kế hoạch hóa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 -2005 ở Việt Nam - Pdf 28

Mở đầu
Xây dựng một các ngành kinh tế hợp lý, hiệu quả cao là vấn đề hết sức quan
trọng để nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù
hợp với yêu cầu và bớc đi trong tiến trình hội nhập của nền kinh tế khu vực và thế
giới là một trong những nội dung cơ bản của đờng lối đổi mới nền kinh tế đất nớc do
Đai hội lần thứ VII, VIII và IX của Đảng đề ra. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 ở
nớc ta có cơ cấu GDP theo ngành là: tỷ trọng nông nghiệp khoảng 20-21%, tỷ trọng
công nghiệp và xây dựng khoảng 40-41%, tỷ trọng các ngành dịch vụ khoảng 41-
42%. Để đạt đợc mục tiêu đề ra trên đây, góp phần thực hiện chủ trơng lớn của
Đảng và Nhà nớc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mỗi nhóm ngành
phải đạt tốc độ tăng trởng: nông nghiệp khoảng 4,3%, công nghiệp và xây dựng
10,8%, dịch vụ 6,2%; tăng trởng GDP bình quân 7,5%. Trong những năm qua cơ
cấu kinh tế chuyển dịch chậm, mang tính tự phát, cha thật sự chủ động, còn nhiều
bấp bênh, rủi ro; hiệu quả sản xuất thấp dẫn đến không đạt đợc kế hoạch tăng trởng
kinh tế đề ra. Nó là vấn đề bức xúc nhất hiện nay, đang là vấn đề trung tâm trong
các cuộc nghiên cứu,thảo luận của Quốc hội và Chính phủ.
Ngày nay, thế giới có những biến đổi sâu sắc, ngày càng nhiều những biến
động khó lờng, nhiều yếi tố tác động đến sự phát triển kinh tế. Đề án nghiên cứu
theo phơng hớng chuyển dịch cơ cấu ngành một cách chủ động, linh hoạt phù hợp
với những biến động của trong và ngoài nớc. Đề án nghiên cứu "Kế hoạch hoá
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001-2005 ở Việt Nam và các giải
pháp thực hiện".
Em xin chân thành cảm ơn đã nhiệt tình giúp đỡ em nghiên cứu hoàn thành đề án
này. mặc dù đã hết sức cố gắng trong qúa trình nghiên cứu, nhng do trình độ, kinh
nghiệm còn hạn chế và thời gian ngắn cha nghiên cứu đợc sâu sắc vấn đề nên bài viết
không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Mong đợc sự góp ý của các thầy, các cô
và bạn bè để em có thể hiểu sâu sắc hơn vấn đề.
- 1 -
Ch ơng I
Một số vấn đề lý luận về

một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân.
2. Phân loại cơ cấu kinh tế
2.1. Cơ cấu ngành kinh tế
Trong bàI viết chú trọng nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế.
- 2 -
Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tập hợp tất cả các ngành hình thành lên nền
kinh tế và các mối quan hệ tơng đối ổn định giữa chúng.
Các chỉ tiêu đánh giá:
- Loại chỉ tiêu dịnh lợng thứ nhất:tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành
của nền kinh tế.
- Chỉ tiêu định lợng thứ hai:Có thể mô tả đợc phần nào mối quan hệ tác động
qua lại giữa các ngành kinh tế, đó là các hệ số trong bảng can đối liên ngành (của hệ
MPS) hay bảng Vào- Ra (I/O)(của hệ SNA).
Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung
của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ
cấu ngành là nét đặc trng của các nớc đang phát triển. Khi phân tích cơ cấu ngành
của một quốc gia ngời ta thờng phân tích theo 3 nhóm ngành (khu vực):
+ Nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông, lâm, ng nghiệp.
+ Nhóm ngành công nghiệp:bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.
+ Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm các ngành thơng mại, bu điện, du lịch...
Trong công nghiệp cần chú ý đến các hệ số liên hệ phía thợng nguồn và các
hệ số liên hệ phía hạ nguồn.
* Các ngành công nghiệp thợng nguồn:là những ngành công nghiệp tạo
nguyên liệu và sản phẩm trung gian, đòi hỏi vốn đầu t cao và công nghệ cơ bản,
công nghệ cao.
* Các ngành công nghiệp hạ nguồn:là những ngành công nghiệp sản xuất ra
sản phẩm cuối cùng cho tiêu dùng, thờng đòi hỏi vốn đầu t ít, sử dụng nhiều lao
động, có thể có quy mô sản xuất vừa và nhỏ.
