TRUYỆN KỂ VỀ CÁC NHÀ BÁC HỌC - Pdf 28

Gregor Johann Mendel (1822-1884), ông tổ ngành di truyền học
Năm 1865 từ tu viện Brno ( của nước Áo thời đó) thầy tu Gregor Johann
Mendel đã lần đầu tiên phát hiện ra những quy luật của hiện tượng di truyền.
Ngày nay ông được công nhận là cha đẻ của ngành Di truyền học, nhưng
những công trình của ông lúc bấy giờ giới khoa học không mấy chú ý lắm.
Sinh ngày 22-07-1822 tại Heisendorf, một làng nhỏ nước Moravie (Tiệp
Khắc), trong một gia đình nông dân nghèo. Ông thừa hưởng được niềm say
mê làm vườn của bố mẹ. Ngay từ nhỏ ông đã có hứng thú chăm sóc cây cối
trong vườn và ông luôn là một học sinh giỏi. Cậu học trò đặc biệt giỏi này
đã gây sự chú ý của một vị tu sĩ của làng và được ông này cho đi xa tiếp tục
học. Mendel phải vừa làm việc vừa học vì tiền trợ cấp gia đình không đủ
sống. Tốt nghiệp với tấm bằng xuất sắc ở bậc Trung học, Mendel được Nhà thờ chọn đi học về Triết
học. Vì nhà quá nghèo nên năm 21 tuổi ông phải tạm bỏ học. Năm 1840 ông vào viện Triết học
Olomouc để học hai năm dự bị lên đại học. Lúc bấy giờ Mendel phải nhờ nửa số tiền hồi môn của
người chị gái đã trợ cấp cho Mendel tiếp tục đi học. Sau hai năm học, ông chán nản vì thiếu tài
chánh nên cuối cùng ông nghe lời một trong các giáo sư của ông là nhờ cha Napp giới thiệu ông
vào dòng tu để có thể tiếp tục học. Bốn năm sau ông trở thành Linh mục. Từ lúc vô dòng tu, ông hài
lòng vì có đủ điều kiện để nghiên cứu về Khoa học Tự nhiên. Song song với việc học, ông đi dạy
các trường trung học. Nhưng năm 1849 đạo luật bắt các giáo sư phải có ngạch đại học. Nhờ cha
Napp giúp, Mendel được vào Ðại học Vienne năm 1851 để tiếp tục học. Ông được học các môn
Toán, Lý, Hoá, Thực vật học và Động vật học. Năm 1853 ông tốt nghiệp Đại học và lại trở về tu
viện ở quê nhà. Khi trở về Vienne, Mendel lập ra một vườn khảo cứu và bắt đầu những thí
nghiệm về sự lai giống.
Vườn thực nghiệm của Mendel nơi sân của tu viện Brno
Năm 32 tuổi ông được cử làm giáo viên của Trường Cao đẳng thực hành ở Brunn (nay là Brno thuộc
nước Cộng hoà Czech) .
Từ năm 1856 đến năm 1863 ông âm thầm làm những thí nghiệm công phu trên đậu Hòa Lan. Năm
1865 ông trình bày các kết quả thực nghiệm của mình tại Hiệp hội khoa

học tự nhiên Thành phố Brno và một năm sau các kết quả nghiên cứu này được công bố (Versuche
uber Pflanzenhybriden) trên tập san của Hiệp hội và gởi cho những cơ quan khoa học trên thế giới

[01/12/2005 - Sinh học Việt Nam]
Trong một bức thư gửi cho bạn, Charles Darwin (1) đã viết: “ Linnaeus (2)
và Cuvier (3) đều là thần tượng của tôi, theo những cách hiểu khác nhau,
nhưng cả hai người đó đều chỉ là những học trò nhỏ so sánh với ông thầy vĩ
đại Aristoteles”. Hẳn lời nhận xét trên cũng đủ để xác định tầm cỡ và mức giá
trị của Aristoteles, nhà Sinh học thời Cổ đại. Tất nhiên đây chỉ là nhận xét
giới hạn trong phạm vi của Sinh học, còn giá trị đích thực của Aristoteles đã
tỏa sáng trong mọi hoạt động khoa học bởi vì ông thật sự là một nhà bác học
tài năng của mọi thời đại.
Aristoteles ra đời vào mùa hè năm 384 trước Công lịch tại Stagira (thuộc Hy Lạp) trên bán đảo
Chalcidice, nay thuộc làng Stavros, gần vịnh Strymonic, trên vùng Tây Bắc bờ biển Aegea, trong
gia đình ông Nicomachus. Là một thầy thuốc Hy Lạp tài năng thuộc trường phái Asclepiad (theo
truyền thuyết, Asclepiados là vị thần y học), ông Nichomachus còn là bạn đồng thời là y sĩ riêng
3
Aristoteles
của đức vua Amyntas III, tại Pella, thủ đô của Macedonia. Từ nhỏ, Aristoteles vẫn thường đi theo
cha để học hỏi cách băng bó vết thương và nghe giảng giải về các loại cây lá chữa bệnh. Sau khi mồ
côi cha mẹ, nhờ sự giúp đỡ của Proxenus, một người thân của gia đình, cuộc sống của Aristoteles
lặng lẽ trôi qua trong cung điện xa hoa lộng lẫy, những khu vườn đầy hoa lá tuyệt đẹp quanh Hoàng
cung và nhiều thôn dã ở vùng Atarnea. Năm 17 tuổi, chàng thanh niên Aristoteles rời bỏ cuộc sống
vương giả đến Athene theo học Trường Academia (Hàn lâm) dưới sự hướng dẫn của các thầy Plato
và Socrtes, những nhà Triết học nổi danh khắp vùng.
Suốt 20 mươi năm làm việc tại đây, Aristoteles đã có những đóng góp lớn cho trường phái của các
thầy dạy. Ông không chỉ bảo vệ truyền bá những quan điểm Triết học đến khắp nơi trong vùng, say
mê học hỏi, giảng dạy, nghiên cứu đến mức được các thầy và bạn bè gọi là “linh hồn của
Academia”. Chính trong thời gian này, ông đã soạn thảo các tác phẩm về Lôgíc học, Triết học và
những chuyện đối thoại, về sau được tập hợp thành các tác phẩm như “Về linh hồn”, “Về công lý”
Sau khi Plato, người thầy yêu quý, qua đời vào tháng 5 năm 347 trước Công lịch, cùng với
Xenocrates, người bạn đồng học, ông đã rời khỏi ngôi trường thân thương và thành phố Athene.
Xenocrates và Aristoteles là hai con người hoàn toàn trái ngược nhau: chính thầy Plato đã nhận xét:

