Bảng quy ớc những chữ v76iết tắt trong luận văn
Chữ
viết tắt
Nội dung
ADB
Ngân hàng phát triển châu á
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
BNPP Mặt trận giải phóng dân tộc
Pattani
BOT Ngân hàng Trung ơng Thái Lan
GDP Tổng sản phẩm trong nớc
ICOR Tỷ lệ vốn đầu t trên tăng trởng
GDP
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
NIC
s
Nớc công nghiệp mới
NXB Nhà xuất bản
TTXVN
Thông tấn xã Việt Nam
USD Đô la Mỹ
VAT Thuế giá trị gia tăng
WB Ngân hàng thế giới
1
Môc lôc
Trang
1.2. Khái quát diễn biến cuộc khủng hoảng 35
2.2. Tác động của cuộc khủng hoảng 41
2.2.1. Tác động đối với tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Thái Lan 41
2.2.1.1. Đối với nền kinh tế 41
- Thơng mại
43
- Đầu t
46
- Công nghiệp
47
- Thị trờng bất động sản
48
- Nông nghiệp
49
- Một số lĩnh vực khác
51
2.2.1.2. Đối với tình hình chính trị xã hội 52
2.2.2.
Tác động đối với các nớc châu á
62
* Tiểu kết 65
Chơng 3
67
Quá trình giải quyết cuộc khủng hoảng
tài chính - tiền tệ ở TháI Lan
3
3.1. Những biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng của Chính phủ
Thái Lan 67
3.1.1. Về kinh tế 67
3.1.2. Về chính trị xã hội 71
đôi với bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên Hợp Quốc
và toàn nhân loại đang hớng tới.
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á những năm cuối cùng của
thế kỷ XX là một trong những biến động kinh tế nghiêm trọng nhất trong thời
đại toàn cầu hoá. Phạm vi ảnh hởng và mức độ thiệt hại về kinh tế của cuộc
khủng hoảng này không kém gì so với một cuộc chiến tranh. Cuộc khủng hoảng
bắt đầu xảy ra vào ngày 2 - 7 - 1997, đánh dấu bằng việc cơ quan tiền tệ Thái
Lan tuyên bố thả nổi đồng Bạt. Điều này có nghĩa là sau nhiều năm đạt đợc tốc
độ phát triển cao, nền kinh tế Thái Lan chính thức bớc vào giai đoạn khủng
hoảng trầm trọng. Từ lĩnh vực tài chính - tiền tệ, cuộc khủng hoảng lan sang
toàn bộ nền kinh tế và tác động sâu sắc đến tình hình chính trị - xã hội, trở
thành cuộc khủng hoảng kép trên cả hai lĩnh vực: kinh tế và chính trị.
Mặc dù không phải là nớc bị khủng hoảng nặng nề nhất (Inđônêxia bị
thiệt hại nặng nhất) nhng Thái Lan lại là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng và từ
nớc này cuộc khủng hoảng lan truyền sang hầu khắp các nớc châu á. So với
nhiều nớc châu á chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, cuộc
khủng hoảng ở Thái Lan có nhiều điểm khác biệt, trong đó nguyên nhân chủ
yếu nào dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, tại sao cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ châu á lại bùng nổ đầu tiên ở Thái Lan vẫn là những câu hỏi
cha có lời giải thoả đáng? Do đó, theo chúng tôi, việc tìm hiểu, nghiên cứu
những vấn đề trên sẽ góp phần làm sáng tỏ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
ở Thái Lan cũng nh những biến động tiền tệ ở châu á trong những năm cuối thế
kỷ XX.