Những ngành công nghiệp thợng nguồn và hạ nguồn nêu trên có mối quan hệ
dọc rất chặt chẽ. Trong một chuyên ngành nhất định có thể có một hình thức tổ chức

có thể đợc chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi
cả nớc. Mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa
quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên lãnh thổ.
II. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Khái niệm: Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái
khác cho phù hợp với môi trờng phát triển đợc coi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
* Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ
dạng này sang dạng khác phù hợp với trình độ phát triển của phân công lao động xã
hội, sự phát triển của lực lợng sản xuất và các nhu cầu về kinh tế-xã hội của đất nớc.
Chuyển dịch cơ cấu đem tính khách quan thông qua thông qua những nhận
thức chủ quan của con ngời, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đã hình thành các
khái niệm:
- Điều chỉnh cơ cấu:Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi một
số mặt, một số yéu tố cơ cấu, làm cho nó thích ứng với điều kiện khách quan từng
thời kỳ không tạo ra sự thay đổi đột biến, tức thời.
- CảI tổ cơ cấu:Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu cơ cấu trên cơ sở thay đổi
một số mặt bản chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu, nhanh chóng tạo ra sự đột
biến.
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng luôn thay đổi theo
từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành. Đó là sự thay đổi về số lợng các
ngành hoặc sự thay đổi tỷ lệ giữa các ngành do sự xuất hiện hoặc sự biến mất của
một số ngành và và sự tăng trởng giữa các yếu tố cấu thành là không đồng đều. Đây
không chỉ đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà còn là sự biến đổi cả về lợng và chất
trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu
hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cảI tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc ch-
a phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thhiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm
biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
2. Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

thấy rằng, các nớc có thể phân theo tỷ lệ phân phối tổng lao động của từng nớc vào
ba khu vực. Khu vực thứ nhất bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và theo
một số quan điểm còn bao gồm cả khai thác mỏ. Khu vực thứ hai bao gồm công
nghiệp chế biến và xây dựng. Khu vực thứ ba gồm có vận tải, thông tin, thơng
nghiệp, dịch vụ nhà nớc, dịch vụ t nhân. Theo A.Fisher, tiến bộ kỹ thuật đã có tác
động đến sự phân bố lao động vào ba khu vực này. Trong qúa trình phát triển, việc
tăng cờng sử dụng máy móc và các phơng thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho
nông dân nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, để bảo đảm lợng lơng thực, thực
phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến lợng lao động nh cũ và do vậy, tỷ lệ
của lực lợng lao động trong nông nghiệp giảm. Dựa vào số liệu thống kê thu thập đ-
ợc, A. Fisher cho rằng tỷ lệ giảm này có thể giảm từ 80% đối với các ngành chậm
phát triển nhất xuóng 11-12 % ở các nớc công nghiệp phát triển và trong điều kiện
đặc biệt có thể xuống tới 5%. Ngợc lại, tỷ lệ lao động đợc thu hút vào khu vực thứ
hai và khu vực thứ ba ngày càng tăng do tính co giãn về nhu cầu sản phẩm của hai
khu vực này và khả năng hạn chế hơn của viẹc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là
đối với khu vực thứ ba.
c. Vai trò của khoa học vai trò nghệ trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
- 5 -
Khoa học và công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong qúa trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đang
chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Sự phát triển của khoa
học và công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm
phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc và đa đến sự phân chia các ngành thành
nhiều ngành nhỏ hơn, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới, từ đó làm
thay đổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành, hay thúc đẩy các ngành chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hớng:
+ Các ngành sản xuất vật chất (nông nghiệp, công nghiệp)đều tăng lên về sản
lợng tuyệt đối, nhng về tỷ trọng trong GDP so với các ngành sản xuất phi vật chất
(dịch vụ) lại giảm tơng đối.
+ Cơ cấu kinh tế trong, nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hớng ngày càng

phát triển có xu hớng giảm dần.
Quốc tế hoá thơng mại, vốn và sản xuất. Bốn mơi năm qua kim ngạch thơng
mại hàng hoá của toàn thế giới đã tăng 6%/năm trong khi đó sản xuất hàng hoá chỉ
- 6 -
tăng 3,7%. Mức độ mở cửa của các nớc tăng. Sau thơng mại vốn đầu t cũng đã
nhanh chóng đợc quốc tế hoá. Cạnh tranh thơng mại và thu hút đầu t trên thế giới
diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
3.2. Các lý thuyết phát triển
Với t các là loạI lý thuyết chủ yếu nghiên cứu các con đờng hay các mô hình
phát triển kinh tế của các nớc chạm phát triển hiện đang nỗ lực tiến hành công
nghiệp hoá, các lý thuyết phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp đều bàn tới một trong
những nội dung cơ bản nhất của công nghiệp hoá là chuyển dịch cơ cấu ngành.