lùng: Buổi sáng, thầy dẫn học trò vào khu vườn cây nhỏ, vừa đi thầy vừa đặt câu hỏi để học trò thảo
luận. Học trò buộc phải ngắm nhìn quan sát mọi hiện tượng, mọi chi tiết trong thiên nhiên, rồi tất cả
cùng bàn cãi, cuối cùng thầy sẽ giảng giải và kết luận. Chính hình ảnh lạ kỳ, thầy giáo vừa đi vừa
dạy học trò, đã làm người dân ngạc nhiên và đặt tên trường là Peripatos (có nghĩa là “rong chơi”)
Lyceum. Buổi chiều, thầy trò lại họp nhau trong phòng để phẫu tích các động vật và côn trùng.
Thầy luôn nhắc nhở học trò: “Phải quan sát, rồi lại quan sát kỹ hơn nữa, đấy là bước đi đầu tiên của
mọi khoa học ”. Khu trường là nơi tập hợp các trợ lý và học viên dưới sự hướng dẫn của thầy
Aristoteles để hoạt động nghiên cứu Khoa học và Triết học trong tinh thần vừa độc lập suy nghĩ vừa
cộng tác chặt chẽ. Những người cộng sự và học trò thời đó đều ghi nhận thầy Aristoteles là một con
người mảnh khảnh, nét mặt đẹp với đôi mắt hơi nhỏ, nói nhanh nên thường nói nhịu (nói lắp), quần
áo của thầy luôn chững chạc, may bằng loại vải đắt tiền.
Suốt 12 năm liền, hoạt động của Peripatos Lyceum đã đem lại những kết quả to lớn. Thời gian này,
Aristoteles đã viết nhiều tài liệu dùng trong giảng dạy và giúp các học viên có thể đọc, suy ngẫm rồi
thảo luận, do vậy các tài liệu đó thường đầy rẫy những chữ viết tắt, không được giải thích nên thật
khó hiểu cho các dịch giả sau này muốn xuất bản các tác phẩm của ông. Các trợ lý và học trò của
Aristoteles, sau khi đi theo các cuộc chiến chinh của Alexander Đại Đế qua Ba Tư và ấn Độ đã
mang về cho Lyceum rất nhiều tài liệu và mẫu vật quý giá. Nhờ vậy, Aristoteles và trường phái của
ông đã thực hiện được nhiều phát hiện và nhận xét quan trọng đặt nền tảng cho những hiểu biết và
sự phát triển của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là Sinh học và Lịch sử, cho thời đó và cả nhiều thế
kỷ sau. Ông đã nhận được sự cộng tác, hỗ trợ quý giá của Thephrastus (về Thực vật học) và Meno
(về Y học). Phần lớn những công trình nghiên cứu và tác phẩm của Aristoteles đều được thực hiện
tại Lyceum, trong đó có khoảng 158 bài viết về các hệ thống chính trị (được tìm thấy trên các bản
giấy papyrus, vào năm 1890). Trên nhiều lĩnh vực, ông đã tiến xa hơn cả thầy Plato năm xưa. Thời
gian này, Aristoteles đã lập gia đình lần thứ hai với Herpyllis và đôi vợ chồng có một người con trai
tên là Nichomachus.
Năm 323 trước Công lịch, khi Alexander Đại Đế qua đời, những cuộc bạo loạn chống Macedonia
bùng nổ lan rộng khắp Athene và nhiều thành phố khác. Những nhóm cuồng tín kết án Aristoteles
vào tội nghịch đạo và thân Macedonia. Để thoát khỏi kết cục bi thảm như Socrates, ông vội vàng rời
thủ đô đến Chalcis (nay là Khalkis), trên đảo Euboea, vùng eo biển Evripos, ở phía Bắc Athene.
Năm sau (322 TCL), ông qua đời tại đây sau một cơn đau dạ dày bộc phát, hưởng thọ sáu mươi hai

3. Các bàn luận được gộp chung trong tác phẩm “Siêu hình học”, tiêu đề này được ông đặt tên là
“Triết học đầu tiên”. Đây là phần tập hợp các bài giảng của ông viết trong giai đoạn giảng dạy cuối
cùng ở Lyceum tại Athene, với những nội dung đề cập đến trái đất trong mối liên quan với các thiên
thể, khí hậu, các điều kiện sinh tồn.
4. Các tác phẩm về Chính trị và Đạo đức học, trong đó bao gồm cả Thi ca và Tu từ học.
Cùng chung số phận như nhiều tác phẩm của các nhà khoa học viết ở thời kỳ trước Công lịch, nhiều
công trình của Aristoteles đã bị thất lạc, một số có thể do những cộng sự hoặc học trò ghi lại theo
lời giảng dạy của ông. Dẫu sao, qua việc nghiên cứu những tác phẩm còn được lưu trữ, các nhà
khoa học đều khẳng định Aristoteles có những đóng góp to lớn trong công việc định nghĩa rồi phân
loại đủ mọi hiểu biết của con người trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt trong phạm vi Sinh học, có thể coi
Aristoteles là người mở đường cho ngành khoa học này.
Có lẽ người cha vốn la một thầy thuốc giỏi đã ảnh hưởng tác động mạnh đến tâm trí của Aristoteles
từ tuổi ấu thơ nên ông đã sớm có xu hướng tìm hiểu thế giới sinh vật. Đặc điểm nổi trội nhất trong
toàn bộ công trình nghiên cứu Sinh học của ông là khối lượng to lớn những nhận xét phong phú khi
mô tả giới động vật. Trong khối lượng đó, các nhà khoa học của thế kỷ XX vẫn hứng thú vì tìm thấy
những dữ kiện về đời sống động vật, những nguyên nhân tạo ra các hình thái sống, các chức năng
chung của cơ thể và linh hồn.
Trong suốt quá trình nghiên cứu Sinh học, Aristoteles đã phát hiện ra chu trình biến đổi của thiên
nhiên: các sinh thái luôn cố gắng tự thân để hoàn thiện hơn, nhưng các động vật luôn luôn là những
cá thể không vĩnh cửu nên chúng cũng phải tuân theo một chu trình sống và chết, hình thái liên tục
này giống như bản sao chép vòng quay của vật chất. Kết quả đó là hiện tượng đến để tồn tại rồi qua
đi, liên tục và không ngưng nghỉ. Như vậy hình thành và hủy hoại là những bậc thang của mọi
6
giống loài. Người sinh ra người và cây sồi lại tạo ra cây sồi. Quan niệm này có lẽ phần nào đã loại
bỏ mọi quá trình tiến hóa của các loài.
Các nhà khoa học ngày nay cũng nhận thấy Aristoteles luôn nhấn mạnh đến tính liên tục giữa Sinh
học và Vật lý học khi ông đề xuất luận thuyết về bốn yếu tố tự nhiên (không kể đến aether). Các yếu
tố này đều có vị trí trong thiên nhiên: đất ở trung tâm vũ trụ (theo cách hiểu của thời đó), còn nước,
không khí và lửa cũng như chúng ta đều di chuyển bên ngoài. Các yếu tố đó là những thành phần
cấu tạo nên vật thể, giản đơn hoặc phức tạp, chúng đều không vĩnh cửu nhưng có thể chuyển đổi từ

