiểu biết về hồn thơ Hàn Mặc Tử, học
sinh chỉ ra ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh: “sông trăng”- thế giới hạnh
phúc, sự thanh khiết, vẻ đẹp con người mà tác giả mơ ước ; “bến sông trăng”-
bến đỗ hạnh phúc ; “thuyền”( chở trăng)- sợi dây kết nối giữa nhà thơ và thế
giới hạnh phúc.
-Trên cơ sở kiến thức các em vừa phát hiện, giáo viên chốt lại và đưa tình huống
học tập : Như vậy có thể nói, trăng chính là vương quốc bá quyền trong thơ
Hàn Mặc Tử, là biểu tượng cho khát vọng hạnh phúc. Phải chăng sự xuất
hiện của dòng sông trăng và con thuyền chở trăng là tín hiệu giúp thi nhân
thoát khỏi mặc cảm chia lìa, nỗi đau thân phận? Từ cách cảm nhận về nghệ
thuật sử dụng ngôn từ, âm hưởng 2 câu thơ cho biết ý kiến của anh (chị)?
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
12
www.sangkienkinhnghiem.com
Với mục đích tạo điều kiện để học sinh có được một bầu không khí dân chủ,
tôi khuyến khích các em đưa ra những chính kiến của mình trên cơ sở cách lí
giải hợp lí. Sau đó, phân tích để các em thấy ý kiến, cách lí giải hợp lí nhất là:
sự xuất hiện của khung cảnh thơ mộng, huyền ảo, có sự nhập mờ giữa đôi bờ
được định danh bằng cụm danh từ “khách đường xa”- hình bóng đến rồi đi bất
chợt, cách trở, xa xôi, chập chờn, hư ảo khiến lòng người đa cảm thêm khắc
khoải, bồn chồn.
Ngoài đặc điểm cách trở, xa xôi, hình ảnh con người còn được cảm nhận với
đặc điểm “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Có cách hiểu khác nhau về câu
thơ: do áo lẫn vào sương khói nên nhìn không rõ (1) ; ca tụng sắc áo trắng
đến lạ lùng (2). Ý kiến của anh (chị)?
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
13
www.sangkienkinhnghiem.com
Ở tình huống học tập này, tôi hướng học sinh căn cứ vào đặc điểm hồn thơ Hàn
Mặc Tử và các em phân tích, đưa được ý kiến:
- Cách hiểu thứ nhất không thật phù hợp vì chỉ dựa vào những căn cứ bề
ngoài (như bị ám ảnh và ngộ nhận vì màn sương khói – trắng quá nhìn không ra
chứ đâu phải mờ quá nhìn không ra, hay chỉ dựa thuần túy vào nghĩa sơ khai
của cụm từ “nhìn không ra”), nên khó nhìn thỏa đáng được hình ảnh thơ trong
mối liên hệ với những khía cạnh sâu xa thuộc về phong cách ngôn ngữ, cấu trúc
hình tượng trong văn bản và tư tưởng của Hàn Mặc Tử.
- Cách hiểu thứ hai phù hợp hơn vì: câu thơ thể hiện phong cách ngôn ngữ
đặc thù của tác giả “Đau thương” là cực tả ; trong hệ thống hình ảnh của thi
phẩm ánh nắng, thuyền trăng, áo trắng tất cả đều ánh lên sắc thái lạ lùng.
Chúng hợp thành diện mạo một cõi trần gian tuyệt đẹp mà thi sĩ càng mang
nặng mặc cảm chia lìa bao nhiêu càng thiết tha gắn bó hơn bao giờ hết. Thêm
nữa, trong quan niệm của Hàn Mặc Tử, trinh bạch, thanh khiết là vẻ đẹp lí tưởng
mà ông say mê và khao khát. Trong thơ ông, vẻ đẹp ấy thường hiện ra trong sắc
trắng lạ lùng. Sắc áo trắng tinh khôi lóa sáng đó của người thiếu nữ - “khách
đường xa” mà ông đang khát khao mơ tưởng ấy - chính là một hiện thân của vẻ
đẹp kia. Nó là lí do khiến thi sĩ thèm được sống mãi với cõi đời này. Nói cách
khác, câu thơ cực tả sắc trắng tinh khôi khiến nhà thơ không còn tin vào trực
tràn đầy sức sống-> cảnh ảm đạm, buồn bã, nét thực ảo chập chờn chuyển hóa
-> cảnh chìm vào mộng ảo) chỉ là dấu hiệu trên bề mặt ngôn từ, còn lớp trầm
tích chính là dòng chảy liên tục của tâm trạng (ước ao, đắm say, mãnh liệt ->dự
cảm chia lìa, mong ngóng, phấp phỏng -> mơ tưởng, hoài nghi) nảy sinh từ hồn
thơ yêu đời, yêu cuộc sống đến đớn đau, khắc khoải.