Song, do bản thân thế giới chậm phát triển bao gồm nhiều quốc gia với các đặc đIểm
đặc thù khác nhau, do xuất phát từ các quan điểm và các góc độ nghiên cứu khác
nhau nên cách giảI quyết vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong qúa trình công
nghiệp hoá của các loạI lý thuyết phát triển cũng rất khác nhau. Có thể thấy đIều
này qua một số lý thuyết phát triển chủ yếu sau.
a. Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế
T tởng cơ bản của ngời chủ xởng lý thuyết này Walt Rostow cho rằng, qúa
trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều trảI qua 5 giai đoạn tuần tự
nh sau:
1/ Xã hội truyền thống: Với đặc trng là nông nghiệp giữ vai trò thống trị trong
đời sống kinh tế, năng suất lao động thấp và xã hội kém linh hoạt.
2/ Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Với những thay đổi quan trọng là trong xã hội
đã xuất hiện tầng lớp chủ xí nghiệp có khả năng đổi mới, kết cấu hạ tầng sản xuất,
nhất là giao thông đã phát triển. Bắt đầu hình thành những khu vực đầu tầu có tác
động lôI kéo nền kinh tế phát triển.
3/ Giai đoạn cất cánh: với những dấu hiệu quan trọng nh tỷ lệ đầu t so với thu
nhập quốc dân đạt mức 10%, xuất hiện những ngành công nghiệp chế biến có tốc độ
tăng trởng cao, có những chuyển biến mạnh mẽ trong thể chế xã hoọi, thuận lợi cho

lập mà không phụ thuộc vào những điều kiện chung của toàn bộ nền kinh tế.
Kết luận đơng nhiên rút ra từ những nhận định này là để thúc đẩy phát triển
kinh tế của những nớc chậm phát triển, cần phải bằng mọi cách mở rộng khu vực
sản xuất công nghiệp hiện đại càng nhanh càng tốt mà không cần quan tâm tới khu
vực nông nghiệp truyền thống. Sự gia tăng của khu vực công nghiệp hiện đại tự nó
sẽ rút dần lao động từ khu vực nông nghiệp sang và biến nền sản xuất nông nghiệp
xã hội từ trạng thaí nhị nguyên thành một nền kinh tế công nghiệp phát triển.
PhảI nói răng những kết luận của lý thuyết nhị nguyên đã gây đợc ấn tợng
mạnh mẽ đối với các quốc gia chậm phát triển đang mong muốn đẩy mạnh quá trình
công nghiệp hoá. Trên thực tế, chính sách công nghiệp hoá và cơ cấu kinh tế ở nhiều
quốc gia chậm phát triển từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến thời gian gần đây
đã ít nhiều chịu ảnh hởng của lý thuyết này.
Lý thuyết kinh tế nhị nguyên còn đợc nhiều nhà kinh tế(J. Fei, G.Raní, Haris,
Todaro,...)tiếp tục nghiên cứu và phân tích. Luận đIểm phát triển của họ là khả năng
phát triểnvà thu nạp lao động của khu vực công nghiệp hiẹen đại. Khu vực này có
nhiều khả năng lựa chọn kỹ thuật, trong đó có những loạI kỹ thuật có hệ số sử dụng
lao động cao, nên về nguyên tắc, có thể thu hút đợc lao động d thừa từ khu vực nông
nghiệp truyền thống. Nhng việc di chuyển lao động đợc giả định là do sự chênh lẹch
về mức thu nhập của lao động từ hai khu vực kinh tế trên quyết định. Có nghĩa là,
khu vực công nghiệp hiện đại chỉ có thể thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp
trong trờng hợp đang có nạn nhân mãn khi nó có mức lơng cao hơn mức thu nhập
khi họ còn ở nông thôn. Nhng khả năng duy trì sự chênh lệch này sẽ cạn dần cho
đến khi nguồn lao động d thừa ở nông thôn không còn nữa. Đến lúc đó, việc tiếp tục
di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm cho sản lợng nông
nghiệp giảm đi, khiến cho giá cả hành hoá nông phẩm tiêu dùng tăng lên, kéo theo
mức tăng lơng tơng ứng trong khu vực sản xuát công nghiệp. Chính sự tăng lơng của
khu vực sản xuất công nghiệp sẽđặt ra giới hạn về mức cầu tăng thêm về lao động
của bản thân nó. Nh vậy mặc dù về mặt kỹ thuật- công nghệ khu vực công nghiệp
hiện đại có thể có khả năng thu dụng không hạn chế nhân lực, nhng về mặt thu nhập
và độ co dãn cung cầu nhân lực của hai khu vực thì sức thu nạp lao động từ khu vực

hạn của chúng và vì thế, cần quan tâm thích đáng tới nông nghiệp trong qúa trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế này
c. Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành
Những ngời ủng hộ quan điểm này nh R. Nurkse, P.Rosenstein-Rodan..., cho
rằng để nhanh chóng công nghiệp hoá, cần thúc đẩy phát triển đồng đều ở tất cả mọi
ngành kinh tế quốc dân. Họ chủ yếu dựa trên những luận cứ sau:
- Trong qúa trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiết với
nhau trong chhu trình đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia. Vì thế sự
phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất.