tái tạo giống loài. Rồi đến phần động vật giúp cá thể cảm thụ, ham muốn những thực thể đã gây
cảm xúc di chuyển từ nơi này đến nơi kia như mọi động vật khác. Và cuối cùng là phần đặt con
người vào vị trí cao nhất trong bậc thang các hình thái sống trong thiên nhiên: phần lý trí. Chính
nhờ phần này mà con người đã có khả năng thực hiện được những chức năng tinh tế thật kỳ lạ để trở
thành một sinh thái hoàn toàn khác biệt với mọi hình thái sống. Mỗi một phần thuộc ba phần trên
nhất thiết phải phát triển đầy đủ các khả năng cần có để tự thân hoạt động. Do vậy, phần thực vật
chịu trách nhiệm về các tạng và các chức năng nuôi dưỡng, tăng trưởng và tái tạo; phần động vật
7
chịu trách nhiệm về các tạng và các chức năng cảm nhận di chuyển; còn phần lý trí chịu trách nhiệm
về các khả năng phi vật chất như hoạt động tinh thần, chọn lựa có suy nghĩ và nghị lực thực hành.
Thông qua hoạt động chức năng của linh hồn, các khía cạnh đạo đức và trí tuệ của con người đã
được phát triển, và theo cách hiểu đó, linh hồn tạo cầu nối giữa cơ thể và những đạo đức biểu hiện
qua các hành vi và ứng xử.
Khi bàn về linh hồn cũng như về bốn hoạt động chức năng cơ thể - tăng trưởng, cảm thụ, di chuyển
và suy nghĩ - Aristoteles luôn khẳng định sự khác biệt giữa người và các loài động vật cấp thấp. Các
loài này có phản ứng với những cảm thụ, rồi những cảm thụ ảnh hưởng đến hoạt động trí não và có
thể lưu trữ trong ký ức. Còn con người thì sao? ở đây thể hiện sự khác biệt rõ rệt nhất: Con người có
khả năng xét đoán dựa trên kinh nghiệm và hoạt động xét đoán này biểu hiện quá trình tác động
mạnh của những cảm thụ trên lý trí để định hướng cho sự sống. Khi kết hợp linh hồn con người với
vật thể con người, Aristoteles đã đóng góp ba điểm nổi trội về Tâm lý học cho Lịch sử Khoa học:
1. Loại bỏ rất nhiều điều thần bí liên quan đến linh hồn và các hoạt động tâm linh vốn đầy rẫy trong
khoa học Hy Lạp.
2. Cung cấp một phương pháp nghiên cứu thỏa đáng cho mọi lĩnh vực khoa học và đặt nền tảng cho
tư duy lôgíc qua việc thu thập các dữ kiện nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất.
3. Sáng tạo cách tiếp cận đối chiếu tâm linh - vật thể cho nền khoa học hiện đại.
Aristoteles xác nhận rằng nguồn gốc sâu thẳm của mọi hoạt động ở các hình thái sống chính là sức
nóng mà ông thường gọi là “nhiệt nội sinh” hoặc “thở hít”, đây cũng là “dụng cụ” của linh hồn tác
động bằng cách đẩy và kéo những bộ phận khác nhau của cơ thể nhằm tạo hiệu quả phục vụ cho
những ham muốn của linh hồn. Quan điểm này là nội dung chính của luận thuyết “khí hợp sinh”
(connate pneuma) nổi tiếng của Aristoteles.

vật học suốt nhiều thế kỷ về sau.
Là một nhà bác học toàn năng, Aristoteles đã được tạc tượng ngay lúc sinh thời, có khoảng 14 bức
tựơng bán thân còn được lưu giữ, trong đó tượng đẹp nhất đã sao chép từ nguyên bản được hoàn tất
theo yêu cầu của Alexander Đại Đế và nay được đặt tại Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật ở Vienna, thủ
đô nước Áo.
Baer (1792-1876): Người khai sinh môn phôi học so sánh
[08/11/2005 - Sinh học Việt Nam]
Karl Ernst von Baer ra đời ngày 29/2/1792, trong một gia đình dòng dõi quý tộc
gốc Phổ, tại Piep, thuộc Estonia. Do cậu bé có khá đông anh chị em, tất cả gồm
10 người, nên suốt thời ấu thơ, cậu phải ở với gia đình cô chú. Lúc 7 tuổi, cậu
mới được hưởng sự chăm sóc của bố mẹ. Sau thời gian học tại nhà với một gia
sư, Karl theo học trong 3 năm ở một trường trung học dành riêng cho giới quý
tộc.
Lúc 18 tuổi, chàng thanh niên Karl đến Dorpat (ngày nay có tên gọi là Tartu), một thành phố cảng ở
miền Đông Estonia. Anh theo học tại một trường đại học trong 4 năm và nhận bằng tốt nghiệp năm
1814. Không thoả mãn với những điều đã được học, Karl lên đường qua Đức và đến Wurburg, một
thành phố ở miền Nam nước Đức. Tại đây, Karl theo học thầy Dollinger (một thầy thuốc người Đức)
về môn giải phẫu học so sánh và phôi học. Hai năm 1815 và 1816 là thời gian chàng thanh niên Karl
tiếp thu được nhiều nhất. Năm 1817, theo yêu cầu của thầy dạy cũ là Burdach (nhà giải phẫu học và
sinh lý học, người Đức, chuyên về hệ thần kinh), Karl đến Konigsberg (ngày nay là Kaliningrad
thuộc nước Nga). Và ở nơi này, Karl bắt đầu cuộc đời nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Anh làm
trợ lý phẫu tích cho thầy Burdach đồng thời phụ trách khu bảo tàng động vật vừa mới được thành
lập.
Suốt thời gian 17 năm, từ năm 1817 đến 1834, ở Đại học Konigsberg, Baer nghiên cứu kỹ sự hình
thành của các lá phôi và màng ngoài phôi. Thoạt tiên, ông nghĩ rằng có 4 lá phôi rồi sau đó mới
khẳng định có 3 lá phôi và áp dụng những kết quả này vào tất cả các loài có xương sống: lá phôi
ngoài tạo nên các tạng (hô hấp, tiêu hóa ) còn lá phôi giữa hình thành nên cơ, xương, đặc biệt ở lá
phôi này, về sau ông phát hiện một hình thái mô tả đặc thù của phôi động vật có xương sống: đó là
9
Baer (1792-