Mặt khác, việc tìm hiểu nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
châu á nói chung và cuộc khủng hoảng tại Thái Lan nói riêng cũng có ý nghĩa
quan trọng đối với Việt Nam. Mặc dù Việt Nam nhìn chung ít chịu tác động từ
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á, tuy nhiên, trong thời gian diễn ra
5
khủng hoảng, quan hệ đối tác kinh tế giữa hai nớc Việt Nam và Thái Lan đã bị
ảnh hởng nghiêm trọng. Vì thế, từ sự kiện này có thể rút ra nhiều bài học bổ ích
cận đợc sau:
- Năm 1997, trên tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới , số 4 có đăng
bài của tác giả Nguyễn Xuân Thắng nhan đề Khủng hoảng đồng Bạt ở Thái
Lan: nguyên nhân, giải pháp và một số bài học với Việt Nam. Bài viết đã
phân tích khá kỹ nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, đặc biệt
tác giả đã bớc đầu đa ra những giải pháp cho Việt Nam qua việc nghiên cứu
cuộc khủng hoảng ở Thái Lan.
- Tác giả Nguyễn Hồng Sơn trong bài Hiểu nh thế nào về cuộc khủng
hoảng tiền tệ ở Thái Lan đăng trên tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới ,
số 6, năm 1997 đã chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng
hoảng ở Thái Lan ít đợc giới nghiên cứu chú ý đó là tình trạng đầu cơ trớc khi
khủng hoảng bùng nổ. Tác giả bài viết kết luận: chính tình trạng đầu cơ đã đẩy
nhanh Thái Lan đến bờ vực của sự đổ vỡ tiền tệ.
- Báo Sài gòn giải phóng ra ngày 18 tháng 8 năm 1997 có bài So sánh
hai cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan và Mêhicô. Bài báo đã chỉ ra 3 điểm
tơng đồng và 5 điểm khác biệt giữa hai cuộc khủng hoảng ở Thái Lan và
Mêhicô.
- Thời báo kinh tế Việt Nam ra ngày 20 tháng 8 năm 1997 có bài Khủng
hoảng đồng Bạt ở Thái Lan - nguyên nhân, giải pháp và bài học đối với các
nền kinh tế hớng ngoại. Bài báo đã phân tích khá sâu sắc những nguyên nhân
và bài học từ cuộc khủng hoảng ở Thái Lan đối với các quốc gia mà nền kinh tế
phụ thuộc vào nguồn vốn vay của nớc ngoài, trong đó có Thái Lan và Việt Nam.
Tác giả bài báo khẳng định một quốc gia muốn phát triển bền vững lâu dài thì
7
phải dựa chủ yếu vào nguồn nội lực, yếu tố ngoại lực chỉ có ý nghĩa hỗ trợ trong
những thời điểm nhất định.
- Báo Đầu t ra ngày 20 tháng 8 năm 1997 có bài Khủng hoảng tài chính
- tiền tệ ở Thái Lan - bài học với Việt Nam đã đa ra 4 bài học với Việt Nam đ-
ợc đúc rút từ cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, trong đó đặc biệt nhấn mạnh bài
học từ nguồn vốn vay của nớc ngoài.
hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan.
- Tạp chí Phát triển kinh tế số 2/1998, tác giả Hoàng Thị Chỉnh đã phân
tích những hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan trong
bài Từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan đến biến động tiền tệ ở Đông
Nam á, nguyên nhân và hậu quả. Tác giả bài báo cho rằng hầu hết các nớc
Đông Nam á khủng hoảng là do quá coi trọng những lợi ích kinh tế trớc mắt
mà xem nhẹ bài học phát triển đi đôi với sự bền vững.
- Năm 1998, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản chuyên đề:
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á và những vấn đề đặt ra hiện nay với
một loạt bài nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan.
Tiêu biểu là các bài: So sánh cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ giữa Thái
Lan và Mêhicô của tác giả Nguyễn Minh Phong, Khủng hoảng tiền tệ ở Thái
Lan: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp và triển vọng phục hồi của tác giả
Nguyễn Hồng Sơn, Khủng hoảng tiền tệ ở châu á và một số giải pháp đối với
Việt Nam của tác giả Tào Hữu Phùng. Các tác giả của chuyên đề này đã đa ra
nhiều ý kiến, nhiều sự lý giải khác nhau về nguyên nhân và triển vọng phục hồi
của nền kinh tế Thái Lan.