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành nh vạy giúp tránh đợc ảnh hởng tiêu cực
của những biến động của thị trờng thế giới và hạn chế mức độ phụ thuộc vào các
nền kinh tế khác, tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm và thiếu hụt.
- Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh nh vậy chính là nền
tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nớc thuộc thế giới thứ ba chống
lại chủ nghĩa thực dân.
Lý cuốicùng tỏ ra rất hấp dẫn đối với nhiều quốc gia chậm phát triển mới
giành đợc độc lập về chính trị những năm sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Vì thế,
mô hình phát triển theo cơ cấu cân đối khép kín-mô hình công nghiệp hoá hớng
nội hay thay thế nhập khẩu đã trở thành trào lu phổ biến thời kỳ đó.
Tuy nhiên, thực tế đã dần dần cho thấy những yếu đIểm rất lớn của mô hình lý
thuyết này. ở đây có hai vấn đề cần đặc biệt cần đợc xem xét là:
- Thứ nhất, việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đa nền
kinh tế đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài. Điều này chẳng những
- 9 -
ngợc với xu hớng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiện đại là khu
vực háo và toàn cầu hoá, mà trong lúc ngăn ngừa những ứac động tieu cực cua thị tr-
ờng thế giới, đã bỏ qua những ảnh hởng tích cực do bên ngoài đem lại.
- Thứ hai, các nền kinh tế chậm phát triển không đủ khả năng về nhân tài, vật
lực để có thể thực hiện đợc những mục tiêu cơ cấu đặt ra ban đầu.
Cả hai yếu tố này đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo h-

hoá hớng nội có cơ cấu ngành cân đối hoàn chỉnh và những thành công thần kỳ
của một số nớc đi tiên phong, điển hình là nhóm NICs Đông á,lý thuyết phát triển cơ
cấu ngành không cân đối hay các cực tăng trởng ngày càng đợc thừa nhận rộng rãi.
Trên thực tế, mô hình công nghiệp mở cửa, hớng ngoại đã trở thành một xu hớng
chính yếu ở các nớc chậm phát triển từ thập niên 1980 trở lại đây.
e. Lý thuyết phát triển theo mô hình đàn nhạn bay
Từ sự phân tích thực tế lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia và dựa trên lý
thuyết lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngời khởi xớng lý thuyết này,
giáo s Kaname Akamatsu đã đa ra những kiến giảivề quá trình đuổi kịp các nớc
- 10 -
tiên tiến nhất của các nớc kém phát triển hơn. Trong những ý tởng về sự đuổi kịp
này, vấn đề cơ cấu ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Xét trên góc độ phát triển
của toàn bộ nền công nghiệp, từng phân ngành hay thậm chí từng lọai sản phẩm
riêng biệt, qúa trình đuổi kịpvề mặt kinh tế và kỹ thuật của chúng đợc chia thành
4 giai đoạn sau:
Giai đoạn1:Các nớc kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ các nớc
phát triển hơn và xuất khẩu một số sản phẩm thủ công đặc biệt.Giai doạn này xảy ra
sự phân biệt hay phân công lao động quốc tế ngay trong lòng các nớc kém phát
triển-chuyên sản xuất một số sản phẩm thủ công đặc biệt để bán và nhập khẩu hàng
tiêu dùng công nghiệp khác từ các nớc công nghiệp phát triển.