Trong bộ sách lớn “Lịch sử phát triển của các động vật” Baer còn giới thiệu một khái niệm hoàn toàn
mới lạ với giới khoa học thời đó, bao gồm bốn định luật:
1. Trong quá trình phát triển, các đặc tính chung xuất hiện trước các đặc tính riêng.
2. Các đặc tính chung xuất hiện trước đặc tính kém chung rồi tiếp đó mới phát triển các đặc tính
riêng.
3. Trong quá trình phát triển, một loài nhất định càng tách xa các động vật thuộc những loài khác.
4. Trong quá trình phát triển, các loài cấp cao đều trải qua những trạng thái phôi gợi nhớ đến phôi
của các động vật cấp thấp.
Dựa trên các định luật do chính ông đề xuất, Baer đã nghiên cứu rất kỹ và mô tả chi tiết sự phát triển
của trứng được thụ tinh: ở mọi loài có xương sống, trứng được thụ tinh, trong giai đoạn rất sớm, đã
có những biến đổi để hình thành nên các lớp mầm, từ đây sẽ biệt hóa dần dần để trở thành các tạng
10
khác nhau của cơ thể.
Ông đã đưa ra “định luật các giai đoạn tương ứng” để xác định quá trình phát triển của các phôi loài
động vật có vú. Ông đã chứng minh sự giống nhau của các giai đoạn phôi ở những giống khác nhau.
Ông viết “Tôi hoàn toàn không thể nói chúng thuộc giống nào. Chúng có thể là thằn lằn, hoặc chim
nhỏ, hoặc là động vật có vú còn rất nhỏ tuổi, vì sự giống nhau là hoàn toàn trong phương thức hình
thành cái đầu và thân thể ở các động vật đó. Các chi vẫn chưa có, nhưng ngay cả khi các chi đã hiện
diện trong giai đoạn sớm nhất của quá trình phát triển, chúng ta cũng không biết được gì, vì tất cả
đều xuất nguồn từ hình thái cơ sở như nhau”. Bộ sách lớn của Baer đã củng cố tính thống nhất của
các động vật. Như thế, tế bào trứng đã thụ tinh của người, hươu cao cổ và cá thu đều không khác
nhau lắm. Chỉ khi phôi đã phát triển, dần dần mới xuất hiện những đặc điểm khác biệt. Những cấu
trúc nhỏ bé nhất của phôi, trong trường hợp này, sẽ chuyển dạng thành cánh hoặc thành tay (chi
trên), ở trường hợp thứ hai sẽ thành chi dưới và ở trường hợp thứ ba lại thành vây (cá). Chính trong
bộ sách lớn của mình, Baer đã nêu những câu hỏi làm thay đổi tư duy khoa học thời đó: “Ở giai đoạn
khởi đầu của quá trình phát triển, chẳng phải là tất cả các động vật đều cơ bản giống nhau ư? Chẳng
phải là đã có một hình thái nguyên thủy chung cho tất cả các loài đó sao?”. Những quan điểm này đã
thúc đẩy những nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thời đó, như T.H. Huxley và Hebert Spencer.
Năm 1834, nhà khoa học Baer 42 tuổi nhận lời mời của Hoàng hậu nước Nga, rời Konigsberg đến
Saint Petersburg. Thời gian đầu, Baer phụ trách phòng tài liệu của Viện Hàn lâm Khoa học Saint

quanh bờ biển nước úc để thực hiện những khảo cứu hải dương học. Suốt 4 năm trời, Brown lang
thang khắp đó đây. Anh mải mê quan sát, ghi chép và thu thập các mẫu cây cỏ mới lạ. Cùng tham
gia những chuyến khảo sát, có Bauer (2). Cũng may mắn cho Brown là dịp học hỏi ở khu vườn mẫu
của ngài Banks, anh đã có đầy đủ kiến thức thực vật học. Sau này Ferdinand Bauer đã vẽ minh họa
thật đẹp bộ sưu tập.
Ngày 13/10/1805, anh trở lại nước Anh và bắt tay ngay vào công việc sắp xếp phân loại bộ sưu tập
gồm khoảng 3900 loài. Sau 5 năm nghiên cứu, tìm đọc các tài liệu rồi so sánh các mẫu vật, cuốn
sách “Thảm thực vật ở Tân Hà Lan” (1810) ra đời gây ngạc nhiên cho giới khoa học vì tài quan sát
tinh tường và văn phong rành mạch của nhà thực vật học Brown vừa tròn 38 tuổi. Do ở thời đó,
người ta chưa chú ý nhiều đến các cây cỏ, nên mặc dù những ghi chép từ nước úc rất phong phú,
ông cũng chỉ cho xuất bản một tập. Sau khi đọc cuốn sách, thêm một lần nữa, ngài Banks phát hiện
tài năng của Brown nên đã mời nhà khoa học trẻ tuổi đến phụ trách khu vườn mẫu và cả thư viện
quý giá của ngài, sau này ngài Banks đã ghi trong di chúc cho phép Brown toàn quyền sử dụng khu
vườn mẫu và thư viện riêng của ngài. Từ năm 1825, liên tục suốt trong gần mười năm, các tác phẩm
của Brown được xuất bản bằng tiếng Đức.
Năm 1827, Brown được mời đến làm việc ở Viện Bảo tàng Anh, đồng thời phụ trách khoa thực vật
vừa mới được thành lập và mang tên Banks, lúc này ông đã 54 tuổi. Năm sau, giới khoa học lại ngạc
nhiên khi đọc cuốn sách “Những nhận xét vi thể (1827) của Brown, trong đó, tác giả ghi nhận đã
quan sát thấy những mảnh nhỏ chuyển động ở bên trong những hạt phấn hoa sống của giống Clarkia
pulchella. Sau đó, khi tiếp tục quan sát thêm nhiều hạt phấn hoa cả sống lẫn chết của nhiều loại cây
khác nhau, lần nào Brown cũng nhận thấy có hiện tượng chuyển động những mảnh nhỏ của chất
dịch (về sau mới biết là dịch dạng keo). Sau phát hiện của Brown, nhiều nhà khoa học cũng nghiên
cứu và đều xác nhận đúng như vậy. Hiện tượng này, về sau được gọi là chuyển động Brown. Trong
suốt quá trình nghiên cứu và phân loại các cây cỏ, Brown không chỉ thể hiện tài năng mô tả, quan sát
tinh tế mà còn biểu hiện rõ thái độ thận trọng, trung thực. Một lần sưu tập được một loại hoa rất đẹp,
có đường kính tới 1m, khi khảo cứu tài liệu, ông biết rằng loại này, trước đây đã được một nhà khoa
học trẻ tuổi tên là Arnold ghi nhận lần đầu tiên ở đảo Sumatra, thuộc Indonesia, cùng với một người
bạn tên là Raflord. Vì vậy, trong bảng phân loại, ông đã đặt tên loài hoa đó là Rafloleza arnoldi.
Năm 1831, trong khi đang tiến hành những thử nghiệm với hai giống Orchidacea và Asclepiadaceae,
với tài năng quan sát tinh tế vốn có, Brown lại ghi nhận và mô tả một hình thái đặc biệt, hiện diện

