bài tập lớn luật hình sự - Pdf 28

LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần đã làm cho các quan hệ pháp luật về kinh tế, dân sự, hình sự ngày
càng phong phú, đa dạng. Kinh tế phát triển, một mặt làm cho đời sống nhân dân
được cải thiện, mặt khác nó cũng làm nẩy sinh những mặt trái, đó là sự tha hoá,
biến chất về đạo đức và nhân phẩm của một số bộ phận người, làm phát sinh tệ nạn
xã hội, dẫn đến tình hình chính trị, an ninh và trật tự an toàn xã hội đi theo khuynh
hướng xấu. Tội phạm ngày một gia tăng, tính chất mức độ hành vi phạm tội ngày
càng tinh vi, nhiều thủ đoạn trong đó thì loại tội phạm xâm hại đến quyền sở hữu
chiếm tỉ lệ lớn, xâm phạm trực tiếp đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo
hộ. Nhận thấy vai trò và tầm quan trọng của đề tài trong thực tiễn, với những kiến
thức đã tích luỹ được, em xin trọn đề tài số 3 để giải quyết vấn đề về loại tội phạm
trộm cắp tài sản.
A trộm cắp tài sản của H trị giá 300 triệu đồng. Hành vi của A được quy định tại
điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS. A bị đưa ra xét xử và bị tòa án xử phạt 7 năm tù.
Hỏi:
1. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội
trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS? (1 đ).
2. Tội trộm cắp tài sản là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao? (1
đ).
3. Nếu trong quá trình điều tra xác định được khi thực hiện hành vi trộm cắp tài
sản nói trên A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A có phải chịu TNHS không? Tại
sao? (2 đ).
4. Nếu có đủ căn cứ xác định A chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy
trị giá 300 triệu đồng nói trên thì A có phải chịu TNHS không? Tại sao? (2 đ).
1
5. Giả sử Tòa án căn cứ Điều 47 BLHS xử phạt A 3 năm tù, thì có thể cho A hưởng
án treo được không? Tại sao? (1 đ).
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS
căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS.

c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu
đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến
mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu
đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai
năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng. ”
Như vậy, căn cứ vào khoản 3 điều 8 BLHS và điều 138 BLHS, ta có thể phân
loại tội phạm như sau :
3
- Thứ nhất “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm
nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,
thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm ”. Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội phạm này là ba năm tù,
theo khoản 3 điều 8 thì đây là loại tội phạm ít nghiêm trọng.
- Thứ hai : phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;

Trong tình huống này, tội trộm cắp tài sản đã đảm bảo được những dấu hiệu, điều
kiện về hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả. Về hành vi, ở đây có hành vi
trộm cắp tài sản. Hậu quả xảy ra là gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội, cho người bị
hại. Giữa hành vi và hậu quả, có mối quan hệ ràng buộc, có hành vi trộm cắp tài
sản thì mới có hậu quả gây ra cho xã hội, cụ thể là mất tài sản. Kết luận rằng, tội
trộm cắp tài sản là tội có CTTP vật chất.
3. Nếu trong quá trình điều tra xác định được khi thực hiện hành vi trộm cắp
tài sản nói trên A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A có phải chịu TNHS không?
Tại sao?
Nếu trong quá trình điều tra xác định được khi thực hiện hành vi trộm cắp tài
sản nói trên A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A không phải chịu TNHS.
Điều 13 BLHS quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự :
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm
thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
5
2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào
tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách
nhiệm hình sự.
Như vậy, trường hợp của A đang bị tâm thần khi thực hiện hành vi trộm cắp tài
sản theo đề bài trên vào khoản 1 điều 13 BLHS.
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của
mình và điều khiển được hành vi ấy. Nếu một người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội, nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội
hoặc nhận thức được nhưng không điều khiển được hành vi đó là người không có
năng lực trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại khoản 1 điều 13 bộ luật hình sự, thì tình trạng không có năng

điều kiện khác để thực hiện tội phạm.
Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng,
thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.
Theo đề bài A trộm cắp tài sản trị giá 300 triệu đồng, hành vi của A được quy
định tại điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS, A bị đưa ra xét xử và bị tòa án xử phạt 7
năm tù. Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội phạm này là mười lăm
năm tù, như vậy hành vi của A là loại tội phạm rất nghiêm trọng.
Nếu có đủ căn cứ xác định A chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy
trị giá 300 triệu đồng, thì A có phải chịu TNHS theo điều 17 BLHS.
Luật Hình sự quy định chỉ được xét xử một người chuẩn bị phạm một tội nào đó
khi có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng tội phạm mà họ chuẩn bị thực hiện là tội
phạm do cố ý và là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ nếu thấy có đầy đủ căn cứ chứng minh
rằng họ chuẩn bị thực hiện một tội phạm, nhưng chưa có đủ căn cứ để xác định
7
được tội phạm mà họ định thực hiện là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất
nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, thì ra quyết định trả hồ sơ cho Viện
kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ đó có phải là tội rất nghiêm trọng hoặc tội
đặc biệt nghiêm trọng hay không. Trong trường hợp Viện kiểm sát không điều tra
bổ sung hoặc qua điều tra bổ sung vẫn không làm rõ được nên vẫn giữ nguyên cáo
trạng, thì phải mở phiên toà xét xử theo thủ tục chung; nếu tại phiên toà cũng
không thể xác định được tội phạm mà họ định thực hiện là loại tội phạm nào, thì áp
dụng khoản 2 Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Điều 17 Bộ luật hình sự
năm 1999 tuyên bố bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị
tội phạm mà họ đã bị truy tố.
5. Giả sử Tòa án căn cứ Điều 47 BLHS xử phạt A 3 năm tù, thì có thể cho A
hưởng án treo được không? Tại sao?
Án treo là một biện pháp chấp hành hình phạt tù và được quy định cụ thể và
điều kiện được hưởng án treo tại Bộ luật hình sự số 1999 được sửa đổi, bổ sung
năm 2009 và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2013/NQ-

Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là
những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP
ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp
dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;
đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không
gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội
phạm về tham nhũng.
KẾT BÀI
Đấu tranh, phòng chống tội phạm có ý nghĩa, vai trò lớn trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, giải quyết tốt vấn đề này, làm cho xã hội tốt đẹp, trong
9
sạch, văn minh hơn. Công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này đạt được
những kết quả đáng khen ngợi nhưng vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế. Vì vậy
chúng ta cần nhận thức sâu sắc hơn nữa, giáo dục bản thân, giáo dục cộng đồng,
giúp giảm thiểu, loại trừ tội phạm nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng
ra khỏi xã hội. Trên đây là toàn bộ quan điểm của em để giải quyết vấn đề trên,
kính mong thầy cô trong tổ bộ môn Luật Hình sự xem xét và đưa ra nhận xét để bài
làm của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn !
MỤC LỤC
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Sách, giáo trình
- Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. CAND, Hà Nội, 2006,
2007, 2008.
- Trường Đại học Luật Hà Nội, Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb. CAND, Hà
Nội, 2001.
- Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2012.
- Viện khoa học pháp lí - Bộ tư pháp, Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm
1999, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status