- Báo Tin tức ra ngày 18/1/1999 đăng bài Tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế đối với xã hội Thái Lan. Bài báo đã chỉ ra những vấn đề xã hội
9
nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế nh sự giảm sút về chất lợng giáo dục và y
tế.
- Trong bài Khủng hoảng tài chính tại các nớc ASEAN và những vấn
đề xã hội nảy sinh của tác giả Phạm Ngọc Tân đăng trên Tuyển tập các công
trình nghiên cứu khoa học 1990 - 1999, Khoa Lịch sử, Trờng Đại học s phạm
Vinh đã phân tích khá sâu sắc tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ đến tình hình xã hội các nớc Đông Nam á. Tác giả đã đa ra những số liệu
sinh động về tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, về sự xuống cấp của chất lợng
giáo dục, y tế.
- Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 1, năm 1999 có bài Khủng hoảng
2.2.1. Nhìn chung, các tác giả khi tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ châu á đều dành nhiều thời gian nghiên cứu cuộc
khủng hoảng ở Thái Lan. Nhiều công trình, bài viết đã phân tích khá sâu sắc
một số vấn đề của cuộc khủng hoảng nh nguyên nhân, bài học và triển vọng
phục hồi của nền kinh tế Thái Lan. Đặc biệt, từ các công trình này chúng tôi đã
đợc tiếp cận với một hệ thống số liệu khá phong phú về cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ châu á. Mặt khác, với một số lợng công trình, bài viết phong phú
đợc tiếp cận từ nhiều góc độ, chúng tôi cũng có điều kiện để tiếp thu, nhìn nhận
vấn đề một cách toàn diện, từ đó có thể đa ra những kiến giải cá nhân khách
quan và trung thực hơn.
2.2.2. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu vấn đề Khủng hoảng tài chính - tiền
tệ ở Thái Lan vẫn còn nhiều khoảng trống mà tác giả của luận văn này quan
tâm.
11
- Thứ nhất: Hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ phản ánh một cách
chung nhất về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á, cha có một công
trình lớn nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ tại Thái Lan. Cha có nhiều tác giả nghiên cứu
riêng biệt về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan, mới chỉ có các
bài viết ngắn mang tính chất chuyên khảo về tài chính, kinh tế, một số khác là
các tin tức báo chí cha thực sự sâu sắc trong nhận xét, đánh giá.
- Thứ hai: Trong quá trình nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
ở Thái Lan, những ngời đi trớc hầu nh chỉ chú trọng đến lĩnh vực kinh tế, tài
chính thuần túy mà ít đề cập, phân tích một cách đầy đủ về hệ quả chính trị, xã
hội của nó. Nói cách khác vấn đề này cha đợc nghiên cứu đúng mức từ phơng
diện sử học.
- Thứ ba: Nhiều vấn đề về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái
Lan vẫn còn tranh luận, cha đi đến thống nhất nh: nguyên nhân chủ yếu nào dẫn
đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan? Tại sao cuộc khủng hoảng lại bùng nổ đầu
tiên ở Thái Lan? Thời điểm nào Thái Lan thoát ra khỏi khủng hoảng? Đặc điểm,
Thái Lan, chúng tôi không thể không tìm hiểu tình hình kinh tế, chính trị Thái
Lan trớc, trong và sau cuộc khủng hoảng, cũng nh sẽ so sánh với cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ của một số nớc trong khu vực.
5. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1. Nguồn t liệu.
- Các t liệu có tính chất chung về lịch sử, văn hoá, kinh tế Thái Lan.
- Các công trình khoa học, luận văn kinh tế nghiên cứu về cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ châu á.
- Các số liệu về khủng hoảng tài chính ở Thái Lan lu trữ tại Bộ Kế hoạch -
Đầu t, Bộ Thơng mại, Học viện Quan hệ quốc tế, Thông tấn xã Việt Nam...