13
Georges
Cuvier
(1769-1832)
sách mô tả những thú vật, chim muông. Rồi cậu bé cùng những bạn nhỏ đồng trang lứa thành lập ‘Nhóm
sưu tập thiên nhiên’ đi về các vùng ngoại vi đồng quê để thu nhặt các mẫu động vật, cây cỏ. Năm mười
lăm tuổi, Georges được gia đình gửi đến học tại Viện Hàn lâm Caroline (Karlsschule), ở Stuttgart với
những bảo tàng cổ xưa và một viện trường danh tiếng.
Sau 4 năm miệt mài học phẫu tích các động vật và tìm hiểu giải phẫu học, chàng thanh niên Georges 19
tuổi rời nước Đức, trở lại vùng Normandie, đến thành phố cảng Fécamp, ở miền Bắc nước Pháp, bên bờ
biển Manche. Tại đây giữa tháng 7/1789, đúng vào lúc nhân dân lao động thủ đô Paris sôi sục trong bầu
không khí rực lửa đấu tranh, phá vỡ nhà ngục Bastill, lật đổ vương quyền thì Georges làm gia sư dạy dỗ
đứa con trai duy nhất của gia đình bá tước Héricy. Chàng vui mừng khi được phép nghiên cứu các loài
động vật biển thân mềm và không xương sống. Chiều tối và suốt đêm khuya, Georges mải mê phẫu tích,
quan sát rồi ghi chép những hình thái của nhiều dạng động vật biển. Anh cũng tham gia câu lạc bộ Khoa
học Biển của thành phố. Một lần, sau buổi báo cáo, Georges có dịp làm quen với A.H.Tessier, một bác
sỹ trong quân đội, đồng thời là một nhà nghiên cứu nông học. Ông thầy thuốc rất ngạc nhiên về khả
năng quan sát tinh tường cũng như trình độ hiểu biết của chàng thanh niên trẻ tuổi. Sau nhiều lần đọc
các bản ghi chép của Georges, ông hứa sẽ giúp gửi những nhận xét khoa học đó tới những người bạn ở
Viện Bảo tàng Khoa học Tự nhiên tại Paris. Một buổi sáng, Georges vừa ngạc nhiên vừa vui mừng khi
nhận được một bức thư gửi từ Paris có ký tên Geoffroy Saint Hilaire. Anh vội vã tìm ông bác sỹ để đưa
bức thư.
- Geoffroy là bạn tôi, hiện nay là giáo sư của Viện Bảo tàng lich sử Tự nhiên ở Paris, chuyên nghiên cứu
giải phẫu học so sánh và động vật học Ông thầy thuốc vui vẻ cho biết.
- Trong thư, vị giáo sư có ý mời tôi đến làm việc ở đó - Georges ngập ngừng hỏi thêm - Tôi muốn xin ý
kiến của ông.
- Đây là một dịp may để anh có điều kiện học hỏi và phát triển thêm. Tôi nghĩ là anh nên nhận lời.
Georges vội vã lên đường đi Paris và đây là chặng đường quyết định cho sự nghiệp khoa học của chàng
trai hai mươi sáu tuổi. Nhờ sự giúp đỡ của GS. Saint Hilaire, Georges được nhận làm trợ lý ở viện bảo
tàng. Từ đây bắt đầu sự cộng tác mật thiết giữa hai nhà khoa học trẻ tuổi và ít lâu sau đã ra đời một công

nước Pháp mà còn đề cập tới toàn cảnh châu Âu. Năm sau, ông được phong chức ‘hiệp sỹ’ để tưởng
thưởng cho những công lao đóng góp to lớn. Lúc này Cuvier bốn mươi hai tuổi.
Năm 1812 ra đời tập công trình ‘Những nghiên cứu về xương hóa thạch của loài động vật bốn chân’.
Cuvier nhận thấy những khảo sát về xương hóa thạch kết hợp với những nghiên cứu giải phẫu học so
sánh giúp ông biết rõ mối tương quan giữa các bộ phận của cơ thể sinh vật. Nhờ đó, ông hiểu đầy đủ về
hình dạng các loại xương khác nhau, về kiểu nối gắn các cơ bắp với xương rồi sau đó, có thể hình dung
toàn bộ cơ thể một sinh vật mà chỉ cần dựa vào một cái xương nhỏ riêng biệt. Ông đã tái tạo lại những
bộ xương hoàn chỉnh của nhiều động vật bốn chân đã hóa thạch. Điều này chứng minh rõ rệt rằng nhiều
loại động vật đã hoàn toàn bị tuyệt chủng. Trong quá trình nghiên cứu các hóa thạch, Cuvier phát hiện
rằng, ở những lớp địa tầng rất sâu, những mảnh động vật tồn dư như kỳ nhông khổng lồ, rắn bay (mà
ông đặt tên là pterodactyl), voi tuyệt chủng đều khác biệt rất nhiều so với các động vật hiện thời. Cũng
vậy, sự hiện hiện của các động vật khổng lồ ở các núi cao và của các động vật nhỏ bé ở đồng bằng buộc
Cuvier phải suy nghĩ, để cuối cùng đưa việc nghiên cứu các hóa thạch vào trong phương pháp phân loại
các động vật. Cuvier đã ghi nhận: ‘ những mảnh xương rời rạc, hiện diện rải rác đó đây, thường gãy vỡ
và đôi khi chỉ là những mảnh vụn, đó là những gì mà các lớp địa tầng lưu lại, đó cũng là nguồn nghiên
cứu duy nhất của các nhà cổ sinh vật học ’. Nhưng cũng chín từ những mảnh vụn này đã làm nên danh
tiếng của Cuvier. Ông là người khởi đầu nghệ thuật tái tạo lại toàn bộ một con vật chỉ từ một mẩu xương
của nó và là một trong số những người mở đường cho ngành giải phẫu học so sánh. Cuvier đã nêu rõ
một nguyên tắc:’ mỗi bộ phận trong cơ thể động vật đều tuỳ thuộc một bộ phận khác và tất cả cơ thể
cũng tuỳ thuộc vào một bộ phận riêng biệt ’ Dựa trên nguyên tắc này, ông đã mô tả tái tạo lại gần bồn
mươi loài thú lớn đã bị tuyệt chủng.
Năm 1814, Cuvier được cử giữ chức vụ Cố vấn Quốc gia nhưng ông vẫn dành tâm trí sức lực cho những
nghiên cứu khoa học. Năm 1817, ra đời bộ sách ‘Lịch sử và giải phẫu học các động vật thân mềm’ và bộ
’Giới động vật xếp theo cấu trúc tổ chức’ gồm 4 tập. Ngay tựa đề của bộ sách ‘xếp theo cấu trúc’ đã
mang ý nghĩa của một thành phần mới trong việc hệ thống hóa và phân loại. Những công trình này,
chứng tỏ Cuvier đã nghiên cứu cấu tạo của những động vật khác nhau, ghi nhận những đặc điểm giống
nhau và khác biệt nhau để so sánh rồi xếp loại chúng. Vào đầu thế 19, quan điểm phổ biến trong giới
khoa học là các loài xếp chung trên một đường đơn độc, liên tục, không hề có đứt quãng, còn Cuvier lại
quan niêm rằng giới động vật không tạo thành chỉ một hàng mà có nhiều hàng khác nhau. Quan điểm
của Cuvier là những đặc điểm giải phẫu đều rất rõ rệt và cho phép phân biệt các nhóm động vật. Những