Giai đoạn 2:Các nớc chậm phát triển nhập sản phẩm đầu t từ các nớc công
nghiệp phát triển để tự chế tạo lấy hàng hoá công nghiệp tiêu dùng trớc đây vẫn phảI
nhập. Đây là giai đoạn các nớc kém phát triển bắt đầu tích luỹ t bản (vốn) và phỏng
theo (bắt chớc) công nghệ chế tạo từ các nớc công nghiệp phát triển. Ngoài việc
nâng cấp và mở rộng một số ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, nhìn toàn
cục giai đoạn 2 mang dáng dấp của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
đối với nhiều ngành sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng.Vì thế, những ngành công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu phát triển mạnh trong giai đoạn
này. Song, những điều chỉnh cơ cấu kinh tế vĩ mô lại đợc giành u tiên cho các ngành
công nghiệp trợ giúp (kết cấu hạ tầng kinh tế)cho những công nghiệp sản xuất hàng

1-Các lý thuyết phát triển đều quan tâm việc xác định các tiền đề cần thiết của
qúa trình công nghiệp hoá.
2-Chúng không những chỉ coi chuyển dịch cơ cấu cơ cấu là một trong những
chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá mà còn chỉ ra
nội dung cụ thể của nó là tăng tỷ trọng của công nghiệp giảm tỷ trọng nông nghiệp
trong GDP, dân số thành thị lớn hơn dân số nông thôn. Cách xác định nội dung
chuyển dịch cơ cấu nh vậy cho phép một mặt đánh giá mức độ thành công của công
nghiệp hoá của một quốc gia; mặt khác, tìm hiểu những nguyen nhân quy định tình
trạng thoáI triển hay không sao bắt kịp đợc vào qúa trình công nghiệp hoá đã xảy ra
ở một số nớc trên thế giới.
3-Đánh giá sự thành bại của các nớc đang công nghiệp hoá, lý thuyết phát triển
đã khẳng định rằng có những nguyên nhân thuộc về cơ cấu. Ngời ta nhận thấy rằng
trong những nớc không thành công, cơ cấu có tình trạng không liên kết bên trong.
G.Grellet nhận xét Tình trạng không liên kết bên trong ấy thê hiện một ma trận về
giao lu liên ngành công nghiệp và một ma trận về giao lu liên vùng hầu nh hoàn toàn
trống rỗng.
Nh vậy, kinh tế học của sự phát triểnđã đặt vấn đề cơ cấu và một trong
những vị trí cơ bản trong lý thuyết của mình để xem xét, đánh giá và phân loại các
dạng thức phát triển và thoái triển ở các nớc thuộc thế giới thứ ba. Việc đề cao vấn
đề cơ cấu đợc xem là một trong những thành công trong lý thuyết phát triển kinh tế
hiện đại. Bởi nó khắc phục đợc sự phiến diện trong nhìn nhận vấn đề kinh tế của các
nớc chậm phát triển khi chỉ xoay quanh chỉ tiêu tăng trởng kinh tế -tức là mức độ
tăng lên củ GNP và GNP đầu ngời.
Việc quan tâm đến vấn đề cơ cấu kinh tế thông qua việc chỉ ra tính chất
không liên kết bên trong ở một số nền kinh tế chậm phát triển nào đó mang hàm ý
về một giải pháp mang tính nguyên tắc:phải xây dựng một cơ cấu kinh tế có sự liên
kết, thúc đẩy, lôi kéo lẫn nhau trong qúa trình phát triển. Một cơ cấu nh vậy vừ là
điều kiện cho sự phát triển hay công nghiệp hoá, đồng thời lại vừa là kết quả, là một
chỉ số để xem xét mức độ thành công của công nghiệp hoá và phát triển.
4- Kinh tế học phát triển cho rằng hình thức chuyển dịch cơ cấu ngành của các

công nghệ và kỹ thuật chế tạo nó, mặt khác tạo ra nhu cầu về nó.
Thời kỳ thứ hai, thay thế nhập khẩu là giai đoạn tiếp theo, khi nhu cầu về sản
phẩm mới đã tăng mạnh trên thị trờng trong nớc. Bắt đầu qúa trình triển khai công
nghệ và kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong nớc để thay thế hàng nhập khẩu.
Thời kỳ thứ ba, bành trớng xuất khẩu, trong thời kỳ này, nhu cầu nội địa với
sản phẩm đợc đáp ứng về căn bản, đồng thời, kỹ thuật-công nghệ sản xuất sản phẩm
đợc cải tiến và hoàn thiện. Sản phẩm đợc xuất khẩu ra nớc ngoài, cạnh tranh trên thị
trờng quốc tế với khôí lợng ngày càng tăng.
Thời kỳ thứ t là thời kỳ mà cả nhu cầu nội địa lẫn nhu cầu xuất khẩu đối với
sản phẩm dều giảm xuống chậm. Điều đó cản trở việc mở rộng sản xuất hơn nữa.