13
- Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học nh: Nghiên cứu Đông Nam á,
Tạp chí Cộng sản, Những vấn đề kinh tế thế giới, Nghiên cứu Quốc tế...
- Hệ thống tin bài về chủ đề nghiên cứu đăng trên báo chí trong 3 năm từ
1997 đến 1999: Báo Đầu t, báo Thơng mại, báo Sài Gòn giải phóng, báo Nhân
dân, báo Ngoại thơng, báo Hà Nội mới...
- Nguồn Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam trong
các năm từ 1997 đến 2000.
- Các bài diễn văn, báo cáo của Chính phủ Thái Lan về cuộc khủng hoảng.
- Bài viết của các tác giả Thái Lan và các nớc viết về cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ ở Thái Lan.
- Nguồn t liệu từ Internet
5.2. Phơng pháp nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này, về mặt phơng pháp luận, chúng tôi dựa trên quan
điểm duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và đờng lối xây dựng nền kinh
tế thị trờng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về phơng pháp nghiên cứu, mặc dù đây là đề tài nghiên cứu về lĩnh vực
kinh tế, tuy nhiên nó đợc tiếp cận từ góc độ sử học, do đó chúng tôi chủ yếu vận
dụng hai phơng pháp truyền thống là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc.
Tuy nhiên, cũng do là đề tài về kinh tế nên chúng tôi cũng chú trọng nhiều hơn
s
),
ngay từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Thái Lan đợc thừa nhận là một
trong những nớc có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất thế giới. ở khu vực Đông
Nam á, Thái Lan đợc nhìn nhận là một trong những quốc gia (sau Xingapo) có
thể nhanh chóng trở thành nớc công nghiệp mới.
Trên thực tế, không phải đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Thái Lan mới đạt
đợc tốc độ tăng trởng thần kỳ nh vậy (năm 1988 là 13%, năm 1989 là 12%)
15
mà ngay từ khi quốc gia này bắt đầu thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào
những năm 60 của thế kỷ XX, tốc độ tăng trởng GDP đã đạt khoảng 8%/năm
[43; 75]. Trớc khi diễn ra khủng hoảng, từ 1991 đến 1996, tốc độ tăng trởng
GDP cũng đạt bình quân 7,7%/năm. Tổng sản phẩm nội địa theo đầu ngời tăng
từ mức 440 USD năm 1955 lên 3.012 USD năm 1996.
Từ một nớc nông nghiệp, sau 30 năm tiến hành công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (1961 - 1991), Thái Lan đã đạt đợc tốc độ tăng trởng cao, trở
thành một trong những đầu tàu kinh tế của ASEAN. Nhiều quốc gia ở châu á
coi Thái Lan là mô hình phát triển lý tởng để học tập trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Nh vậy, nếu chỉ căn cứ vào chỉ số tăng trởng GDP của Thái Lan trong
suốt hơn 3 thập kỷ từ 1961 đến 1996 thì có thể khẳng định đây là quốc gia có
tốc độ phát triển cao và tơng đối ổn định. Tuy nhiên, chỉ số GDP là một thớc đo
quan trọng nhng cha phản ánh đầy đủ bức tranh của một nền kinh tế. ở Thái
Lan, để đạt đợc tốc độ phát triển cao và kéo dài nh vậy, Chính phủ đã phải chi
phí rất lớn cho hoạt động đầu t: trong thời kỳ 1991 - 1996, đầu t của Thái Lan
rất cao, hàng năm chiếm bình quân 40% GDP [43; 76]. Ngời ta tính rằng, tr-
ớc khi diễn ra khủng hoảng (thời kỳ 1991 - 1996), hệ số ICOR của kinh tế Thái
Lan là 5,22, tức là phải đầu t 5,22 Bạt thì GDP mới tăng trởng 1 Bạt. Rõ ràng