của Trái đất. Do uy tín của Cuvier nên về sau vẫn có nhiều nhà khoa học tin vào luận thuyết tai biến,
thậm chí có người còn tính toán rằng trên trái đất từ trước đến nay đã xảy ra 27 lần tai biến như thế.
Nhưng quan điểm này không giải thích được sự khác biệt và cả những đặc điểm giống nhau của các hóa
thạch trong các địa tầng. Quan điểm về những tai biến trên trái đất cũng phủ nhận luôn quá trình tiến
hóa của các loài.
Năm 1826, Cuvier được tặng thưởng huân chượng Bắc đẩu bội tinh. Sau gần ba mươi năm miệt mài
nghiên cứu các loài cá (với sự cộng tác của A.Valenciennes), liên tục trong bốn năm (1828-1831) ông
lần lượt cho ra đời các tập của bộ sách ‘Lịch sử tự nhiên các loài cá’ trong đó có liệt kê và mô tả gần
5000 loài cá. Cũng thời gian này, bộ sách ‘Giới động vật’ gồm 5 tập được xuất bản lần thứ hai. Giống
như trong lần xuất bản trước, Cuvier đã xóa bỏ cách phân chia hệ động vật theo kiểu cổ xưa, nghĩa là
theo hình dạng bên ngoài. Ông phân loại theo cấu trúc bên trong và ghi nhận mối liên quan tương hỗ
giữa các bộ phận của cơ thể. Cấu trúc giải phẫu học của mỗi bộ phận (tạng) đều có liên quan về chức
năng với tất cả các bộ phận khác trong cơ thể của động vật. Hơn nữa, những đặc điểm cấu trúc và chức
năng của các bộ phận là kết quả của mối tác động tương hỗ với môi trường.
Những mẩu chuyện về tài năng quan sát cũng như tầm hiểu biết sâu rộng của Cuvier về cổ động vật học
16
luôn được lan truyền trong các nhà khoa học trẻ ở Viện Hàn lâm. Họ kể rằng trong một cuộc đào bới
vùng thạch cao Montmartre, những người khảo sát đã trình cho Cuvier những chiếc răng động vật. Nhận
thấy mẫu hóa thạch này rất giống bộ phận của loài Sarigue (thú túi đuôi quấn), ông ra lệnh đào bới rộng
khu vực chung quanh, quả nhiên về sau đã phát hiện nhiều mảnh xương của con Didelphes (động vật
thuộc bộ có túi). Một lần khác, sau khi theo dõi cuộc đào bới khảo cổ ở vùng Montmartre, thuộc ngoại
vi Bắc Paris, một cậu sinh viên đã mang đến cho thầy Cuvier, lúc đó mới là giáo sư trẻ, những chiếc
răng cổ xưa. Chỉ lát sau, Cuvier lấy một tờ giấy trắng và cầm bút chì phác thảo trên giấy hình một con
vật kỳ lạ, nửa ngựa, nửa voi. Cuvier đặt tên cho con vật đó là ngựa vòi cổ xưa. Cậu sinh viên ngắm nhìn
tờ giấy, vừa khâm phục thầy vừa băn khoăn suy nghĩ: thật khó có con vật nào lại kỳ lạ như thế. Năm
tháng trôi qua, người ta đã quên câu chuyện ngựa vòi cổ xưa và chiếc răng còn sót lại. Bỗng một hôm,
các người thợ đào bới được ở trong hang thạch cao vùng Virty một bộ xương toàn vẹn của một con vật
kỳ lạ dạng ngưạ có vòi. Nhóm khảo sát vội vã mang về viện bảo tàng Paris và lục lại đống hồ sơ cũa của
Cuvier. Thật tài tình: bức phác thảo năm xưa chính là hình dạng bộ xương con vật vừa đào bới được.
Giới khoa học cũng lưu truyền một câu chuyện khác chứng tỏ Cuvier hiểu biết sâu sắc mối liên quan

17
Công khanh và xếp ông vào hàng quý tộc rồi cử ông làm Chủ tịch hội đồng Quốc gia.
Giữa tháng 5 năm 1832, một vụ dịch tả khủng khiếp lan khắp thủ đô Paris, hơn hai mươi nghìn người
chết ngay trong những ngày đầu tiên, trong đó có giáo sư Georges Cuvier, vị uỷ viên Hội đồng Nhà
nước dưới thời Hoàng đế Napoléon, vị Nam tước dưới thời vua Louis XIII và công khanh của nước
Pháp ở triều vua Louis Philippe dòng Bourbon Orléans. Cuộc đời dài sáu mươi ba năm đã đột ngột
chấm dứt cùng với quyền uy thống trị trong ngành sinh học.
Darwin có xứng đáng được kỷ niệm không?
[16/04/2005 - Sinh học Việt Nam]
Là cha đẻ thuyết tiến hóa, Darwin đã "tước đoạt" quyền năng tạo
ra loài người của Chúa trời, và chỉ ra mối liên hệ họ hàng giữa
người và động vật. Kẻ ngưỡng mộ coi Darwin như thánh nhân,
nhưng không thiếu kẻ xem ông như ma quỷ. Đến nay vẫn chưa có
một ngày kỷ niệm quốc tế cho Darwin.
Tuy vậy, nhiều nhà khoa học đang vận động một ngày kỷ niệm quốc tế cho Darwin: 12/2, ngày sinh
của nhà khoa học, tác giả của thuyết tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên. "Bên cạnh Shakespeare và
Newton, Darwin là đóng góp lớn nhất của dân tộc chúng ta cho nhân loại", ông Richard Dawkins,
18
Darwin (1809-1882)
Chủ tịch danh dự của Hiệp hội Ngày Darwin ở Anh, nói.
Cuộc vận động tìm một ngày kỷ niệm Darwin bắt đầu cách đây hai năm ở Mỹ, do những thành viên
chủ trương chống lại những tín đồ của chủ nghĩa Thiên chúa thuần túy khởi xướng. Cuộc vận động sẽ
gồm nhiều khóa học, bài giảng, các buổi chiếu phim về cuộc đời và sự nghiệp của Darwin, và tất
nhiên, về thuyết tiến hóa.
Nếu phong trào thành công, Darwin có thể sẽ được kỷ niệm chính thức vào ngày 12/2/2009. Thuyết
tiến hóa
Charles Darwin xuất thân trong một gia đình có truyền thống Thiên chúa giáo. Tuổi trẻ, ông là người
ngoan đạo. Ông từng tin rằng tất cả là do Chúa sắp đặt, và chỉ có Chúa mới tạo ra những điều kỳ diệu
như vậy trên mặt đất. Tuy nhiên, sau khi đã đi khắp nơi trên thế giới, sau nhiều năm quan sát và
nghiền ngẫm, ông rút ra kết luận, sự phát triển của các loài trên mặt đất là kết quả của quá trình lựa

