LUẬT PHÁP VÀ HIẾN GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRÊN
THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
ThS. Phan Hồng Vân
1
Trên thế giới
Khi việc ghép mô, bộ phận cơ thể (BPCT) trở thành một công cụ điều trị được sử
dụng hiệu quả từ những năm 70, vấn đề thiếu mô, BPCT đã nổi lên như một thách thức
đối với sức khỏe cộng đồng. Cùng với việc phát triển kỹ thuật ghép mô, BPCT người,
hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến khía cạnh pháp lý của vấn đề này. Từng quốc gia
đã ban hành các quy định dựa trên đặc điểm cụ thể của từng vùng, lãnh thổ, tạo cơ sở
pháp lý ban đầu để thúc đẩy công nghệ ghép mô, BPCT phát triển đáp ứng nhu cầu ghép
mô, BPCT ngày càng tăng.
Đa số các Luật đều nêu rõ việc hiến mô, bộ phận cơ thể người để ghép là một
hành động nhân đạo cao cả, không mang tính thương mại và nghiêm cấm việc mua bán
bộ phận cơ thể người. Luật ghép mô, bộ phận cơ thể người của các quốc gia cũng quy
định cụ thể về kỹ thuật như quy trình ghép, điều kiện, chỉ tiêu, chuẩn bị trước và sau khi
ghép; qui trình tổ chức, quản lý việc thu gom mô, BPCT; bảo quản và phân phối mô,
BPCT…
Các qui định pháp lý về nguồn cung cấp các mô, BPCT lấy từ người chết não
trong các bộ luật của các nước đã ban hành đều nằm ở một trong hai hệ thống: hệ thống
suy đoán đồng ý (presumed consent system hay opting-out system) và hệ thống chủ động
đồng ý (express consent system hay opting-in system). Ở những nước qui định theo hệ
thống suy đoán đồng ý, luật pháp coi những người không thể hiện quan điểm đối lập với
việc hiến mô, BPCT khi họ còn sống có nghĩa là họ sẵn sàng hiến mô, BPCT của họ khi
chết. Hệ thống này dựa vào giả định rằng các cá nhân sẵn sàng hiến mô, BPCT của họ.
Còn ở những nước qui định theo hệ thống chủ động đồng ý, trái lại chỉ những bệnh nhân
trước khi chết thể hiện nguyện vọng muốn hiến thì mới được coi là người hiến.[7]
Có sự đồng thuận quốc tế (the International Consensus on Consent) về các yêu
cầu đạo đức cơ bản mà các hệ thống qui định việc hiến mô, BPCT người chết phải thực
tăng nguồn mô, BPCT người cho việc ghép. Biểu đồ 1 chỉ ra các tỉ lệ thu gom năm 2002
ở các nước có hệ thống chủ động đồng ý (màu đậm) và ở các nước có hệ thống suy đoán
đồng ý (màu nhạt). Năm trường hợp thành công nhất đều là những nước có hệ thống suy
đoán đồng ý. Đứng đầu là Tây Ban Nha, một trường hợp điển hình là bằng chứng giả
thuyết hệ thống suy đoán đồng ý hiệu quả hơn với mục đích tăng tỉ lệ thu gom mô, BPCT
cho việc ghép. Hiện nay "mô hình Tây Ban Nha" đã trở thành một từ thông dụng khi
nói về việc này. Nhưng cũng có những hoài nghi khi những nước có tỉ lệ hiến thấp nhất
cũng nằm trong hệ thống suy đoán đồng ý. Theo bài báo đăng trên tạp chí Lancet của một
nhóm tác giả có uy tín thuộc nhiều chuyên ngành[5] có một hệ thống các biến không liên
quan đến pháp lý mà dường như yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ hiến mô, BPCT là các khía
cạnh tổ chức thu gom mô, BPCT, các chính sách giáo dục và truyền thông.
Biểu đồ 1: Số người hiến trên một nghìn dân của các hệ thống
suy đoán đồng ý và chủ động đồng ý.