chỉ xét trên lĩnh vực kinh tế, sự phát triển của Thái Lan đã tiềm ẩn nhiều yếu tố
không bền vững, vì theo quy luật kinh tế tăng trởng cao mà chi phí thấp mới bền
với đồng USD, bất chấp những biến động của tình hình kinh tế trong và ngoài n-
ớc. Tuy vậy, khi vốn đầu t của nớc ngoài tràn vào quá nhiều, để ngăn chặn tình
trạng tăng giá của đồng Bạt, Chính phủ Thái Lan đã buộc phải thực hiện chính
sách tiền tệ thả nổi, một nguyên nhân quan trọng làm cho nền kinh tế phát triển
quá nóng và rơi vào trạng thái mất cân đối bên trong và bên ngoài. Chính sách
thả nổi tiền tệ một cách thiếu chủ động của Thái Lan đã làm cho lạm phát gia
17
tăng, thúc đẩy tiền lơng tăng lên và thổi phồng một cách giả tạo nhu cầu trong
nớc. Trong khi năng suất lao động chỉ tăng 3%/năm thì tiền lơng tăng tới
10%/năm. Chính sách này cũng đã dẫn đến hiện tợng đầu t tràn lan, ồ ạt vào các
lĩnh vực chỉ mang lại lợi ích trớc mắt và có tính rủi ro cao nh đầu t tài chính và
đầu t bất động sản Tất cả những yếu tố trên đã góp phần tạo nên những giá trị
ảo mà ngời ta thờng gọi là nền kinh tế bong bóng ở Thái Lan.
Thứ hai, tỷ giá hối đoái cố định cùng với sự gia tăng của lạm phát chứng
tỏ đồng Bạt đã lên giá thực tế. Điều này kết hợp với sự cạnh tranh gay gắt trên
thị trờng quốc tế đã khiến cho kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan giảm sút:
kim ngạch xuất khẩu năm 1996 chỉ tăng 0,2% so với mức 25% năm 1995
[50; 35]. Tình trạng lợi dụng thông tin nội bộ để trục lợi, cho vay tràn lan, nạn
rửa tiền ngày càng phổ biến đã đẩy nền kinh tế Thái Lan rơi vào trạng thái mất
cân đối, phát triển không bền vững.
Nh vậy, chính sách tỷ giá hối đoái của Thái Lan là một trong những
nguyên nhân đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Đó là một chính sách cứng
nhắc, thiếu linh hoạt và không thật sự chủ động để có thể đối phó với những
nguy cơ tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng. Đến khi nguy cơ khủng hoảng tài chính
- tiền tệ lên đến đỉnh điểm, Chính phủ Thái Lan không còn cách nào khác buộc
phải tuyên bố phá giá đồng Bạt.
1.1.1.2. Sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn của nớc ngoài.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc huy động nguồn vốn đầu t
của nớc ngoài đối với các nớc đang phát triển nh Thái Lan là một việc làm rất
cần thiết. Chính sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản hay sự cất cánh của
GDP tính theo
giá năm 1998
(triệu Bạt)
Tốc độ tăng tr-
ởng
1982 10.129 27,78 1.019.501 5,6
1983 11.162 10,21 1.076.432 7,3
1984 12.839 15,02 1.138.353 7,1
1985 14.699 1,49 1.191.255 3,5
1986 16.029 9,05 1.257.177 4,9
1987 17.500 9,18 1.376.847 9,5
1988 17.889 2,22 1.559.804 13,2
1989 19.417 8,5 1.751.515 12,2
1990 25.061 29,07 1.945.372 11,6
19
1991 33.284 32,81 2.111.862 8,5
1992 37.354 12,23 2.282.572 8,1
1993 45.705 22,36 2.473.937 8,3
1994 55.001 20,34 2.695.054 8,9
1995 68.132 23,87 2.933.168 8,7
1996 79.854 17,2 3.095.041 6,4
(Nguồn: Ngân hàng Thái Lan, tập san các tháng, các năm khác nhau [19; 69])
Điều đáng lo ngại ở đây là phần lớn các khoản vay nợ nớc ngoài của Thái
Lan đều là vay ngắn hạn: năm 1996, trong số 89 tỷ USD nợ nớc ngoài thì có tới
65% đến hạn trả trong vòng 1 năm.