Như vậy, có một "cái gì đó" được chuyển từ một tế bào này sang một tế bào khác theo một cơ chế
cực kỳ chính xác. "Cái gì đó" chỉ có thể là những "mệnh lệnh" di truyền chi phối hoạt động của tế
bào.
Năm 1900, các định luật của Mendel và báo cáo của ông được các nhà sinh học các nước Hà Lan,
Đức, Áo hầu như phát hiện lại đồng thời. Người ta thấy rằng nhiễm sắc thể là cơ sở vật chất của tính
di truyền.
Năm 1903, nhà sinh học Mỹ Sutton cho rằng, các "nhân tố di truyền" mà Mendel gọi là các "gen"
nằm trong các nhiễm sắc thể và nhân tế bào có một vai trò quan trọng trong sự di truyền.
Từ năm 1920 đến 1930, nhà phôi học Mỹ Thomas Hunt Morgan và nhiều nhà nghiên cứu khác đã
phát hiện ra các ngoại lệ đối với quy luật di truyền của Mendel và thấy rằng, các gen không phải là
những thực thể tách rời hoàn toàn mà gắn bó với nhau trong các nhiễm sắc thể, mỗi nhiễm sắc thể
chứa rất nhiều gen và là cơ sở của hiện tượng di truyền liên kết. Bản đồ gen chi tiết ở 4 cặp nhiễm
sắc thể của ruồi dấm đã được biết đến năm 1925, từ đó được áp dụng cho nhiều sinh vật khác, kể cả
loại đậu thí nghiệm của Mendel. Năm 1930, thuyết nhiễm sắc thể về tính di truyền được xây dựng
vững chắc.
Vào thời Morgan, người ta cũng đã biết đến sự tồn tại của những biến dị gọi là đột biến và cùng với
thuộc tính di truyền, các gen có thể trải qua những biến đổi ngẫu nhiên và những biến đổi này di
truyền được. Năm 1926, Muller - một trong những cộng sự của Morgan đã chứng minh rằng tia X có
thể làm tăng tần số biến đổi này, từ đó người ta có thể gây biến dị bằng các tác nhân vật lý và hoá
học.
Từ năm 1940 và sau đó, Beadle và Tatum (Mỹ) đã chứng minh rằng các gen điều khiển hóa học tế
bào qua điều khiển sản xuất các enzim, mỗi gen tương ứng với sự hình thành một enzim riêng theo
nguyên tắc một đối một.
Năm 1944, Oswald Avery cùng với hai cộng sự là Mc Leod và Mc Carty (Mỹ) đã tìm ra chất cấu
tạo nên các gen là axit deoxyribonucleic (ADN).
Năm 1953, bộ ba Watson, Crick và Wilkins phát hiện ra cấu trúc xoắn kép của ADN và cơ chế tự
tái sinh của nó.
Từ năm 1955 đến 1960, Fraenkel Conrad và Schramm phát hiện ra axit ribonucleic (ARN) và vào
đầu những năm 60, người ta đã làm rõ mối quan hệ giữa các gen và protein. Từ năm 1961 đến 1963,
một tiến bộ đáng kể đã đạt được là sự giải mã di truyền. Nhiều nhà khoa học thời kỳ này đã lập được

Craig Venter ở Viện Biological Energy Alternatives, Rockville, Maryland cho biết họ chỉ cần 3 tuần
để "lắp ráp" một virut nhiễm vào vi khuẩn. Đồng thời, các tế bào vi khuẩn đang được "lắp lại" để
thực hiện các chức năng mà chúng không đạt được trong tự nhiên. Ai biết rằng người ta có thể tổng
hợp những sinh vật cao hơn trong tương lai?
Nếu như cách đây 30 năm, những lo lắng về công nghệ ADN có thể gây ra các rủi ro cho sức
khỏe của con người và môi trường đã dẫn tới Hội nghị Asilomar ở California để bàn về các biện
pháp an toàn nhằm phòng ngừa sự lạm dụng các kỹ thuật mới, thì chắc sẽ phải có một Asilomar thứ
hai để thảo luận cách tránh rủi ro trong lĩnh vực sinh học tổng hợp. Một hội nghị quốc tế đầu tiên đã
được tổ chức ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) tháng 6.2004 nhưng chưa đưa ra được các
biện pháp n
Gesner (1516 -1665): Nhà động vật học và thực vật học lỗi lạc
[24/05/2005 - Sinh học Việt Nam]
Zurich là thành phố lớn nhất của Thụy Sĩ, nằm dưới chân dãy núi Alpes, bên một hồ
nhỏ, cách biên giới nước Đức chừng ba mươi cây số về phía Nam. Chính nơi đây,
ngày 26 tháng 3 năm 1516, Konrad von Gesner đã ra đời. Có lẽ nghề nghiệp của
cha, nghề buôn bán da lông thú luôn gắn với những động vật nên từ nhỏ cậu bé
Konrad đã có cơ hội quan sát say mê các loài thú? Nhận thấy con trai sớm biểu lộ tài
quan sát khác thường nên ông bố đã gửi cậu đến ở nhà người bác, vốn là người
chuyên trồng các loại dược thảo.
21
Gesner (1516
- 1665)
Ngoài những giờ đến lớp, Konrad đã có dịp theo ông bác đi đây đi đó để kiếm tìm các loại cây lá, có
lẽ vì vậy mà tình yêu thiên nhiên hoa trái đã sớm định hình trong tâm trí cậu thiếu niên ham học hỏi.
Ở trường cậu Konrad cũng được các thầy dạy yêu thương quý mến vì tính nết chăm chỉ, đầu óc
thông minh khác thường: chỉ sau hai năm đến lớp, cậu đã đọc được nhiều tập sách của các tác giả La
Mã và Hy Lạp.
Cha của ông là một tín đồ theo nhà cải cách tôn giáo Ulrich Zwingler (1484-1531), ở Zurich, và đã
bị tử thương trong một trận chiến với những người Thiên Chúa giáo, nên cậu thiếu niên Konrad mồ
côi cha lúc vừa tròn mười lăm tuổi. Nhưng Konrad thật may mắn là có ba ông thầy đã tận tình giúp

