Kiểm tra NV 9 - Đề8 Nguyễn Ảnh 1
Đề 8 :
Câu1 :
Cho đoạn trích:
“ Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy
và kêu thét lên : “Má! Má!”. Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt
anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy.”
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009, tr.196)
1. Đoạn trích trên được rút từ tác phẩm nào, của ai? Kể tên hai nhân vật được người kể
chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
2. Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong
câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến cho nhân vật “anh” “đau đớn”. Vì sao vậy ?
3. Hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình
cảm sâu nặng của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong đoạn văn có sử dụng câu bị động
và phép thế (gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế).
Câu 2
Phân tích so sánh hình ảnh mùa xuân trong thơ cổ Trung Quốc :
Phương thảo thiên liên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành lê có mấy bông hoa)
với cảnh mùa xuân trong câu thơ Kiều của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Câu 3: Cảm nhận của em về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua một số tác phẩm thơ văn hiện
đại đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 9.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu1:
1) Đoạn trích trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích là : Bé Thu, nó(con bé) và anh Sáu
(anh).
2) Lý do khiến nhân vật anh Sáu đau đớn là vì: Trên mặt anh bấy giờ có một “cái thẹo” bởi
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành lê có mấy bông hoa)
với cảnh mùa xuân trong câu thơ Kiều của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Với bút pháp gợi tả, câu thơ cổ Trung Quốc đã vẽ lên được vẻ đẹp riêng của mùa xuân, có hương
vị , màu sắc, đường nét. Đó là hương thơm của cỏ non (phương thảo) . Đó là màu xanh mướt của
cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cả chân trời, mặt đất đều một màu xanh xanh (liên thiên
bích). Đó còn là đường nét của cành lê thanh nhẹ điểm vài bông hoa (sổ điểm hoa) . Màu xanh của
cỏ tiếp giáp và hòa lẫn với màu xanh của trời . Cảnh đẹp mà dường như tĩnh tại.
Hai câu thơ trong truyện Kiều “Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông
hoa” là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân . Gam màu làm nền cho bức tranh xuân là thảm cỏ non trải
rộng tới chân trời . Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng . Câu thơ cổ
Trung Quốc chỉ nói cành lê điểm một vài bông hoa mà không nói tới màu sắc của hoa lê. Nguyễn
Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho cành lê mà bức tranh mùa xuân đã khác. Trong câu thơ của
Nguyễn Du, chữ “trắng” trở thành điểm nhấn, làm nổi bật thần sắc của hoa lê và màu “ trắng” kết
hợp với từ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không tĩnh tại. Màu xanh của cỏ
non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu . Tất cả đều gợi lên
vẻ đẹp riêng của mùa xuân : mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo
(xanh tận chân trời) , nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa).
So với hai câu thơ xưa, rõ ràng hai câu của Nguyễn Du đã trở thành bức họa tuyệt tác về cảnh
ngày xuân trong sáng, sinh động.
Câu3:
I- Dân tộc Việt Nam giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Trong
chiến đấu, phụ nữ Việt Nam “Anh hùng , bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Trong thơ văn , hình ảnh
những người mẹ , người chị thân thương của mỗi chúng ta được miêu tả thật chân thực, đã để lại
những ấn tượng sâu sắc trong trái tim bao thế hệ độc giả.
II- Trong mỗi gia đình Việt Nam, hình ảnh người bà, người mẹ, người chị là những hình ảnh trở
nên gần gũi, yêu thương nhất đối với con cháu.
+Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh
-Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”.Một hình tượng rất tráng lệ. “Bếp lửa bà nhen” sớm
sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương “luôn ủ sẵn”,
ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng” bền bỉ và bất diệt. Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các
từ ngữ chỉ thời gian:”rồi sớm rồi chiều”, các động từ: “nhen”, “ủ sẵn” , “chứa” (chứa niềm tin dai
dẳng) đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn
lạc:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Bà thức khuya dậy sớm “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”, bà nhóm lửa cho thơm mùi
khoai sắn, và:
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
(Bằng Việt- Bếp lửa)
Ngọn lửa như một biểu tượng của tình thương vô cùng ấm áp . Hình ảnh người bà giàu yêu
thương và hình ảnh ngọn lửa cứ trở đi, trở lại trong bài thơ, song mỗi lần no lại mang một ý nghĩa
khác nhau.Khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nông đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương
sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như
còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà. Đến câu
tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn
bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”thì hoàn toàn mang nghĩa
trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ, nuôi dưỡng và làm bừng sáng những ước mơ,những khát
vọng của đàn cháu nhỏ.Bếp lửa bà đã nhóm lên ngọn lửa của tình yêu thương ấm áp.