Cũng do tính chất hớng ngoại của nền kinh tế nên hệ thống ngân hàng ở
Thái Lan không có đợc sự chủ động trong kinh doanh. Việc sử dụng đến 90%
nguồn vốn nớc ngoài ở dạng đầu t tài chính và tín dụng ngắn hạn đã tạo nên áp
lực tài chính rất lớn đối với các doanh nghiệp trong nớc. Ngân hàng Thái Lan
vay lãi của nớc ngoài sau đó cho các công ty của Thái Lan vay với lãi suất lên
90 của thế kỷ XX, nền kinh tế hớng ngoại của Thái Lan đã đạt đợc những thành
tựu to lớn trên hai lĩnh vực này: giai đoạn 1986 - 1990, tốc độ tăng trởng xuất
khẩu bình quân là 28%/năm; năm 1992 và 1993 khoảng 13%/năm; năm 1994
và 1995 khoảng 20%/năm, giá trị xuất khẩu theo đầu ngời cũng tăng từ 630
USD/ngời năm 1991 lên 1.177 USD/ngời năm 1996 [43; 76].
Trên lĩnh vực đầu t, do GDP tăng trởng cao, tỷ giá hối đoái gần nh cố
định nên Thái Lan trở thành nớc có môi trờng đầu t hấp dẫn đối với các doanh
nghiệp nớc ngoài. Chỉ tính riêng trong thời kỳ 1991 - 1996, tổng số vốn nớc
ngoài đợc đầu t vào Thái Lan là 85,293 tỷ USD. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng
đã tập trung đầu t xây dựng và phát triển nhiều ngành kinh tế trọng điểm để có
thể đem lại lợi ích nhanh chóng nh: công nghiệp điện, điện tử, xây dựng khách
sạn du lịch...
21
Nh vậy nếu chỉ căn cứ vào chỉ số xuất khẩu và đầu t thì có thể khẳng định
các hoạt động này đang đi đúng hớng và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy
tăng trởng kinh tế Thái Lan. Tuy nhiên, với bản chất của một nền kinh tế hớng
ngoại, hoạt động đầu t và xuất nhập khẩu ở Thái Lan cũng bộc lộ nhiều hạn chế.
Đối với lĩnh vực đầu t: với mong muốn đạt tỷ lệ sản xuất công nghiệp
chiếm hơn 20% GDP (một trong những tiêu chí để gia nhập câu lạc bộ các nớc
công nghiệp mới trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX), Chính phủ Thái Lan đã dành
sự u tiên đặc biệt cho các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, khi
xem xét cơ cấu công nghiệp, ngời ta thấy nền công nghiệp của Thái Lan chủ
yếu là những ngành công nghiệp nhẹ. Phần lớn các ngành công nghiệp đem lại
giá trị xuất khẩu cao của Thái Lan lại là những ngành phải nhập nguyên liệu
liệu của nớc ngoài nhiều nhất: ngành vi điện tử nhập tới 100% nguyên liệu để
sản xuất, ngành chế tạo đá quý, dệt may đem lại cho đất nớc 40 tỷ Bạt mỗi
năm cũng phải nhập tới 90% nguyên vật liệu [26; 89]. Có tới 90% các nhà
máy, cơ sở sản xuất của Thái Lan chỉ làm nhiệm vụ lắp ráp, còn mọi máy móc
trang thiết bị đều nhập từ bên ngoài vào. Cũng do quá chú trọng vào các ngành
công nghiệp nhẹ, một ngành ít phải đầu t nhng lại thu lợi nhanh nên Chính phủ
(baht/USD)
25,28 25,32 25,54 25,09 25,19 25,61 47,25 41,37 37,11
Lạm phát (%) 5,7 4,1 4,6 5,1 5,8 4,8 5,6 8,1