gồm 20 tập. Đây là một bảng liệt kê (bằng tiếng La tinh, Hy Lạp và Do Thái), khoảng 1.800 tác giả
cổ xưa được sắp xếp theo thứ tự chữ cái, kèm tiêu đề các công trình nghiên cứu, những trích dẫn,
bàn luận về những đóng góp của mỗi tác giả. Năm 1584 là năm kết thúc bộ sách với 19 tập, đáng
22
tiếc là tập 20 gồm phần y học không bao giờ được hoàn tất. Sau đó bộ sách được bổ sung thêm
(1549) tập 21, đây là một tài liệu bách khoa về Thần học.
Ngay sau khi kết thúc bộ sách lớn, Gesner lại bắt tay vào công việc biên soạn bộ “Lịch sử động vật”
gồm 5 tập, (1551-1587). Có thể coi đây là công trình tham khảo chủ yếu về Động vật học của thế kỷ
XVI, trong đó các động vật được xếp loại theo thứ tự chữ cái, với mục đích sửa chữa những hiểu
biết sai lầm thời đó cũng như loại bỏ những huyền thoại. Đối với mỗi con vật, ông dành 8 phần bàn
luận, bao gồm: tên gọi (theo nhiều ngôn ngữ khác nhau), hình thái ngoài và sự phân bố theo địa dư,
cách ứng xử của con vật theo môi trường sống kèm bệnh tật, bản chất và các bản năng, những lợi ích
của con vật (trong chăn nuôi, săn bắn), thức ăn, những vị thuốc xuất xứ từ con vật và cuối cùng,
phần 8 luận bàn về triết học, văn học cũng như những kiểu cách ví von dân dã liên quan đến con vật
(thí dụ như “ứng xử kiểu bò mộng”, “suy nghĩ như đầu bò”…). Tuy nhiên, cách phân loại đôi khi
hơi tùy tiện: các động vật có vú được phân chia thành hai nhóm: hoang dã và gia súc, nhóm thứ hai
này lại được chia nhỏ thành những động vật tập quần, có sừng (trâu…) hoặc không có sừng (ngựa,
heo, chó và cả mèo). Tập đầu tiên dày 1.100 trang, đề cập đến các loài bốn chân đẻ con, kèm nhiều
hình vẽ tuyệt đẹp được xuất bản năm 1551 (Zurich). Liên tiếp trong ba năm sau đó, ra đời ba tập bàn
về các động vật bốn chân đẻ trứng (1554), về chim (1555) (ông là người đầu tiên mô tả chim bạch
yến), về cá cùng với các động vật khác sống dưới nước (1556). Cho tới hai mươi năm sau khi
Gesner qua đời, mới xuất bản thêm tập thứ 5 (cũng là tập cuối cùng) viết về rắn (1587). Bộ sách vĩ
đại này gồm tổng cộng bốn nghìn năm trăm trang, một nghìn bản khắc gỗ kèm trích dẫn hai trăm
năm mươi tác giả nổi tiếng. Bốn tập đầu bộ sách (về sau được dịch sang tiếng Đức, Zurich, 1563) trở
thành tài liệu tham khảo chủ yếu của ngành Động vật học hiện đại. Gesner đã viết bộ sách với văn
phong rất trau chuốt và dành riêng 176 trang cỡ lớn để mô tả ngựa, 40 trang về cừu và 30 trang về
voi, kèm nhiều hình vẽ thật đẹp khắc trên gỗ. Ông quan niệm những kiến thức về Động vật học rất
cần thiết đối với tất cả mọi người, từ thầy thuốc, thợ săn đến người nấu bếp; và việc nghiên cứu tìm
hiểu đời sống động vật, ong, kiến cũng làm cho đời sống con người thêm phong phú. Tuy nhiên, ông
không chú ý mô tả thật khoa học các hình thái bên ngoài. Do vậy, những động vật sống ở châu Âu

De Saussure ở thế kỷ XVIII) và khơi nguồn cho ngành Địa chất học núi cao.
Được phong tước quý tộc lúc bốn mươi tám tuổi, Gesner là một thầy thuốc, một nhà Động vật học,
Thực vật học, giáo sư tiếng Hy Lạp, một nhà nghiên cứu Từ điển học đầy tài năng. Nhưng suốt
nhiều năm tháng cuối đời, ông sống trong cảnh nghèo túng, bệnh tật, đôi mắt cận thị từ xưa lại thêm
mệt mỏi sau những tháng ngày miệt mài nghiên cứu, việc đọc sách đã làm ông luôn bị rối loạn thị
lực.
Khi bệnh dịch hạch bùng nổ tràn lan khắp Zurich, trên cương vị một thầy thuốc, ông đã chữa trị cho
rất nhiều người bệnh tại thành phố quê hương nhưng cuối cùng chính căn bệnh này lại bùng phát ở
Basel ngày 13 tháng 12 năm 1565, đã cướp đi sinh mạng của nhà khoa học lỗi lạc Gesner, lúc đó
ông mới tròn bốn mươi chín tuổi.
Gần hai thế kỷ sau khi ông qua đời, bộ sách “Thực vật học” (1753-1759) mới được xuất bản nhưng
cũng làm giới khoa học châu Âu kinh ngạc về tài năng ghi chép, quan sát của ông, đồng thời khẳng
định Gesner là một nhà Thực vật học lỗi lạc trong công việc phân loại cây cỏ. Với tài năng xuất
chúng và những đóng góp to lớn cho khoa học, Gesner đã được Cuvier (1769-1832, nhà Động vật
học, người Pháp) tôn vinh là “Plinius của Thuỵ Sĩ”.
Robert Hooke (1635-1703): Người phát hiện ra tế bào
[08/11/2005 - Sinh học Việt Nam]
Năm 1665, tại nước Anh, một cuốn sách ra đời với nhan đề ‘Hình ảnh vi thể’
(Micrographia) gây xôn xao bàn tán trong giới khoa học ở Anh và châu Âu. Cuốn
sách chứa đựng những khám phá cơ bản trong sinh học, gồm 60 hình lớn do
chính tay tác giả vẽ, trong đó có hình một con rận phóng đại tới vài chục centimet
chiều dài, một con chấy thật to chiếm cả một trang sách, con mắt phức tạp của
ruồi, cấu trúc tỉ mỉ của lông chim, quá trình chuyển dạng của ruồi, tất cả với đầy
đủ chi tiết. Tác giả cuốn sách là Robert Hooke, một nhà thực vật học người Anh,
lúc đó 30 tuổi.
Robert Hooke sinh ngày 18 tháng 7 năm 1935 tại một làng quê đảo Wright, gần bờ biển phía Nam
nước Anh, trong gia đình một mục sư Tin lành. Thời niên thiếu, cậu bé thường ốm yếu nhưng rất
24
Robert
Hooke

đúng là 1.666.400) tế bào trên mảnh diện tích bần 6,5cm2, một con số khổng lồ khó tin được”. Sau
đó, Hooke quyết định nghiên cứu thêm qua kính hiển vi dạng cấu trúc nhỏ bé mà ông vừa mới phát
hiện.
Đúng vào lúc cuốn sách “Hình ảnh vi thể” của ông ra đời, năm 1665, Hooke trình bày trước Hội
Hoàng gia Anh những kết quả quan sát trong bản tường trình “Cấu trúc của bần qua thấu kính phóng
đại”. Năm sau, ông được bầu làm Uỷ viên kiêm Thư ký Hội Hoàng gia và ở cương vị này suốt 15
năm. Năm 36 tuổi, ông tiến hành thử nghiệm ngay trên bản thân về ảnh hưởng của môi trường áp
suất thấp: ông ngồi trong một căn buồng nhỏ và chịu đựng một áp suất rất thấp (chỉ bằng 1/4 áp suất
bình thường) và ghi nhận các triệu chứng bản thân ông đã cảm thụ được như: nhức đầu, đau tai đến
mức gần điếc đặc v.v Ông còn làm nhiều thử nghiệm về ghép da, hô hấp nhân tạo, truyền máu
Hooke là một con người say mê khoa học, từ sáng sớm trong phòng thí nghiệm đã thấy bóng dáng
ông: nhỏ bé, thấp gầy, dáng đi hơi khom lưng, nét mặt không đẹp lắm vì miệng hơi rộng và cằm quá
nhọn. Ông giản dị và rộng lượng: suốt những năm làm việc tại Hội Hoàng gia và trường đại học, ông
không hề phàn nàn về lương bổng. Tính nết ông thẳng thắn cương trực đến mức dễ nóng nảy, va
chạm với đồng nghiệp (về sau người ta mới biết đó là do tình trạng ốm yếu từ lúc còn nhỏ làm ông
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status