Mạch ngầm văn bản được các em phát hiện chính là vấn đề cốt lõi mà tôi khắc
sâu trong phần củng cố kiến thức bài học đồng thời cũng là cơ sở quan trọng để
tôi dẫn dắt các em quay trở lại với tình huống học tập: Đây thôn Vĩ Dạ là một
bài thơ từng có nhiều cách cảm nhận khác nhau. Có người cho đây là bài thơ
tả cảnh, người lại cho bài thơ nói về tình yêu thầm kín của Hàn Mặc Tử và
Hoàng Cúc.Theo anh(chị) cách hiểu ấy có thỏa đáng không? để các em tự
mình kiểm nghiệm lại ý kiến của bản thân, sau đó đi đến khẳng định : Với cách
khắc họa các hình ảnh độc đáo, ngôn ngữ thơ cực tả mà luôn trong sáng và súc
tích, bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên với sự giao chuyển nhiều cảnh theo
lối bất định, ẩn sau đó là những cung bậc tâm trạng của Hàn Mặc Tử - một con
người mang tình yêu tha thiết với cuộc sống nhưng cũng đầy uẩn khúc .
Với cách làm này, giáo viên không áp đặt các đơn vị kiến thức mà trao quyền
chủ động chiếm lĩnh tri thức cho học sinh sau khi các em được thâm nhập vào
tác phẩm và trải qua quá trình tư duy sâu sắc.
Cuối cùng từ quá trình đọc – hiểu “Đây thôn Vĩ Dạ”, tôi yêu cầu những học
sinh khá, giỏi: Chỉ ra dấu hiệu phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử và
cách đọc - hiểu tác phẩm của nhà thơ? Với câu hỏi này, giáo viên vừa kiểm tra
được mức độ nắm bắt, tổng hợp kiến thức trong giờ học (thơ Hàn Mặc Tử
thường có những bước nhảy về ý, ý nọ cách ý kia một khoảng lớn. Nhưng đó
chỉ là hình thức còn thực chất ở tầng sâu văn bản luôn có một sợi dây tâm trạng
xuyên suốt toàn bài) vừa khắc sâu kỹ năng đọc – hiểu tác phẩm của hồn thơ lạ
trong phong trào thơ mới ( không đọc theo đề tài sự việc mà phải tìm ra diễn
biến tâm trạng của thi nhân – “cái mạng vi mạch” của tác phẩm).
**Hệ thống câu hỏi, tình huống học tập trên được tôi xây dựng với nhiều cấp
độ nhận thức và xuất phát từ cơ sở sự phân tích đặc trưng của tài liệu dạy
câu thơ mở đầu? Cảm nhận về các câu thơ tiếp theo? Phân tích làm rõ? ) khiến
giờ học trôi đi đơn điệu, tẻ nhạt hoặc sôi nổi hình thức ( học sinh cũng phát biểu
ý kiến song kiến thức không đọng lại vì trong các em là những kiến thức vụn
vặt, cảm xúc hỗn độn …). Tôi chú trọng xây dựng các câu hỏi với hình thức đa
dạng (câu hỏi tạo không khí, dẫn dắt nhằm tác động vào tâm lí học sinh để các
em phải băn khoăn, thắc mắc, chuẩn bị tâm thế huy động kiến thức để giải quyết
vấn đề được nêu ; Câu hỏi cảm xúc ; Câu hỏi phát triển trí tưởng tượng…). Đặc
biệt tôi coi trọng việc xây dựng câu hỏi có vấn đề ( tình huống học tập ) và lưu
tâm xây dựng tình huống học tập trung tâm nhờ vậy không khí giờ học sôi nổi,
phát huy được vai trò chủ thể của học sinh. Các em chẳng những được trải
nghiệm cảm giác băn khoăn, ngạc nhiên, thích thú mà còn xác định được cốt lõi
vấn đề cần nắm vững trong tiết học, có được cái nhìn bao quát về hướng đi, cái
đích phải hướng tới của một giờ học ; Các em được làm chủ kiến thức, được
chiếm lĩnh tác phẩm văn chương trong tính chỉnh thể toàn vẹn của một cấu trúc
nghệ thuật tinh vi, đa tầng chứ không phải sự cảm nhận đơn lẻ từng yếu tố, từng
chi tiết. Đó là cơ sở để các em có hứng thú tiếp tục tự mình khám phá, chiếm
lĩnh tác phẩm một cách sâu sắc hơn bởi khi “vấn đề cốt lõi” của tác phẩm được
giải mã các em sẽ nhận ra rằng : còn nhiều yếu tố quy tụ xung quanh nó còn
chưa được khám phá, các em sẽ chưa thỏa mãn với tầm hiểu biết của mình và
tiếp tục bước vào cuộc hành trình khám phá thế giới cái hay, cái đẹp của văn
bản khi giờ học đã kết thúc.