Xuất khẩu (tỷ USD) 28,23 32,1 36,4 44,47 55,4 54,4 56,7 52,9
Nhập khẩu (tỷ USD)
-34,22
-
36,26
-
40,09
- 48,2 - 63,4 - 63,9 - 55,1 - 40,6
Cán cân thơng mại
(tỷ USD)
- 5,9 - 4,16 - 4,3 - 3,7 - 7,7 - 9,5 1,5 12,3
Cán cân tài khoảng
vãng lai (tỷ USD)
- 7,59 - 6,3 - 6,36 - 8,08
-
13,55
-
14,69
- 3,02 14,3 7,2
Cán cân tài khoản
vốn (tỷ USD)
11,76 9,47 10,5 12,17 21,9 19,5 - 15,8 - 9,5
Đầu t trực tiếp thuần
(tỷ USD)
1,847 1,966 1,571 0,873 1,182 1,405 3,344
Đầu t tài chính thuần
(cổ phiếu, trái phiếu
tỷ USD. Xuất khẩu của Thái Lan năm 1996 chỉ tăng 0,2% so với 23,6% năm
1995. Đặc biệt một số mặt hàng đợc coi là lợi thế của Thái Lan nh dệt, may
mặc, nhựa... mất dần khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế mới nổi lên trong
khu vực. Nh vậy là từ chỗ xuất khẩu giảm sút, nhập khẩu tăng, đặc biệt là nhập
khẩu hàng xa xỉ từ nguồn vốn vay của nớc ngoài đã khiến tài khoản vãng lai bị
thâm hụt nặng nề ở Thái Lan. Năm 1995 thâm hụt tài khoản vãng lai của
Thái Lan chiếm 8,1% GDP (13,55 tỷ USD), năm 1996 con số này lên tới 8,2%
GDP (14,69 tỷ USD), cao hơn tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai của Mêhicô
năm 1994 (8% GDP) và đứng hàng thứ hai trong số các nớc bị khủng hoảng
(sau Malaixia 9,7% GDP) [19; 20]. Lẽ ra trong bối cảnh thâm hụt tài khoản
vãng lai kéo dài nh vậy, Chính phủ Thái Lan cần phải cơ cấu lại nền kinh tế,
giảm thiểu chi tiêu nhằm đẩy lùi độ thâm hụt xuống dới 5% GDP (mức độ tối
đa trớc ngỡng khủng hoảng) để sẵn sàng đối phó nếu khủng hoảng xảy ra. Thế
nhng, những biện pháp mà Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chỉ nhằm mục đích
duy trì sự ổn định giả tạo của đồng Bạt. Nói cách khác, những biện pháp can
thiệp của Chính phủ Thái Lan lúc này chỉ góp phần làm cho tình hình kinh tế -
tài chính đất nớc trở nên trầm trọng thêm, nguy cơ bùng nổ một cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan là điều khó tránh khỏi.
24
1.1.1.4. Tình trạng đầu cơ.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, giới phân tích kinh tế thế giới đã cảnh
báo về tình trạng phát triển mất cân đối của Thái Lan. Đến đầu thập kỷ 90,
nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nớc đã chỉ ra những nguy cơ có thể dẫn
đến khủng hoảng kinh tế ở Thái Lan. Đặc biệt, giữa năm 1995, các nhà kinh tế
trong nớc đã khẩn thiết đề nghị Chính phủ tiến hành cải cách một số lĩnh vực
kinh tế, trong đó có việc điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên,
những đề nghị cải cách ấy đã không đợc thực hiện và phải đến cuối năm 1996
trở đi khi nguy cơ mất giá của đồng Bạt ngày càng trở nên rõ ràng hơn thì Chính
phủ mới có những động thái cải cách. Rõ ràng đây là cơ hội dành cho giới kinh
doanh và đầu cơ tiền tệ đa ra những dự tính để trục lợi.