Bắt đầu xuất hiện dấu hiệu giảm sút năng lực cạnh tranh so với những nớc xuất phát
muộn hơn.
Thời kỳ thứ năm, nhập khẩu đảo đây là thời kỳ cuối cùng trong chu kỳ sản
phẩm nội dung của thời kỳ này là sản xuất trong nớc bắt đầu đối mặt với cạnh tranh
từ nớc ngoài nh là hệ quả tất nhiên của qúa trình bành trớng xuất khẩu sản phẩm
(đối với nớc ngoài là du nhập sản phẩm, sản xuất thay thế nhập khẩu và bắt dầu
xuất khẩu). Cuộc cạnh tranh này tạo ra một số bất lợi thế cho qúa trình sản xuất
trong nớc.Đó là bất lợi thế về thị trờng về chi phí sản xuất. Việc tiếp tục sản xuất sản
phẩm (mở rộng công suất hay duy trì mức cũ, thậm chí thu hẹp) trở nên kém hiệu
quả. Trong một quãng thời gian dài, sự lựa chọn không thể tránh khỏi là chuyển
sang một loại sản phẩm mới khác. Để bảo đảm hiệu qua và u thế cạnh tranh, đất nớc
phảI thực hiện bớc chuyển đó và vì thế không thể không nhập khẩu trở lại loại sản
phẩm trớc đây nó đã từng xuất khẩu.
Năm giai đoạn trên hình thành nên chu kỳ sống của sản phẩm. Nó xác định
tính chất yếu về kinh tế và kỹ thuật cho sự tồn tại của một ngành, một sản phẩm.
Đây chính là khuôn khổ lý thuyết tổng quát về qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trên phạm vi thế giới. Trong phạm vi một nớc đIều này cũng đúng khi xét trong
quan hệ giữa các ngành và công ty. Khi quan sát qúa trình này, ngời ta thấy qúa
trình di chuyển cơ cấu là liên tục và mang tính khách quan. Khái niệm liên tục ở đây
hàm nghĩa một sự dợt đuổi thật sự về sản phẩm và công nghệ-kỹ thuật giữa các nớc.

gây trì trệ cho quá trình phát triển, ảnh hởng không nhỏ đến tăng trởng.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình h ớng ngoại
Mô hình hớng ngoại là mô hình với chính sách chuyển dịch cơ cấu đa nền
kinh tế phát triển theo hớng mở cửa nhiều hơn, có thể thúc đẩy thơng mại và các
luồng t bản đổ vào, khuyến khích lợi nhuận giữa việc sản xuất cho thị trờng trong n-
ớc hay thị trờng ngoài nớc, tạo ra khả năng sinh lãi cao hơn trong việc sản xuất hàng
hoá xuất khẩu.
Có hai loại hình chiến lợc kinh tế mở cửa đó là:
Thứ nhất, tạo các khuyến khích về giá cả một cách tực theo hớng có lợi cho
xuất khẩu (chẳng hạn thông qua trợ cấp xuất khẩu).
Thứ hai, tạo ra sự trung lập thích hợp về giá cả giữa sản xuất trong nớc và thị
trờng nớc ngoài. Tức là chuyển các khuyến khích theo hớng có lợi cho sự mở cửa.
Đặc đIểm của các chính sách hớng ngoại ban đầu ở nhiều nớc đang phát triển
là hớng vào xuất khẩu vừa phải để tăng nguồn thu cho chính phủ, nhằm nâng cao cơ
sở hạ tầng để hàng hoá hỗ trợ cho xuất khẩu. Mô hìn này đợc thực hiện với các
chính sách thơng mại thiên về ủng hộ sự thay thế nhập khẩu, tạo ra một biểu thuế
nhập khẩu đem lại nguồn thu thích hợp mà không cần tới sự bảo hộ mạnh mẽ.
- 14 -
Sau khi hoàn thành những giai đoạn ban đầu của việc thay thế nhập khẩu, các
nớc đang phát triển thờng chuyển sang các chính sách hớng ngoại đối với các ngành
chế tạo máy. Cách tốt nhất là quan tâm đến việc cung cấp các đầu vào cho nhà xuất
khẩu trong khi cơ sở hạ tầng cha đáp ứng đầy đủ. Tài quản lý của chính phủ ở đây là
sự lựa chọn sáng suốt sự thay thế nhập khẩu có hiệu quả và đẩy mạnh xuất khẩu.
Xây dựng một chính sách thơng mại quốc tế cho phù hợp với nền kinh tế đang phát
triển, nhằm phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội củ mỗi quốc gia.