Qua các câu hỏi kiểm tra nhanh, bài kiểm tra tự luận trên lớp hầu hết học sinh
nắm được kiến thức cơ bản của giờ học, biết vận dụng kiến thức để giải quyết
các đề bài kiểm tra liên quan đến tác phẩm, nhiều học sinh có cách lí giải vấn đề
thấu đáo, lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc…
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
16
www.sangkienkinhnghiem.com
Cụ thể: Ở các năm học (2009-2010, 2011-2012) vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi
2 4,8
Hai bảng số liệu là một kênh thông tin cho thấy hiệu quả bước đầu của việc vận
dụng kỹ thuật đặt câu hỏi đối với giờ dạy đọc - hiểu văn bản văn học. Kết quả
này giúp tôi vững tin tiếp tục tìm tòi để xây dựng hệ thống câu hỏi có chất lượng
hơn nữa để ứng dụng trong tiết dạy văn bản “Đây Thôn Vĩ Dạ” ( Hàn Mặc Tử)
ở các năm học tiếp theo.
C-KẾT LUẬN
Đề tài: Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản
“Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử (chương trình Ngữ văn 11)
17
www.sangkienkinhnghiem.com
“Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) là văn bản có nhiều cách tiếp cận, khoảng
trống để gieo mầm sáng tạo vẫn còn nhiều vì thế những câu hỏi và tình huống
học tập tôi đưa ra không tham vọng định hướng cho học sinh chiếm lĩnh được
hết tầng sâu cái hay, cái đẹp của văn bản mà chỉ đánh thức trong các em sự thắc
mắc, băn khoăn, niềm say mê dành cho tác phẩm và giải đáp phần nào nhưng
thắc mắc nảy sinh để các em thực sự trở thành chủ thể của quá trình học tập. Hệ
thống câu hỏi ấy cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Đặt câu hỏi là một nghệ thuật, kỹ thuật dạy học này đòi hỏi ở người giáo viên
năng lực của một nhà tâm lí, một nhà sư phạm, một nghệ sĩ. Khi vận dụng kỹ
thuật đặt câu hỏi vào giờ dạy đọc – hiểu văn bản văn học, giáo viên cần có sự
linh hoạt, khéo léo và khả năng kết hợp với các phương pháp, kỹ thuật dạy học
khác để đạt đến hiệu quả cao nhất, có như thế mới có thể đáp ứng được yêu cầu
đổi mới phương pháp giảng dạy. Tôi hi vọng với kinh nghiệm vận dụng kỹ thuật
đặt câu hỏi vào giờ dạy đọc- hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”(Hàn Mặc Tử) sẽ
góp một phần nhỏ vào việc hướng mối quan tâm, sự đầu tư thỏa đáng cho việc
xây dựng câu hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu các văn bản văn học nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục
nói chung.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
MỤC LỤC
Mục Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I. Một số vấn đề chung 2
1. Câu hỏi và câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) trong dạy
học
2
2. Câu hỏi trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản văn học và vai trò
của câu hỏi trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản văn học
2
II.
Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ
dạy đọc - hiểu văn bản “Đây thônVĩ Dạ”của Hàn Mặc
Tử
3
1. Xác định yêu cầu cần đảm bảo khi xây dựng câu hỏi trong giờ
dạy đọc- hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)
3
2. Xây dựng câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy đọc-hiểu
văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):
4
2.1. Xác định mục tiêu dạy học trong giờ đọc - hiểu văn bản “Đây
thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)
4
2.2. Xác định tri thức đã có của học sinh trong giờ đọc- hiểu văn
bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)
4
2.3. Xác định đơn vị kiến thức có thể mã hóa thành câu hỏi tương
ứng với các khâu trong quá trình dạy đọc - hiểu văn bản “Đây