Bà thương cháu bao nhiêu thì cháu lại kính yêu và biết ơn bà bấy nhiêu:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà , niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp,đã “có ngọn khói trăm tàu” đã “có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui
+ Khúc hát thứ hai, người mẹ tỉa bắp trên núi, nuôi làng nuôi bộ đội:
Lưng núi thì to lưng mẹ nhỏ
Hình ảnh đối lập gợi sự nhỏ bé của mẹ giữa rừng núi mênh mông heo hút, diễn tả sự chịu đựng
gian khổ của người mẹ Tà-ôi. Ở khúc hát này, trong lời ru của mẹ ta thấy tình yêu con, tình yêu làng
tha thiết và mẹ ước mơ con của mẹ lớn sẽ “Phát mười ka lưi ”
+Khúc hát thứ ba:
Mẹ đi chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Mẹ trực tiếp ra trận. “Mẹ đưa em đi để giành trận cuối”. Mẹ cùng em ra chiến trường , trực tiếp
tham gia chiến đấu cùng “Anh trai”, “Chị gái” . Giờ đây mẹ ước mơ được thấy Bác Hồ, ước mơ:
“Mai sau con lớn làm người tự do”.
Hình ảnh người mẹ hiện lên trong mỗi khúc hát vừa có sự lặp lại, vừa có sự phát triển. Không
gian làm việc của mẹ càng ngày càng mở rộng, từ giã gạo ở nhà đến phát rẫy trên nương và cuối
cùng mẹ ra chiến trường. Trong mỗi khúc hát ta thấy lúc đầu mẹ là mẹ chiến sĩ, về sau chính mẹ là
chiến sĩ.
Những lời ru của mẹ - “tim hát thành lời” đó là tình cảm của mẹ, là khát khao ước vọng của mẹ
đối với con mình. Nhưng ở đây tình mẫu tử thiêng liêng không phải chỉ dành cho một người con
duy nhất của mẹ , tình thương đó còn dành cho bộ đội, cho dân làng và cho đất nước. Hiện tại,
tương lai của con đều gắn liền với dân làng với cuộc kháng chiến của đất nước, dân tộc. Hình ảnh
mẹ trong bài thơ không chỉ mang ý nghĩa cụ thể về một người mẹ Tà-ôi mà còn mang ý nghĩa khái
quát. Trong cuộc kháng chiến thần thánh ấy có biết bao người như mẹ - những người mẹ Việt Nam
yêu con, yêu nước, sẵn sàng cống hiến , sẵn sàng tham gia vào cuộc kháng chiến vĩ đại vì độc lập tự
do của dân tộc.
+ Có những người bà, người mẹ anh hùng nên mới có những đàn con cháu anh hùng, có những thế
hệ anh hùng. Cô giao liên trong truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang sáng đã đi tiếp con
Kiểm tra NV 9 - Đề8 Nguyễn Ảnh 5
đường chiến đấu gian khổ, vô cùng oanh liệt vẻ vang của cha anh dào dạt sức sống trẻ trung và
dũng mãnh. Cô lái xuồng giỏi, chỉ huy giỏi, có giác quan tinh tế kì lạ. Cô phân biệt chính xác mùi
lính Mĩ và mùi lính ngụy, ánh sao đêm và đèn máy bay địch, tiếng trực thăng ở xa và tiếng xuồng
máy ở gần. Cô mưu trí và dũng cảm lạ thường. Lọt vào phục kích của giặc, cô đã lập mưu đánh lừa
chúng, an toàn vượt qua đường nguy hiểm. Cô gái ương ngạnh ngày nào đã trở thành cô giao liên
như Bác Hồ đã nói : “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu
mà thêm tốt đẹp rực rỡ” . Nhà thơ Huy Cận trong bài “Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam” có viết:
Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng năng cho thơ