Chuyển dịch cơ cấu theo mô hình hớng ngoại rất có ý nghĩa đối với thuế quan
và các hình thức khác của chính sách bảo hộ mậu dịch, chính sách tỷ giá hối đoái và
quản lý vĩ mô trong nớc. Vấn đề mở cửa có liên quan đến nhập khẩu và xuất khẩu
hoặc tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán. Việc quyết định hớng ngoại cho
dù ở mức độ nào thì cũng có nhiều tác động quan trọng đến các mặt của đời sống

thành mô hình này là sự điều chỉnh trọng tâm thị trờng phát triển sản xuất của mô
hình hớng nội và mô hình hớng ngoại. Trong sự kết hợp ấy,ngời ta vẫn u tiên nhiều
hơn cho hớng ngoại.
Trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay, Đảng ta đã
định rõ quan điểm xây dựng nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới, hớng
- 15 -
mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nớc
sản xuất có hiệu quả .
3.5. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số nớc
*Malaxia
Là một nớc dành độc lập từ năm 1957, Malaixia bắt đầu bằng một nền kinh tế
(từ chỗ phụ thuộc Anh quốc)trong đó có 2 mặt hàng chiếm u thế là thiếc và cao su.
Liên tiếp từ đó, nền kinh tế của Malaixia liên tục thực hiện chính sách đa dạng hoá
rộng rãI các hàng sản xuất và đã đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh, trung bình từ
7%đến 8%hàng năm. Sản lợng GNP bình quân theo đầu ngời là 2000USD năm
1984. Danh mục các mặt hàng xuất khẩu có thêm dầu cọ, gỗ,ca cao và hạt tiêu.
Không những thế Malaixia còn là nớc sản xuất đứng đầu thế giới về cao su,thiếc,
dầu cọ và gỗ nhiệt đới và là nớc có khối lợng xuất khẩu lớn về dầu mỏ và khí tự
nhiên hoá lỏng.
Bằng những chính sách thiết thực nhằm thu hút vốn đầu t nớc ngoàI và ngành
công nghiệp, số lợng hàng xuất khẩu tăng nhanh, nhất là các linh kiện đIện tử, hàng
tiêu dùng đồ đIện,sản phẩm dệt và các hàng công nghiệp khác, góp phần đáng kể
tăng trởng kinh tế.
Sau những năm 1981-1982 (suy thoáI kinh tế trên khắp thế giới), các mặt hàng
xuất khẩu truyền thống của Malaixia bị giảm giá, làm giảm thu nhập và đầu t. Nhà
nớc Malaixia đã tìm cách kích thích nền kinh tế và đẩy nhanh tăng trởng công
nghiệp bằng việc đầu t vào một số cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng. Chi tiêu
Chính phủ tăng bằng cách đI vay nợ nớc ngoàI để mua cổ phàn của các công ty nớc
ngoàI với mụch đích có đIều kiện kiểm soát các công ty lớn của nớc ngoàI. Do vậy
mà nợ nớc ngoài của Malaixia tính đến năm 1984 đã tăng tới 15 tỷ USD. Năm 1985-

Đài Loan một số kết quả nhất định. Giá trị sản lợng công nghiệp từ năm 1953-1962
tăng trung bình 11,7%/năm. Công nghiệp đợc mở rộng đã thu hút thêm một lợng lớn
lao động, từ 17%trong toàn bộ lao động đang làm việc năm 1951 tăng lên 25%năm
1964. Bớc ngoạt đánh dấu sự phát triển của công nghiệp Đài Loan là giá trị sản xuất
công nghiệp từ năm 1956 đã bắt đầu vợt giá trị sản xuất nông nghiệp.trong GDP.
Tuy nhiên, chiến lợc CNH thay thế nhập khẩu kể từ đầu thập niên 60 cũng đã
bộc lộ những mặt hạn chế của nó. Sản phẩm công nghiệp của Đài Loan không có
khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới, còn tạI thị trờng trong nớc sức mua của
ngời dân rát hạn chế do thu nhập còn thấp. Trong khi đó, việc nhập khẩu các nguyên
liệu, thiết bị cần thiết cho công nghiệp hoá vẫn tiếp tục tăng lên khiến thâm hụt mậu
dịch, thâm hụt ngoạI tệ vẫn tiếp tục tăng. Tốc độ tăng trởng của công nghiệp bắt đầu
giảm vào đầu thập kỷ 60, từ 20%năm 1955 xuống chỉ còn 9,8% năm 1961. Riêng
tốc độ tăng trởng của công nghiệp chế biến- một thế mạnh của dự kiến trong thập kỷ
50 cũng giảm từ 14,4%năm 1960 xuống còn 8,1% năm 1962. Để thoát khỏi tình thế
bất lợi này và tìm kiếm con đờng phát triển cho Đài Loan, chính phủ và các nhà kinh
tế, giới kinh doanh của hòn đảo này đã chuyển chiến lợc CNH thay thế nhập khẩu
sang CNH theo hớng xuất khẩu.