Nguồn: [10]
Ngay tại Tây Ban Nha là quốc gia thành công nhất trong việc tăng tỉ lệ thu gom
mô, BPCT người cho cấy, ghép và là nước theo hệ thống suy đoán đồng ý cũng không
thừa nhận việc luật pháp ảnh hưởng đến việc tăng tỉ lệ hiến. Những thành công của Tây
Ban Nha không bắt đầu từ khi thông qua luật vào năm 1979; tỉ lệ thu gom mô, BPCT
hiến chỉ bắt đầu tăng có ý nghĩa từ năm 1989[9] là năm mà Tổ chức cấy ghép quốc gia
Tây Ban Nha (ONT) chính thức đi vào hoạt động, bắt đầu điều hành và hỗ trợ mọi hoạt
động liên quan đến việc cấy, ghép mô, BPCT[12]. Từ đó cho đến nay, tỉ lệ người hiến ở
Tây Ban Nha tăng đầy ấn tượng từ 14,3 người hiến trên 1 triệu dân năm 1989 lên đến
33,7 năm 2002.[13]
Như vậy trong giai đoạn hiện nay khó có thể đưa ra kết luận là hệ thống luật pháp
nào đảm bảo cho việc tăng tỉ lệ hiến mô, BPCT tốt hơn.
Tại Việt Nam
Kỹ thuật này cũng đã được ứng dụng thành công ở Việt Nam từ đầu những năm
Các quyền lợi cho người hiến cũng được qui định tại điều 17, chương II. Nếu so sánh với
một số nước trên thế giới như Singapore, Pháp, Nhật Bản, Mỹ, v.v... thì việc qui định các
quyền lợi đối với người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người ở nước ta có nhiều hơn, thể
hiện tính chất nhân đạo và đặc thù của đất nước. Trong khi ở các nước trên, người hiến
luôn trên tinh thần tự nguyện và không có bất kỳ một lợi ích vật chất nào.[4] Chương III
"Qui định về hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và hiến, lấy xác". Luật
của Việt Nam được xây dựng theo hệ thống chủ động đồng ý.
Với sự ra đời của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác, các biện
pháp tổng thể sẽ được áp dụng để phát triển ngành kỹ thuật y học ghép mô, BPCT người
ở Việt Nam và tăng cường nguồn cung cấp mô, BPCT người để cứu sống nhiều người
bệnh hơn nữa. Theo lãnh đạo Bộ Y tế, việc đưa ra khung pháp lý sẽ góp phần thực hiện
được mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam có thể thực hiện được khoảng 1.000 ca ghép
thận; 80 - 100 ca ghép gan; 20 - 30 ca ghép tim và 10 - 15 ca ghép phổi, 2.000 ca ghép
giác mạc. Điều này mang lại nhiều hy vọng cho các bệnh nhân có nhu cầu cấy ghép mô,
bộ phận cơ thể người.
Tuy nhiên, xác lập được hành lang pháp lý, không có nghĩa chúng ta có ngay
nguồn mô, tạng và bộ phận cơ thể người để thực hiện cấy ghép một cách thuận lợi. Thực
tế cho thấy người phương Đông còn rất nặng với quan niệm chết phải toàn thây. Điều này
đã ảnh hưởng, chi phối đến việc tình nguyện tham gia hiến mô tạng mặc dù đa số đều biết
và đồng tình với mục đích cao cả của việc làm này.
Trên thực tế từ khi Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
có hiệu lực thi hành cho đến nay đã hơn một năm trôi qua với nhiều chiến dịch tuyên
truyền vận động người dân hiến mô, bộ phận cơ thể người đặc biệt là giác mạc được thực
hiện nhưng kết quả thu được còn rất khiêm tốn. Khác với các nước đã phát triển khoảng
90% nguồn cung cấp từ bệnh nhân chết não, thì ở Việt Nam nguồn cho tạng chủ yếu vẫn
từ người cho sống cùng huyết thống. Tháng 11/2007 mới có một ca hiến thận tự nguyện
không cùng huyết thống đầu tiên ở Việt Nam là của một sư ông hiến cho một bé trai 15
tuổi. Việc hiến tạng sau khi chết cho cấy ghép cứu người vẫn chưa được đa số người dân
hưởng ứng. Hiến ghép giác mạc có đơn giản hơn về kỹ thuật so với hiến ghép các tạng
như thận, gan, tim nhưng mới chỉ có 40 người đăng ký hiến tặng giác mạc sau khi qua