Giai đoạn thứ 2(1964-1973). Triển khai CNH hớng về xuất khẩu Đài Loan đã
thực hiện một bớc thay đổi căn bản về chiến lợc phát triển, về quy chế và quản lý
kinh tế, thông qua một loạt cảI cách quan trọng nh áp dụng một chế độ một tỷ giá
hối đoáI. Thứ hai, chính phủ ĐàI Loan áp dụng nhiều biện pháp u đãI đối với các
doanh nghiệp sản xuất theo hớng xuất khẩu. Thứ ba, ngoàI các lỗ lực huy động
nguồn lực bên trong, ĐàI Loan còn ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút vốn và
công nghệ từ bên ngoàI.
Với phơng châm đề ra trong giai đoạn này là xuất khẩu để nhập khẩu, nhập
khẩu để thúc đẩy xuất khẩu, cả công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng của ĐàI
Loan ở giai đoạn này đã có bớc phát triển mạnh mẽ, đạt mức tăng trởng bình quân
hàng năm là 18,5%. ĐIều quan trọng hơn là tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng
lên đáng kể, đạt 41,3% trong khi nông nghiệp đã giảm tơng đối, chỉ còn 15,5%. Sự
phát triển nhanh chóng của công nghiệp đã góp phần thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế

trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và rau quả, cảI thiện chất lợng
bữa ăn, giảm suy dinh dỡng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn có hiệu quả. Trên cơ sở
bảo đảm vững chắc nhu cầu lơng thực, chủ yếu là lúa, mở rộng diện tích trồng cây
công nghiệp, cây ăn quả, tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, phát triển kinh tế biển,
đảo, kinh tế rừng, khai thác có hiệu quả tiềm năng của nền nông nghiệp sinh tháI,
tăng nhanh sản lợng hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
* Nhiệm vụ:
Tăng nhanh sản lợng lơng thực hàng hoá ở những vùng đồng bằng có năng
suất và hiệu quả cao. Bố trí lạI mùa vụ để né tránh thien tai, chuỷên sang các vụ có
năng suất cao hoặc sang các cây có hiệu quả hơn. Dự kiến năm 2000, sản lợng lơng
thực đạt khoảng 30 triệu tấn bình quân đầu ngời 360-370 kg.
- 18 -
Phát triển mạnh các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và rau đậu có hiệu quả
kinh tế cao; Trồng cây công nghiệp kết hợp với chơng trình phủ xanh đất trống, đòi
trọc theo hình thức nông lâm kết hợp. Đến năm 2000 đa tỷ trọng cây công nghiệp
chiếm khoảng 45% gía trị sản phẩm ngành trồng trọt.
Hình thành và phát triển các vùng chăn nuôI tập trung gắn với công nghiệp chế
biến thực phẩm. Đổi mới hệ thống giống có năng suất cao, chất lợng tốt. Thực hiện
chơng trình lạc hoá đàn lợn, cảI tạo đàn bò, phát triển bò sữa, bò thịt và thanh toán
một số bệnh nhiệt đới. Phấn đấu đến năm 2000, đa ty trọng ngành chăn nuôI trong
gía trị sản phẩm nông nghiệp lên khoảng 30-35%.
Phát triển nghề nuôI trồng thuỷ hảI sản ở cả nớc ngọt, nớc lợ và nớc mặn. Bảo
vệ và khôI phục rừng ngập mặn. Chuyển một số ruộng trũng, thờng bị úng lụt hoặc
bị nhiễm mặn, năng suất thấp sang nuôI trồng thuỷ sản. Đến năm 2000 diện tích
nuôI trồng thuỷ sản đạt trên 60 vạn ha.
Phát triển mạnh nghề đánh bắt xa bờ thông qua việc hỗ trợ cho ng dân vay vốn
và phát triển lực lợng quốc doanh Sản lợng thuỷ hảI sản năm 2000 khoảng 1,6-1,7
triệu tấn, trong đó sản lợng nuôI trồng khoảng 50-55 vạn tấn; xuất khẩu thuỷ hảI sản
1-1,1tỷ USD.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status